BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ PHAN LÊ CÔNG NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI PHƯỜNG T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
PHAN LÊ CÔNG
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA CÁC BÀ MẸ
CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI PHƯỜNG THỚI AN ĐÔNG, QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
CẦN THƠ – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
PHAN LÊ CÔNG
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA CÁC BÀ MẸ
CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI TẠI PHƯỜNG THỚI AN ĐÔNG, QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2017
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGs Ts LÊ THÀNH TÀI
CẦN THƠ – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y dược Cần Thơ đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập
và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thành Tài, người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tại nhà trường
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo phường Thới An Đông đã nhiệt tình tham gia giúp đỡ tôi thu thập số liệu điều tra thực hiện đề tài
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các bà mẹ đã đồng ý tham gia công trình nghiên cứu này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc
Cần Thơ, ngày tháng năm 2018
Người thực hiện luận văn
Phan Lê Công
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào
Người thực hiện luận văn
Phan Lê Công
Trang 5MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược về bệnh tay chân miệng 3
1.2 Tình hình bệnh tay chân miệng 7
1.3 Phòng bệnh tay chân miệng 13
1.4 Các nghiên cứu về bệnh tay chân miệng 15
1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 19
Chương 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 31
Chương 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Kiến thức, thực hành đúng về phòng bệnh tay chân miệng 34
3.3 Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành và một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu trong phòng bệnh tay chân miệng 38
Trang 6KẾT LUẬN 59 KIẾN NGHỊ 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: BỘ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TCM Tay chân miệng (Hand, Foot and Mouth disease)
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Số ca mắc bệnh tay chân miệng của các quốc gia tích lũy trong
năm 2013 và 2014 12
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng về tuổi và dân tộc 32
Bảng 3.2 Đặc điểm chung của đối tượng về tôn giáo và trình độ học vấn 32
Bảng 3.3 Đặc điểm chung của đối tượng về nghề nghiệp 33
Bảng 3.4 Đặc điểm chung của đối tượng về hôn nhân, kinh tế và số con 33
Bảng 3.5 Đặc điểm chung của đối tượng về trẻ 33
Bảng 3.6 Số nguồn thông tin về bệnh tay chân miệng 34
Bảng 3.7 Số đối tượng từng nghe nói về bệnh tay chân miệng 34
Bảng 3.8 Kiến thức về phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ 35
Bảng 3.9 Kiến thức về phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ (tt) 35
Bảng 3.10 Thực hành của bà mẹ về vệ sinh ăn, uống 36
Bảng 3.11 Thực hành của bà mẹ về hành vi rửa tay 37
Bảng 3.12 Thực hành của bà mẹ về vệ sinh, khử khuẩn 37
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung với kiến thức 38
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa một số đặc điểm chung với kiến thức (tt) 39
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa số nguồn thông tin với kiến thức 40
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuổi, tôn giáo với thực hành 40
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa học vấn, nghề nghiệp với thực hành 41
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa hôn nhân, tình trạng kinh tế với thực hành 41
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa đặc điểm của trẻ với thực hành 42
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa số nguồn thông tin với thực hành 42
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về phòng bệnh 43
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1 Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại Nhật Bản 2010-2016 9
Biểu đồ 1.2 Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại Trung Quốc 2012-2016 9
Biểu đồ 1.3 Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại Singapore 2012-2016 10
Biểu đồ 1.4 Số ca mắc bệnh tay chân miệng năm 2012-2013 tại Việt Nam theo tháng 12
Biểu đồ 1.5 Số ca mắc bệnh tay chân miệng năm 2015-2016 tại Việt Nam theo tuần 13
Biểu đồ 3.1 Các nguồn thông tin tiếp nhận của các bà mẹ 34
Biểu đồ 3.2 Kiến thức chung về phòng bệnh tay chân miệng 36
Biểu đồ 3.3 Thực hành chung về phòng bệnh tay chân miệng 38
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Vị trí địa lý phường Thới An Đông 19
Trang 11Cho đến nay, bệnh tay chân miệng chưa có vắc xin phòng bệnh cũng như thuốc điều trị đặc hiệu [1], [2], [43] Phương châm phòng chống dịch bệnh trên thế giới tập trung chủ yếu vào công tác can thiệp Y tế công cộng Năm 2010, Tổ chức Y tế Thế giới đã ban hành hướng dẫn về quản lý lâm sàng và đáp ứng Y tế công cộng về phòng chống bệnh tay chân miệng Một trong các phương pháp phòng chống bệnh tay chân miệng được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo là tiến hành các chiến dịch truyền thông về vệ sinh tốt và
