1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của

132 761 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chăm sóc y tế và phòng chống ma túy
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của

Trang 1

và 44.647 người (25,72%) trong các cơ sở trại giam, trại tạm giam của ngànhcông an [8] Tính đến 30/6/2012, toàn quốc có khoảng 171.400 người NMTcó hồ sơ quản lý, trong đó nghiện Heroin vẫn là chủ yếu với tỷ lệ khoảng84,7% [9] Tại một số tỉnh, thành phố, số người nghiện tăng cao như Hà Nội,

TP Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thái Bình…

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố thương mại lớn nhất của ViệtNam, nằm ở phía Nam Việt Nam Thành phố có 19 quận và 5 huyện Dân

số hơn 7 triệu người, bao gồm 5.662.308 dân thường trú và khoảng 1,5triệu dân nhập cư đến từ nhiều tỉnh khác nhau trong cả nước (chưa kể sốdân nhập cư theo thời vụ) Theo số liệu của các cơ quan chức năng củathành phố, đầu năm 1996, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 5.300người nghiện ma túy Đến ngày 15/6/2002, theo kết quả điều tra và thựctiễn đấu tranh của các quận-huyện và công an thành phố thì số ngườinghiện tăng lên hơn 24.000 người và hiện nay lên đến khoảng trên30.000 người [16], [61] Đáng lo ngại hơn là ma túy tổng hợp có tính gâynghiện nhanh và độc hại cao đã xuất hiện tại thành phố trong vài nămgần đây cùng với việc sử dụng ma túy qua đường tiêm chích đã làm tăng

sự lây nhiễm HIV/AIDS [3], [6] Tệ nạn nghiện ma túy gia tăng tạo sựbất an trong đời sống xã hội, nhân dân lo lắng, ảnh hưởng đến công cuộc

Trang 2

xây dựng và phát triển của thành phố Đồng thời, ma túy còn gây tác hạilớn cho sức khỏe, đặc biệt là trong thanh thiếu niên nghiện hút, chích,ảnh hưởng xấu tới nòi giống dân tộc, để lại hậu quả nghiêm trọng chocác thế hệ mai sau [82].

Ý thức được hiểm họa ma túy, Đảng bộ và chính quyền thành phố HồChí Minh đã khẩn trương thực thi hàng loạt biện pháp mang tính chất lâu dài

và cấp bách để phòng chống tệ nạn ma túy Đại hội Đại biểu Đảng bộ thànhphố nhiệm kỳ VII đã đề ra chương trình mục tiêu 3 giảm: giảm ma túy, giảmmại dâm và giảm tội phạm Ngày 23/7/2001, Ủy ban nhân dân thành phố đã

ra Quyết định số 62/2001/QĐ-UB ban hành Kế hoạch thực hiện chương trìnhmục tiêu 3 giảm nêu trên; trong đó có mục tiêu tập trung quản lý ngườinghiện ma túy để chữa trị, phục hồi sức khỏe và nhân cách Trong đó, vấn đềquan trọng và cấp bách là việc khám, chữa bệnh, chăm sóc và tăng cườngsức khỏe để những người nghiện ma túy có đầy đủ sức khỏe học văn hóa,học nghề và lao động sản xuất

Với mục đích tăng cường công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sứckhỏe người nghiện ma túy trong các Trung tâm Chữa bệnh giáo dục laođộng xã hội, đề tài nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng nhu cầu, sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế của người cai nghiện ma túy và khả năng đáp ứng của Phòng Y tế Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007.

2 Đánh giá hiệu quả một số giải pháp tăng cường hoạt động chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội (2008 – 2010).

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Ảnh hưởng của ma túy tới sức khỏe con ng ười

1.1.1 Khái niệm về ma túy và nghiện ma túy

Phân loại chất ma túy: Có nhiều cách phân loại, sau đây là một cách

phân loại cơ bản [59], [60], [82]:

- Dựa vào nguồn gốc, ma túy được chia làm ba nhóm: ma túy tự nhiên,

ma túy bán tổng hợp và ma túy tổng hợp

+ Ma túy tự nhiên: Là các chất có nguồn gốc tự nhiên như thuốc phiện

và các sản phẩm của thuốc phiện như morphine, codein , côca và các hoạtchất của nó như cocain, cần sa và các sản phẩm của cần sa

+ Ma túy bán tổng hợp: Là các chất ma túy được điều chế từ các chất làsản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu đượcchất ma túy có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu, ví dụ hêroin

+ Ma túy tổng hợp: Là các chất ma túy được điều chế bằng phươngpháp tổng hợp hóa học toàn phần từ các hóa chất (được gọi là tiền chất) Vídụ: Amphetamin, Methamphetamin, Dolargan

- Dựa vào mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng, ma túy được chia rahai nhóm [60], [82]:

+ Ma túy có hiệu lực cao (Amphetamin, Methamphetamin )

Trang 4

+ Ma túy có hiệu lực thấp (nhựa thuốc phiện, lá cây cần sa ).