vệ sinh cơ bản cho người dân [24], [49]
Trong những năm gần đây, bệnh tay chân miệng có xu hướng tăng và duy trì ở mức cao tại một số nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Tính đến 20/05/2014, Tổ chức Y tế Thế giới thông báo số mắc tay chân miệng đang gia tăng tại Trung Quốc (675.139 trường hợp mắc) tăng 1,9 lần, Ma Cao (1.321 trường hợp mắc) tăng 1,8 lần, Singapore (6.856 trường hợp mắc) tăng 1,03 lần so với cùng kỳ năm 2013 [7]
Trang 12Tại Việt Nam, bệnh tay chân miệng xuất hiện đầu tiên vào năm 2003
tại thành phố Hồ Chí Minh Theo báo cáo của Cục Y tế Dự phòng và Bộ Y tế,
năm 2012, cả nước có 157.654 người mắc bệnh, 45 người tử vong Trong số
10 loại bệnh có số người mắc cao nhất năm 2012, bệnh tay chân miệng đứng
thứ hai, đây cũng là bệnh có số người tử vong đứng thứ ba [36] Năm 2013,
cả nước có 78.414 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, tử vong 21 trường
hợp [32] Năm 2014, cả nước có 79.485 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng
ở khắp 63 tỉnh thành trên cả nước, trong đó có 08 trường hợp tử vong [6]
Ở Cần Thơ, trong năm 2015 tình hình bệnh tay chân miệng diễn tiến
phức tạp, toàn thành phố có tới 891 trường hợp mắc bệnh, trong đó quận Ninh
Kiều đứng đầu với 208 ca, Ô Môn 141 ca, riêng tại quận Bình Thủy có 109 ca
bệnh tay chân miệng được ghi nhận [10] Năm 2017, tay chân miệng có 916
trường hợp mắc, tử vong 01 ca [30] Thới An Đông là một phường của quận
Bình Thủy, hiện tại cũng chưa có nghiên cứu nào về bệnh tay chân miệng
Chính lý do đó để giúp cho ngành y tế địa phương có cơ sở trong xây dựng
chương trình truyền thông giáo dục sức khoẻ về phòng chống bệnh tay chân
miệng cho cộng đồng phù hợp và hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
với đề tài: “Nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân
miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Thới An Đông, quận
Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2017”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Xác định tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Thới An Đông, quận
Bình Thủy, thành phố Cần Thơ có kiến thức, thực hành đúng trong phòng
chống bệnh tay chân miệng năm 2017
2 Tìm hiểu một yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành chưa đúng về
phòng chống bệnh tay chân miệng của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại
phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2017
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược về bệnh tay chân miệng
1.1.1 Khái niệm về bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng (TCM – Hand, Foot and Mouth disease) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch, do virus đường ruột
gây ra Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackievirus A16 (CA16) và Enterovirus 71 (EV71) Bệnh TCM do các chủng CA16 thường ở
thể nhẹ, ít có biến chứng; còn nhiễm EV71 được quan tâm đặc biệt vì nó có thể gây bệnh nặng (gây các biến chứng thần kinh nặng) ở trẻ em, đôi khi dẫn đến tử vong [3], [4]
1.1.2 Nguyên nhân gây ra bệnh tay chân miệng
Các vi rút thuộc nhóm Enterovirus là nguyên nhân gây ra bệnh này Nhóm vi rút này bao gồm nhiều loại khác nhau như Poliovirus, Coxsackievirus, Echovirus và các loại Enterovirus khác
Bệnh TCM chủ yếu gây ra bởi CA16 với ít biến chứng và thường tự khỏi Tuy nhiên, bệnh này cũng có thể bắt nguồn từ các vi rút nhóm
Enterovirus như EV71 với rất nhiều biến chứng nguy hiểm và có thể dẫn đến
tử vong [50]
1.1.3 Dịch tễ học bệnh tay chân miệng
Nhiều vụ dịch lớn nhỏ liên quan đến nhiễm EV71 được báo cáo từ năm
1970 Trẻ em bị ảnh hưởng nhiều nhất và có các biểu hiện lâm sàng điển hình của bệnh TCM như sốt, bóng nước trên bàn tay, bàn chân và có cả mụn nước trong miệng
Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, dịch bệnh lan rộng ở nhiều quốc gia, bao gồm: Úc, Brunei Darussalam, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia,
Trang 14Mông Cổ, Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam Một số nước cũng đã có trường hợp tử vong, với bệnh hệ thần kinh trung ương nặng hoặc phù phổi Trong năm 2009, một vụ bùng phát ở Trung Quốc đại lục bao gồm 1.155.525 trường hợp, 13.810 trường hợp nghiêm trọng và 353 trường hợp tử vong
Tại Việt Nam, bệnh TCM xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2003 tại thành phố Hồ Chí Minh Trong năm 2005, có 764 trẻ em được chẩn đoán là mắc bệnh TCM ở thành phố Hồ Chí Minh Trong đó, 173 (42,1%) được xác định là EV71 và 214 (52,1%) là CA16 Trong năm 2007, 2008 và 2009, số ca bệnh đã báo cáo và tử vong lần lượt là: 5.719 và 23; 10.958 và 25; 10.632 và
23 Phần lớn tập trung ở miền Nam Ở miền Bắc, năm 2003, xác định bệnh nhân bị viêm cấp tính viêm não do EV71 Từ năm 2005 đến năm 2007, EV71
đã được xác định trong bảy bệnh nhân bị bại liệt cấp tính Tất cả các trường hợp đều dưới năm tuổi
Tóm lại, bệnh TCM do nhóm vi rút đường ruột (Enterovirus) gây nên,
CA16 và EV71 là 2 tác nhân gây bệnh chủ yếu Trong đó, chủng EV71 là thủ phạm nguy hiểm [49]
1.1.4 Phương thức lây truyền
Bệnh TCM lây truyền qua đường tiêu hoá: nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi rút từ phân hoặc dịch nốt phỏng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt
Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người-người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt Vi rút tồn tại, nhân lên ở đường
hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần Vi rút cũng có nhiều trong dịch tiết từ các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân
Trang 15Một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội; điều kiện vệ sinh kém; thiếu nhà vệ sinh; thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày [3], [4]
Nguy cơ lây lan mạnh nhất là trong tuần đầu tiên sau khi nhiễm bệnh, nhưng giai đoạn lây nhiễm có thể kéo dài vài tuần (do vi rút khu trú trong phân) [50]
1.1.5 Đặc điểm bệnh tay chân miệng theo tuổi giới
Mọi người có nguy cơ bị nhiễm vi rút gây bệnh TCM nhưng không phải ai bị nhiễm cũng có biểu hiện bệnh Trẻ dưới 5 tuổi và trẻ sơ sinh thường
có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn nhóm tuổi khác Người lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây [3]
Ở Đài Loan, 1998 cũng xảy ra dịch bệnh TCM do EV71 [45] Từ tháng
3 năm 1998 đến tháng 12 năm 2005 có tổng cộng 1.548 trường hợp mắc bệnh TCM và hầu hết (93%) trẻ em mắc bệnh là trẻ nhỏ dưới 4 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1 [49]
Năm 2000, ở Singapore có hầu hết bệnh nhân mắc bệnh TCM là trẻ em dưới 4 tuổi; đầu năm 2001, có 3 trẻ dưới 4 tuổi tử vong Cũng ở Singapore từ năm 2001 đến 2007, nhóm tuổi dưới 4 tuổi có tỉ lệ mắc bệnh TCM cao nhất chiếm khoảng 62,2% đến 74,5% [49]
Tại Malaysia, năm 1997 có 889 trẻ được nhập viện, với tỷ lệ nam/nữ là 1,9/1 [49]
Tại Nhật Bản, dịch TCM vào năm 2000 và 2003 với số ca mắc bệnh lần lượt là 205.365 và 172.659 trong đó trẻ từ 5 tuổi trở xuống chiếm 90% [49]
Tại Trung Quốc, năm 2007, có 1.149 trường hợp mắc bệnh TCM, trong
đó trẻ dưới 5 tuổi chiếm 84,4% Năm 2008, có 61.459 trường hợp mắc bệnh TCM, khi đó trẻ dưới 5 tuổi chiếm lên đến 92% [49]
Trang 16Ở Việt Nam, năm 2003-2007, xác định có bảy bệnh nhân bị bại liệt cấp tính, tất cả đều là trẻ dưới 5 tuổi Năm 2008, có 88 ca mắc bệnh TCM phần lớn là trẻ dưới 5 tuổi [49]
Theo một kết quả nghiên cứu khác về đặc điểm bệnh TCM tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2009 cho thấy: 538 trẻ em bệnh TCM nhập viện, có đến 91% các trẻ này chưa đến 36 tháng tuổi Số trẻ có triệu chứng thần kinh là
448 (83,3%) Trong số trẻ có biến chứng thần kinh, 189 trẻ (35,1%) có biến chứng nặng (viêm màng não, viêm não thân não, viêm não tủy và liệt mềm cấp), 90 trẻ bị biến chứng hô hấp tuần hoàn (16,7%), trong đó 22 trẻ (4,1%) phù phổi và sốc [19] Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhất là ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các nguy cơ lây truyền bệnh, nhất là trong các đợt bùng phát dịch [27] Các nghiên cứu chỉ ra rằng không có một sự khác biệt rõ ràng về giới của những trẻ mắc bệnh TCM Một số báo cáo cho thấy tỷ lệ mắc bệnh TCM giữa nam/nữ là 1,2-1,4/1 [15]
Theo nghiên cứu tại bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới năm 2011, tỷ lệ nam/nữ bằng 2,1, độ tuổi thường gặp nhất là từ 6 tháng-3 tháng tuổi (86%) [17]
Năm 2014, kết quả nghiên cứu 823 bệnh nhi dưới 15 tuổi tại bệnh viện Nhi Quảng Nam năm 2012 cho thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,6/1 Độ tuổi dưới 36 tháng chiếm 82,5% [29]
Năm 2017, theo kết quả nghiên cứu của Đoàn Ngọc Minh Quân tại các tỉnh khu vực phía Nam giai đoạn 2013-2016 cho thấy bệnh xuất hiện ở nhiều nhóm tuổi khác nhau, tập trung chủ yếu ở nhóm dưới 5 tuổi chiếm 95,7%, trẻ dưới 3 tuổi có 91,7% [24]
Trang 171.1.6 Phân bố bệnh tay chân miệng theo mùa
Bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm [1], [27], [50]
1.1.7 Tính cảm nhiễm và miễn dịch của bệnh tay chân miệng
Sau khi mắc bệnh, trẻ em có thể có miễn dịch đặc hiệu với chủng vi rút
đã bị nhiễm, nhưng không có miễn dịch với những chủng vi rút khác Trẻ sơ sinh có kháng thể do mẹ truyền và giảm nhanh sau khi sinh khoảng 1 tháng Miễn dịch tạo ra từ những lần phơi nhiễm trước riêng biệt với những loại vi rút, nhưng vẫn có thể bị nhiễm với những chủng loại vi rút khác [3], [50]
Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh, nhìn chung trẻ mắc bệnh TCM điển hình loại nhẹ và tự khỏi Thời gian tự khỏi thường là dưới 10 ngày Có thể giảm nguy cơ lây nhiễm bằng các biện pháp vệ sinh chặt chẽ và can thiệp
y tế kịp thời khi trẻ có các triệu chứng nghiêm trọng [50]
1.2 Tình hình bệnh tay chân miệng
1.2.1 Lịch sử bệnh tay chân miệng trên thế giới
Bệnh TCM đã được phát hiện từ lâu và gặp ở nhiều nước trên thế giới, năm 1969 lần đầu tiên người ta phát hiện bệnh TCM mà tác nhân là EV71 trên trẻ bị viêm màng não ở California, Hoa Kỳ [49]
Trong những năm sau đó, sự bùng nổ dịch bệnh TCM ở nhiều nước Năm 1972 ở Mỹ, Úc; năm 1973 ở Thụy Điển, Nhật; năm 1975 ở Bulgaria; năm 1978 ở Hungary; năm 1979 ở Pháp; năm 1985 ở Hồng Kông [49]
Trong năm 1997, 1998, bệnh TCM được phát hiện tại Malaysia, Đài Loan Năm 2003, bệnh TCM được phát hiện tại Việt Nam [39], [37], [49]
Cho đến nay bệnh tay chân miệng được phát hiện ở hầu khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt tại nhiều nước hiện nay ở Châu Á đã xảy ra các vụ dịch lớn gây nên số mắc và chết do bệnh TCM đang có chiều hướng gia tăng và trở
Trang 18thành vấn đề Y tế công cộng nghiêm trọng Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho rằng bệnh TCM là một trong những bệnh truyền nhiễm khẩn cấp phải được thông báo
1.2.2 Tình hình bệnh tay chân miệng trên thế giới
Kể từ khi tác nhân gây bệnh là EV71 lần đầu tiên phát hiện ra ở Mỹ (tại California năm 1969), bệnh lây sang nhiều nước và gây thành những vụ dịch lớn nhỏ tại các nước khác như Úc (1972-1973 và 1986), Thụy Điển (1973), Nhật Bản (1973 và 1978), Bulgaria (1975), Hungari (1978), Pháp (1979) và Trung Quốc (1985) [49]
Đài Loan, vụ dịch TCM bùng phát vào năm 1998 với tổng số 129.106 trường hợp, trong đó có 405 trường hợp nặng và 78 ca tử vong [40] Từ năm 1998-2005, số trường hợp nặng hàng năm dao động từ 35 đến 405 Trong số
1548 ca nặng trong khoảng thời gian kể trên, 93% có tuổi từ dưới 4 và 75%
có tuổi từ dưới 2 Tỷ lệ nam: nữ là 1,5:1 Tổng số có 245 trường hợp tử vong trong cùng thời gian Số ca nặng và tử vong lần lượt các năm là: 11 và 0 năm 2006; 12 và 2 năm 2007; 373 và 14 năm 2008; và 29 và 2 năm 2009 [49]
Tại Châu Á, Nhật Bản là nước xuất hiện dịch TCM sớm đặc biệt là 2
vụ dịch lớn vào năm 1973 và 1978 với ca mắc tương ứng là 3.196 và 36.301 [47], [48] Vụ dịch TCM năm 2000 và 2003 tại Nhật Bản ghi nhận lần lượt 205.365 và 172.659 ca mắc, khoảng 90% trẻ dưới 5 tuổi [49] Năm 2012, Nhật Bản có 70.682 trường hợp [51] và năm 2016, có 66.891 trường hợp mắc bệnh TCM [54]
Trang 19Biểu đồ 1.1 Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại Nhật Bản 2010-2016
Biểu đồ 1.2 Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại Trung Quốc 2012-2016
(Nguồn: WPRO January 2017) [54]
Trang 20Tại Singapore, xảy ra vụ dịch lớn vào năm 2000 với 3.790 ca được báo cáo, hầu hết là trẻ dưới 4 tuổi [38] Trong vòng 7 năm từ năm 2001 đến 2007, các vụ dịch TCM xuất hiện vào các năm 2002 (16.228 ca), năm 2005 (15.256 ca), năm 2006 (15.282 ca) và năm 2007 (20.003 ca) Tỷ lệ mắc hàng năm cao nhất ở trẻ dưới 4 tuổi, chiếm 62,2% đến 74,5% các trường hợp được báo cáo [49] Năm 2012 và 2016 lần lượt có số ca mắc là 37.276 và 41.635 [51], [54]
Biểu đồ 1.3 Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại Singapore 2012-2016
(Nguồn: WPRO January 2017) [54]
Ở Malaysia, trường hợp TCM phát hiện đầu tiên vào năm 1997 tại Sarawak Vụ dịch này đã ghi nhận 2.628 ca mắc, 889 trẻ em được nhập viện
để theo dõi, 39 trẻ bị viêm não vô khuẩn hoặc liệt mềm cấp tính Sau đó, cũng trong năm 1997 xuất hiện vụ dịch TCM trên toàn bán đảo Malaysia, có 4.625 trẻ nhập viện trong đó 11 trẻ tử vong Có 2 vụ dịch lớn xuất hiện tại Sarawak vào các năm 2000 và 2003 với EV71 là căn nguyên chính được phân lập Chương trình giám sát TCM tại Sarawak được tiến hành và đã xác định 2 vụ dịch nữa vào các năm 2006 và năm 2008/2009 [49]
Trang 211.2.3 Tình hình bệnh tay chân miệng ở Việt Nam
Năm 2003, vụ dịch TCM lần đầu được báo cáo tại miền Nam Việt Nam [36], [44] Những năm gần đây, bệnh có xu hướng gia tăng và đang trở thành mối lo ngại đối với sức khỏe cộng đồng
Bệnh tay chân miệng xảy ra rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương nhưng phần lớn tại các tỉnh phía Nam Tại miền Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm [1]
Giai đoạn 2005-2011, năm 2011 có sự gia tăng bất thường của bệnh TCM ở khu vực phía Nam với số ca mắc gấp 6 lần, số ca tử vong gấp 6-24 lần
so với giai đoạn 2008-2010 Tỉ lệ chết/mắc là 0,2% Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất
ở nhớm trẻ dưới 3 tuổi (80%) Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu về số ca mắc, chết tuyệt đối Tuy nhiên, tính trên 100.000 dân, thành phố Hồ Chí Minh đứng hàng thứ 14 Năm tỉnh có số ca mắc/100.000 ca là Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Tháp, Đồng Nai, Bình Dương, Bến Tre Có sự gia tăng số ca nhiễm EV71 đồng thời với sự gia tăng số ca mắc bệnh ở khu vực phía Nam [14]
Năm 2010-2012, trong 3 năm liên tiếp số ca mắc/tử vong qua các năm
là 10.128/6 ca (2010); 70.261/145 ca (năm 2011); 75.268/41 ca (năm 2012)
và tỷ lệ mắc/tử vong lần lượt là 0,06, 0,22 và 0,06 Bệnh xảy ra ở tất cả 20 tỉnh/thành phố phía Nam trong đó các địa phương có số mắc và tử vong cao liên tục trong 3 năm là thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Đồng Tháp có những năm lên đến 7.000-10.000 ca mắc/năm và 17-36 ca tử vong/năm [13]
Năm 2013 ghi nhận 78.141 trường hợp mắc tại 63 địa phương, trong đó
có 21 trường hợp tử vong So với cùng kỳ năm 2012 (153.550/45) số mắc cả nước giảm 49,1%, tử vong giảm 53,3% (giảm 24 trường hợp), song vẫn lưu
Trang 22hành ở mức cao và rộng khắp cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước Bệnh ghi nhận chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt dưới 3 tuổi [5]
Biểu đồ 1.4 Số ca mắc bệnh tay chân miệng năm 2012-2013 tại Việt Nam
theo tháng [5]
Bảng 1.1 Số ca mắc bệnh tay chân miệng của các quốc gia tích lũy trong
năm 2013 và 2014 (Nguồn: WPRO February 2014) [52]
Nước
Số ca báo cáo trong tuần/
tháng
Thời gian báo cáo
Số ca báo cáo trong tuần/tháng tương đương trong năm
2013
Số ca tích lũy được báo cáo Tỷ lệ
giữa 2014/
Singapore 214/ tuần 26/1-1/2 186/tuần 1.658 869 1,91
Việt Nam 1.403/tuần
23-29/12 1.695/tuần
81.115 (2013)
157.654 (2012) 0,51
Trang 23Năm 2015, nước ta có 59.280 ca mắc bệnh TCM và đó có 5 ca tử vong [53] Năm 2016, nước ta có 47.457 ca mắc bệnh TCM và 1 ca tử vong [54]
Biểu đồ 1.5 Số ca mắc bệnh tay chân miệng năm 2015-2016 tại Việt Nam
theo tuần [54]
Năm 2017, có 48.009 ca mắc bệnh TCM và 1 trường hợp tử vong [55] Trong 3 tháng đầu năm 2018, có 5.070 ca mắc bệnh TCM, trong đó có 2.943 ca nhập viện [56]
1.3 Phòng bệnh tay chân miệng
1.3.1 Nguyên tắc phòng bệnh
Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu
Áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây [1]
1.3.2 Phòng bệnh tại cơ sở y tế
Cách ly theo nhóm bệnh
Trang 24Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc
Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2% Lưu ý khử khuẩn ghế ngồi của bệnh nhân và thân nhân tại khu khám bệnh
Xử lý chất thải, quần áo, khăn trải giường của bệnh nhân và dụng cụ chăm sóc sử dụng lại theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hoá [1]
1.3.3 Phòng bệnh ở cộng đồng
Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo,
tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt)
có sự tham gia tích cực của cộng đồng [24]
1.3.4 Phòng bệnh tại nhà trẻ, mẫu giáo
Thực hiện triệt để các biện pháp phòng, chống chung
Trẻ mắc bệnh không đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh và chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các phỏng nước
Đảm bảo có đủ xà phòng rửa tay tại từng lớp học
Cô nuôi dạy trẻ/thầy cô giáo cần theo dõi tình trạng sức khỏe cho trẻ hàng ngày Khi phát hiện trong lớp, trong trường có trẻ nghi ngờ mắc bệnh phải thông báo cho gia đình và cán bộ y tế để xử lý kịp thời
Tùy tình hình và mức độ nghiêm trọng của dịch, cơ quan y tế địa phương tham mưu cho cấp có thẩm quyền tại địa phương quyết định việc
Trang 25đóng cửa lớp học, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo Thời gian đóng cửa lớp học, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo là 10 ngày kể từ ngày khởi phát của
ca bệnh cuối cùng [3]
1.4 Các nghiên cứu về bệnh tay chân miệng
1.4.1 Các nghiên cứu bệnh tay chân miệng trên thế giới
Kể từ lần đầu tiên phân lập được EV71 từ một trẻ nhỏ tử vong do viêm não tại California vào năm 1969, TCM được biết đến với những vụ dịch nhỏ rải rác khắp các châu lục Nghiên cứu tại Hungary trong vụ dịch năm 1978 đã xác định EV71 trong 323 ca viêm màng não vô khuẩn, gồm cả vi rút được phân lập từ hệ thần kinh trung ương và từ ngoại vi [42]
Peter Charles McMinn (2003) với “Enterovirus 71 ở khu vự Châu Thái Bình Dương đang nổi lên và gây bệnh thần kinh cấp tính ở trẻ nhỏ” cho thấy hiện dịch bệnh TCM do EV71 gây ra có sự gia tăng đáng kể trong thời gian vừa qua ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương Ngoài ra, còn xác định được biểu hiện lâm sàng mới do EV71 gây ra và nhanh chóng gây tử vong với hội chứng thần kinh phù phổi liên quan với viêm não, màng não Nghiên cứu
Á-di truyền phân tử của EV71 cho thấy có 7 kiểu gen khác biệt đang lưu hành ở Sarawak, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Australia từ năm 1997 đến 2003 [43]
Shou Chien Chen và cộng sự (2007) với nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của EV71 ở Đài Loan cho thấy từ tháng 3 năm 1998 đến tháng 12 năm
2005, tổng số có 1.548 trường hợp bệnh TCM và herpangina đã được báo cáo cho Trung tâm kiểm soát dịch bệnh tại Đài Loan Một biến thể theo mùa trong
số những trường hợp bệnh đã được quan sát, với đỉnh cao hàng năm trong quí thứ hai Có 2 trường hợp tử vong do bệnh TCM và herpangina thay đổi từ năm này sang năm khác (χ2= 6,781, p=0,009) Hầu hết (92%) trường hợp xảy
ra ở trẻ em 4 tuổi Trẻ em bị nhiễm EV71 có nguy cơ bị phù phổi/viêm não và
Trang 26xuất huyết hơn so với những người không bị nhiễm bệnh Nhiễm EV71 đã nổi lên như là một bệnh truyền nhiễm quan trọng gây bệnh lâm sàng nghiêm trọng và tử vong của trẻ nhỏ Phát triển vắc xin được khuyến cáo để ngăn ngừa sự lây lan EV71 trong tương lai [37]
Jung U Shin và cộng sự (2010) nghiên cứu mô tả 01 trường hợp bệnh tay chân miệng ở người lớn có hệ miễn dịch còn nguyên vẹn, cho thấy bệnh tay chân miệng chủ yếu là một bệnh của trẻ em Nghiên cứu mô tả một trường hợp bệnh TCM ở một nam giới 35 tuổi Bệnh nhân có một người con trai 3 tuổi vừa mắc bệnh TCM với biểu hiện tổn thương trên lòng bàn tay, lòng bàn chân, và trong khoang miệng, khoảng 5 ngày trước khi khởi phát các tổn thương da của bệnh nhân Bệnh nhân được điều trị triệu chứng với các thuốc kháng histamine, và tổn thương giải quyết một cách tự nhiên và không có biến chứng Qua đó, các bác sĩ chuyên khoa da liễu nên biết rằng bệnh TCM
có thể xảy ra ở người lớn với hệ miễn dịch còn nguyên vẹn [46]
Edmond Ma và cộng sự (2010) qua nghiên cứu sự thay đổi dịch tễ học bệnh tay chân miệng ở Hồng Kông từ năm 2001 đến 2009 cho thấy bệnh tay chân miệng thường xảy ra vào những tháng ấm (tháng 5 đến tháng 7), cùng với cao điểm vào mùa đông (tháng 10 đến tháng 12) từ năm 2006 trở đi Số lượng trẻ em lớn tuổi (>5 tuổi) nhiễm bệnh TCM tăng từ 25,4% năm 2001 lên 33% trong năm 2009 (p=0,01) Qua theo dõi tại phòng thí nghiệm đã phát
hiện một chu kỳ cao Enterovirus 71 hoạt động mỗi 3-4 năm Hoạt động này
được gắn liền với một tỷ lệ nhập viện cao hơn trung bình đối với bệnh nhân của bệnh TCM trong các khu dịch vụ được báo cáo qua các năm tương ứng, mặc dù sự khác biệt là ít đáng kể (p=0,09) Giám sát liên tục những thay đổi dịch tể học của bệnh TCM để đảm bảo hướng dẫn những hành động dự phòng
Y tế công cộng [41]
Trang 271.4.2 Các nghiên cứu bệnh tay chân miệng ở Việt Nam
Mai Văn Phước với nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 02 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 2015” cho thấy tỷ lệ bà
mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức đạt về phòng bệnh TCM là 79,1%, tỷ lệ bà
mẹ có thái độ tích cực về phòng bệnh TCM là 59,1%, 83,7% bà mẹ thực hành đạt về phòng chống bệnh TCM Những bà mẹ có nghề nghiệp là công nhân viên chức (CNVC) có tỷ lệ kiến thức đúng cao gấp 9,29 lần các bà mẹ làm những nghề khác Bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp III trở lên có tỷ lệ kiến thức đúng cao gấp 3,47 lần bà mẹ có trình độ học vấn khác Những bà mẹ có tiếp cận thông tin về bệnh TCM có tỷ lệ thực hành đúng cao gấp 4,12 lần những bà mẹ không tiếp cận thông tin [22]
Theo Huỳnh Kiều Chinh và Nguyễn Đỗ Nguyên với nghiên cứu “Kiến thức-thái độ-thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Dương Minh Châu-tỉnh Tây Ninh năm 2013” cho thấy kiến thức chung đúng là 32%, thái độ chung đúng là 74%, thực hành chung đúng là 44% Bà mẹ có học vấn cao có khuynh hướng thực hành đúng nhiều hơn 2,2 lần các bà mẹ có học vấn thấp Bà mẹ làm nghề lao động trí óc thực hành đúng nhiều hơn 1,81 lần so với bà mẹ lao động chân tay Bà mẹ có kiến thức chung đúng sẽ có thực hành chung đúng gấp 1,99 lần so với các bà
mẹ không có kiến thức chung đúng [8]
Trương Thị Chiết Ngự, Đoàn Thị Ngọc Diệp và Trương Hửu Khanh (2007) với nghiên cứu “Đặc điểm bệnh tay chân miệng tại bệnh viện Nhi Đồng I năm 2007” cho thấy có 538 trẻ bệnh tay chân miệng nhập viện Có đến 91% các trẻ này chưa đến 36 tháng tuổi Số trẻ có triệu chứng thần kinh là
448 (83,3%) Trong số trẻ có triệu chứng thần kinh, 189 trẻ (35,1%) có biến chứng nặng (viêm màng não, viêm não thân não, viêm não tủy và liệt mềm
Trang 28cấp) Số trẻ có biến chứng hô hấp tuần hoàn là 90 (16,7%), trong đó 22 trẻ (4,1%) phù phổi và sốc Có 16 trẻ tử vong, chiếm tỉ lệ 3% Sốt là mốc thời gian đáng tin cậy để theo dõi diễn tiến bệnh Trẻ bệnh thường bị biến chứng thần kinh vào ngày 2, biến chứng hô hấp tuần hoàn vào ngày 3 của sốt Có 14/16 trẻ tử vong trong vòng 24 giờ sau khi xuất hiện biến chứng hô hấp-tuần hoàn, vào ngày 3 hoặc 4 kể từ lúc sốt Các yếu tố có liên quan đến biến chứng
và tử vong của bệnh tay chân miệng là sốt cao và ói [19]
Trần Thị Anh Đào (2012) với nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, năm 2012” cho thấy chỉ có 43,7% bà mẹ có kiến thức đúng về phòng chống bệnh tay chân miệng, trong đó có 30,15% biết đường lây; 99,5% biết đúng lứa tuổi mắc bệnh; 64,15% biết đúng dấu hiệu đặc trưng của bệnh; 84,42% biết chưa có vắc xin phòng bệnh; 75,04%-85,93% biết đúng các biện pháp phòng bệnh Có 38,86% bà mẹ có thực hành đúng về phòng bệnh TCM, trong đó có 67,50% bà mẹ rửa sạch vật dụng, đồ chơi của trẻ; 62,98% bà mẹ rửa tay bằng xà phòng khi chăm sóc trẻ; 59,97% không để trẻ tiếp xúc với trẻ bệnh; 48,74% giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay cho trẻ [11]
Dương Văn Vũ (2015) với nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh tay chân miệng ở trẻ em của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Thới An, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ” cho thấy có 47% bà mẹ
có kiến thức đúng về phòng bệnh tay chân miệng, thái độ đúng về phòng bệnh của các bà mẹ là 92,3% và tỷ lệ thực hành đúng của các bà mẹ là 46% Bà mẹ
có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên có thực hành đúng cao gấp
3 lần so với các bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn Các bà mẹ có nghề CNVC có thực hành đúng cao gấp 1,4 lần so với các bà mẹ làm ruộng, làm thuê Các bà mẹ có điều kiện kinh tế có thực hành đúng cao hơn gấp 3 lần so với các bà mẹ có điều kiện kinh tế khó khăn [35]
Trang 291.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Năm 2004, phường Thới An Đông được thành lập trên cơ sở toàn bộ 1.167,56 ha diện tích tự nhiên và 9.438 nhân khẩu của xã Thới An Đông (thuộc thành phố Cần Thơ cũ) [9]
Địa giới hành chính gồm Đông giáp phường Long Hòa, phường Trà Nóc; Tây giáp quận Ô Môn; Nam giáp huyện Phong Điền; Bắc giáp quận Ô Môn [9]
Hình 1.1 Vị trí địa lý phường Thới An Đông
Thới An Đông là một phường thuộc quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ gồm 8 khu vực: Thới Thuận, Thới Hưng, Thới Bình, Thới Ninh, Thới Long, Thới Hòa, Thới An và Thới Thạnh [34]
Trạm y tế Thới An Đông quyết tâm thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia và chương trình y tế cộng đồng Đầu tư, nâng cấp trang thiết bị, phấn
đấu công nhận trạm y tế đạt chuẩn quốc gia [33]
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi, không phân biệt dân tộc, nghề nghiệp, trình
độ văn hóa thường trú tại phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn vào
Bà mẹ có con dưới 5 tuổi cư trú tại phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ trong thời gian nghiên cứu
Có thời gian cư trú ít nhất 6 tháng trở lên
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
Những trường hợp mà bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn như: câm, điếc, tâm thần
Những bà mẹ không trực tiếp nuôi con
Vắng mặt 3 lần trong thời gian phỏng vấn
2.1.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: 9/2017-4/2018
Địa điểm: phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang
Trang 31d : sai số cho phép, ở đây lấy d=0,05
p : tỷ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi có kiến thức, thực hành đúng lần lượt
là p1=0,791, p2=0,837 theo nghiên cứu của Mai Văn Phước [22]
Thay vào công thức ta được:
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn ra 350 bà
mẹ có con dưới 5 tuổi từ 8 khu vực của phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
Các bước chọn mẫu:
- Liên hệ địa phương lập danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi sống tại phường Thới An Đông ít nhất 6 tháng Trong toàn phường có 837 bà mẹ
Trang 32có con dưới 5 tuổi Sau đó đánh số thứ tự từ 1 đến N vào danh sách các bà mẹ toàn phường
- Xác định khoảng k bằng cách lấy tổng số bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường/cỡ mẫu
- Cuối cùng tổng hợp lại danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi cần phỏng vấn để tiến hành phỏng vấn
Trường hợp nếu không phỏng vấn được do đối tượng vắng nhà thì bỏ đối tượng đó và đi nhà tiếp theo có trong danh sách chọn phỏng vấn Sau đợt phỏng vấn quay lại nhà đối tượng đó thêm 2 lần nữa để phỏng vấn nếu tiếp tục vắng nhà thì bỏ đối tượng
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
2.2.4.1 Các thông tin chung của các bà mẹ tham gia nghiên cứu
A1 Tuổi của bà mẹ tham gia nghiên cứu: tính tuổi dương lịch bằng cách
lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh Tuổi sẽ được chia làm 2 nhóm:
+ Dưới 35 tuổi + Từ 35 tuổi trở lên
A2 Dân tộc: dựa vào giấy chứng minh nhân dân của đối tượng phỏng vấn,
gồm các giá trị:
+ Khmer
Trang 33A3 Tôn giáo: dựa vào giấy chứng minh nhân dân của đối tượng phỏng vấn,
+ Trên cấp III: học trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học
A5 Nghề nghiệp: là nghề hiện đang mang lại thu nhập chính cho các bà mẹ
+ Đơn thân (Ly thân, ly dị, góa)
A7 Tình trạng kinh tế: dựa vào sổ hộ nghèo do ủy ban nhân dân tại nơi sinh
sống cấp Gồm 2 giá trị:
+ Nghèo/cận nghèo (có sổ hộ nghèo/cận nghèo)
+ Không nghèo (không có sổ hộ nghèo/cận nghèo)
A8 Số con hiện tại: là số con hiện có của bà mẹ, kể cả con nuôi không kể
con đã mất Gồm 2 giá trị:
A9 Số con dưới 5 tuổi: là số con hiện dưới 5 tuổi của bà mẹ, kể cả con nuôi
không kể con đã mất Gồm 2 giá trị:
Trang 34A10 Trẻ có đi học hay gửi nhà trẻ: Gồm 2 giá trị:
B1 Đã từng nghe về bệnh tay chân miệng: đã từng hoặc chưa từng nghe
nói đến bệnh tay chân miệng
+ Có: “có từng nghe” + Không: “chưa từng nghe”
B2 Nguồn tin về bệnh TCM mà các bà mẹ tiếp cận được: gồm các giá trị:
+ Cán bộ, nhân viên y tế + Sách báo, tạp chí
+ Người thân, bạn bè, hàng xóm + Tờ rơi, áp phích
B3 Mức độ nguy hiểm của bệnh: gồm các giá trị:
+ Không huy hiểm
Đối tượng trả lời “Nguy hiểm, chết” là đúng
B4 Nguyên nhân mắc bệnh: biết nguyên nhân mắc bệnh tay chân miệng
+ Không biết
Đối tượng trả lời “Vi rút” là đúng
B5 Đường lây bệnh TCM: gồm các giá trị:
+ Đường tiêu hóa/ăn uống + Khác
+ Đường hô hấp/hít thở
Đối tượng trả lời “Đường tiêu hóa/ăn uống” là đúng
Trang 35B6 Khả năng lây bệnh cao nhất: gồm các giá trị:
+ Trong vòng 3 ngày đầu + Trên 1 tuần
Đối tượng trả lời “Trong vòng 1 tuần đầu” là đúng
B7 Đối tượng dễ mắc bệnh: gồm các giá trị:
+ Không biết
Đối tượng trả lời “Trẻ em” là đúng
B8 Nơi dễ lây nhiễm bệnh: gồm các giá trị:
+ Nơi đông người + Không biết
+ Nhà trường/Trường mẫu giáo
Đối tượng trả lời “Nơi đông người” và/hoặc “Nhà trường/Trường mẫu giáo” là đúng
B9 Dấu hiệu nghi ngờ bệnh TCM
+ Chán ăn, mệt mỏi + Chảy nước bọt
+ Nổi bóng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, trong miệng, gối, mông
Đối tượng nêu được 2 trong các dấu hiệu trên là đúng
B10 Khả năng tái mắc bệnh, gồm các giá trị:
+ Không biết
Đối tượng trả lời “Có” là đúng
B11 Người lớn có thể mang mầm bệnh lây cho trẻ, gồm 2 giá trị:
+ Không biết
Bà mẹ trả lời “Có” là đúng
Trang 36B12 Vắc xin phòng bệnh, gồm 2 giá trị:
+ Không biết
Đối tượng trả lời “Không” là đúng
B13 Thuốc điều trị đặc hiệu, gồm 2 giá trị:
+ Không biết
Bà mẹ trả lời “Không” là đúng
B14 Khả năng phòng ngừa, gồm các giá trị:
+ Không phòng ngừa được
Bà mẹ trả lời “Phòng ngừa được” là đúng
B15 Biện pháp phòng bệnh: gồm các giá trị:
+ Vệ sinh cá nhân (rửa tay…) + Vệ sinh nơi ở
+ Vệ sinh ăn uống (ăn chín…) + Vệ sinh vật dụng (đồ chơi…)
Bà mẹ trả lời 2/4 đáp án trên là đúng
* Cách đánh giá kiến thức chung:
Từ câu B3 đến B15 mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, sai thì 0 điểm
+ Kiến thức đúng (≥80%): 10-13 điểm
+ Kiến thức chưa đúng (<80%): dưới 10 điểm
2.2.4.3 Các nội dung nghiên cứu thực hành về phòng bệnh tay chân miệng của các bà mẹ tham gia nghiên cứu
C1 Móm thức ăn cho trẻ:
+ Thực hành đúng: không móm thức ăn cho trẻ trong quá trình cho bé
ăn mỗi ngày
+ Thực hành không đúng: thường xuyên móm thức ăn cho trẻ trong quá
trình cho bé ăn
Trang 37C2 Sử dụng dụng cụ ăn uống:
+ Thực hành đúng: Sử dụng riêng dụng cụ ăn cùng lúc cho mỗi trẻ + Thực hành không đúng: Sử dụng dụng cụ ăn uống cùng lúc cho nhiều trẻ khác nhau
C3 Thực hành bảo quản thức ăn:
+ Thực hành đúng: thường xuyên đậy kín thức ăn của trẻ
+ Thực hành không đúng: không thường xuyên đậy kín thức ăn của trẻ
C4 Thực hành rửa tay bằng xà phòng của người chăm sóc trẻ:
+ Thực hành đúng đảm bảo 2 tiêu chí: Thường xuyên rửa tay bằng nước xà phòng hay các loại dung dịch khử khuẩn khác tương đương và người phỏng vấn quan sát khu vực rửa tay hay trong nhà có xà phòng hay dung dịch khử khuẩn phục vụ cho việc rửa tay
+ Thực hành không đúng: Khi người chăm sóc trẻ không đảm bảo 2 tiêu chí trên
C5 Thực hành rửa tay bằng xà phòng của người chăm sóc trước khi tiếp xúc hay chăm sóc trẻ:
+ Thực hành đúng: Rửa tay bằng nước với xà phòng hay các loại dung dịch khử khuẩn khác tương đương trước khi tiếp xúc trẻ
+ Thực hành không đúng: Không thường xuyên rửa tay hay chỉ rửa tay với nước thông thường trước khi tiếp xúc hay chăm sóc trẻ
C6 Thực hành rửa tay thường xuyên cho trẻ bằng xà phòng:
+ Thực hành đúng: Rửa tay cho trẻ bằng nước với xà phòng hay các loại dung dịch khử khuẩn khác tương đương ít nhất 2 trong các trường hợp, khi cảm thấy tay trẻ bị dơ, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, sau khi trẻ đi học hay đến khu đông người
+ Thực hành chưa đúng: Thực hiện rửa tay cho trẻ ít hơn 2 trong các trường hợp nêu trên
Trang 38C7 Thực hành của bà mẹ về việc để trẻ mút tay hay ngậm đồ chơi:
+ Thực hành đúng: Không để trẻ mút tay hay ngậm vật dụng, đồ chơi + Thực hành không đúng: Khi để trẻ mút tay hay ngậm vật dụng, đồ chơi
C8 Thực hành về số lần lau sàn nhà, nơi trẻ sinh hoạt:
+ Thực hành đúng: Lau sàn nhà, nơi trẻ sinh hoạt mỗi ngày
+ Thực hành không đúng: Không đảm bảo tiêu chí trên
C9 Thực hành về dung dịch lau sàn nhà, nơi trẻ sinh hoạt:
+ Thực hành đúng: Lau sàn nhà, nơi trẻ sinh hoạt bằng xà phòng, cloramin B 2% hay dung dịch sát khuẩn thông thường
+ Thực hành không đúng: Không đảm bảo tiêu chí trên
C10 Thực hành về số lần ngâm, rửa đồ chơi, đồ dùng cho trẻ:
+ Thực hành đúng: Mỗi ngày đều ngâm, rửa đồ chơi, đồ dùng của trẻ+ Thực hành không đúng: Không đảm bảo tiêu chí trên
C11 Thực hành về việc ngâm, rửa đồ chơi, đồ dùng cho trẻ:
+ Thực hành đúng: Ngâm, rửa đồ chơi, đồ dùng của trẻ bằng nước với
xà phòng, cloramin B2% hay dung dịch sát khuẩn thông thường
+ Thực hành không đúng: Không đảm bảo tiêu chí trên
C12 Thực hành xử lý phân cua trẻ:
+ Thực hành đúng: Đổ phân trẻ vào hố xí, nhà tiêu hợp vệ sinh
+ Thực hành không đúng: Đổ phân ra sông, rạch, vứt ra đất hay hố rác
* Cách đánh giá thực hành chung:
Từ câu C1 đến C12 mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, sai thì 0 điểm
+ Thực hành đúng (≥80%): 9-12 điểm
+ Thực hành chưa đúng (<80%): dưới 9 điểm
2.2.4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành chưa đúng
- Tuổi
Trang 39- Số con dưới 5 tuổi
- Trẻ có đi nhà trẻ/mẫu giáo
- Trẻ có từng mắc bệnh TCM
- Số nguồn thông tin
- Kiến thức
2.2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn trực tiếp kết hợp quan sát bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn
- Các bước tiến hành:
+ Đầu tiên là điều trả thử: phỏng vấn thử 10 bà mẹ có con dưới 5 tuổi
để xem xét vấn đề cần chỉnh sửa bằng phỏng vấn cho hoàn thiện trước khi tiến hành điều tra thật
+ Tổ chức hướng dẫn điều tra viên cách tiến hành điều tra và thu thập thông tin
+ Tiến hành điều tra: cán bộ y tế trạm hay cộng tác viên dẫn đường Đến từng nhà phỏng vấn trực tiếp (bằng bộ câu hỏi) các bà mẹ có con dưới 5 tuổi theo danh sách đã chọn
Trang 402.2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
- Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu gồm các mục sau:
+ Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
+ Thông tin về kiến thức phòng bệnh TCM
+ Thông tin về thực hành phòng bệnh TCM
- Bộ câu hỏi nghiên cứu được thử nghiệm cho 10 bà mẹ có con dưới 5 tuổi, sau đó điều chỉnh cho phù hợp trước khi sử dụng
2.2.6 Sai số của nghiên cứu và biện pháp khắc phục
2.2.6.1 Sai số nghiên cứu
Sai số do người cung cấp thông tin trả lời sai do không hiểu câu hỏi, từ ngữ dùng trong thu thập số liệu khó hiểu hoặc trường hợp chủ ý trả lời sai
Sai số do người thu thập thông tin: ghi chép, thống kê, nhập liệu sai
2.2.6.2 Biện pháp khắc phục
Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, trước khi tiến hành có điều tra thử và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho hợp lý Trước khi phỏng vấn giải thích rõ mục đích ý nghĩa của nghiên cứu để đối tượng phỏng vấn vui lòng hợp tác
Công cụ thu thập thông tin được điều tra thử để phát hiện các điểm hạn chế trong phiếu điều tra, trong phương pháp tiếp cận, cách thu thập thông tin, ghi chép thông tin nhằm điều chỉnh lại trước khi triển khai điều tra thực sự
Mỗi bộ câu hỏi được kiểm tra lại ngay tại chổ sau khi phỏng vấn hoàn tất, nếu chưa hoàn tất hoặc không phù hợp phải phỏng vấn lại
Kiểm tra số liệu lại sau khi nhập vào máy
2.2.7 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu
Thu thập số liệu qua phiếu phỏng vấn loại bỏ phiếu ghi không đầy đủ thông tin