- Dựa vào tác dụng sinh lý trên cơ thể con người, ma túy được chia ralàm 8 nhóm gồm [59], [60]:

+ Nhóm thuốc phiện và các chế phẩm

+ Nhóm cần sa và các sản phẩm của cần sa

+ Nhóm côca và các sản phẩm của côca

+ Nhóm thuốc ngủ

+ Nhóm các chất an thần

+ Nhóm các chất kích thích

+ Nhóm các chất gây ảo giác điển hình

+ Nhóm dung môi hữu cơ và các thuốc xông

- Dựa vào nguồn gốc của ma túy và cơ chế tác động dược lý, các chuyêngia của Liên hiệp quốc đã thống nhất phân chia ma túy thành 5 nhóm sau [2],[82], [105]:

+ Nhóm 1: Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện

+ Nhóm 2: Ma túy là các chất từ cây cần sa

+ Về mặt sinh học: NMT là một trạng thái nhiễm độc hệ thần kinh

và toàn bộ cơ thể có tính chu kỳ, mạn tính, dễ tái phát do sử dụng lặp lạinhiều lần một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp (thực chất là lệ thuộc

Trang 5

vào thuốc).

+ Về mặt xã hội: NMT là một tệ nạn ảnh hưởng đến an ninh quốcgia, trật tự an toàn xã hội, tác động xấu về đạo đức, lối sống, tri thức củacon người…

Theo Luật Phòng, chống ma túy [59], [60]: Nghiện ma túy là người

sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần ma túy với liều dùng ngày càng tăng dẫnđến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tâmthần vào chất đó Khi sử dụng ma túy vào cơ thể con ng ười nó có tácdụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó, nếu lạmdụng ma túy, con người bị lệ thuộc vào nó, khi đó sẽ gây tổn thương và

nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng

Người NMT có các đặc trưng sau [56]:

+ Có sự ham nuốn không kìm chế được, phải sử dụng nó bất kỳ giánào

+ Có khuynh hướng tăng dần liều dùng, liều dùng lần sau phải caohơn liều dùng lần trước mới có tác dụng

+ Tâm sinh lý bị lệ thuộc vào tác dụng của chất đó

+ Thiếu thuốc sẽ xuất hiện các triệu chứng như uể oải, hạ huyết áp,lên cơn co giật, đau đớn và có thể làm bất cứ điều gì miễn là có chất matúy để dùng

Theo quan điểm y học, trong Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10(10th International Classification of Disease – ICD-10), Tổ chức Y tế thếgiới xếp NMT vào loại rối loạn tâm thần và hành vi (RLTT&HV) do cácchất tác động tâm thần (F.1) và được mã hóa theo [107]

Người NMT có thể mắc nhiều bệnh thể chất và tâm thần khác nhau, đặcbiệt là các bệnh gây tàn phế, tử vong cao [1], [28], [41], [79], [82], [88]

+ Quá liều, ngộ độc, hôn mê

Trang 6

+ Nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nội tạng: Viêm gan B, viêm gan

C, Osler (viêm nội tâm mạc), nhiễm HIV/AIDS

+ Loạn thần, mất nhớ, mất trí

Thực ra, người NMT trước khi bị các bệnh lý gây hại sức khỏe trên,thông thường đã lâm vào cảnh:

+ Giảm và mất khả năng lao động, thất nghiệp

+ Tổn hao tài sản, tiền bạc

+ Suy đồi về nhân cách và đạo đức dẫn đến hành vi phạm tội

1.1.2 Ảnh hưởng của ma túy

* Đối với bản thân người nghiện:

- Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, họctập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Dùng ma túy quá liều cóthể dẫn đến tử vong [41]

- Gây nghiện nặng, sức khỏe giảm sút Tiêm chích ma túy dùngchung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi-rút

B, C, đặc biệt là HIV [77], [82]

- Thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ viphạm pháp luật Mâu thuẫn và bất hòa với bạn bè, thầy cô giáo và giađình Mất lòng tin với mọi người…

- Ma túy còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống [77], [82]

* Ảnh hưởng đến gia đình:

- Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Nhu cầu cần tiền

để mua ma túy của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000–100.000 đồng, thậm chí 1.000.000–2.000.000 đồng/ngày [41], [82]

- Sức khỏe các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặccảm, ăn không ngon, ngủ không yên vì trong gia đình có người nghiện)

Trang 7

- Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc giađình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc ) [41], [82].

- Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh củangười nghiện do ma túy gây ra

* Ảnh hưởng đến xã hội:

- Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừađảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm [77], [82]

- Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dântộc Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội [77], [82]

- Ảnh hưởng đến giống nòi, hủy diệt giống nòi [77], [82]

1.1.3 Tác hại của ma túy đối với sức khỏe người nghiện ma túy

Các chất ma túy tác động gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thông quatác động xấu đến đường hô hấp, hệ tim mạch, hệ thần kinh, hệ sinh dục…

- Đối với hệ hô hấp: Gây kích thích hô hấp, gây tăng tần số thở trongthời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp nhất là dùng quá liều Nhiềutrường hợp ngưng thở không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong [42], [76],[82]

- Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy làm tăng nhịp tim ảnhhưởng trực tiếp lên tim gây co thắt mạch vành, tạo nên cơn đau thắtngực, có thể gây nhồi máu cơ tim [76], [82]

- Đối với hệ thần kinh: Sử dụng ma túy giai đoạn đầu có thể gâyhưng phấn sảng khoái lệ thuộc thuốc…, sau đó xảy ra những tai biến như

co giật, xuất huyết, đột quỵ [42], [82]

- Đối với hệ sinh dục: Ngoài một vài chất ma túy tăng khả năng tìnhdục, hầu hết ở người NMT khả năng tình dục giảm rõ rệt và điều này còntồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian dài [42], [82]

Ngoài ra, người dùng ma túy còn bị những tác hại như hủy hoại tế

Trang 8

bào gan, ảo thính, ảo thị…[42], [76], [82].

1.1.4 Tình trạng sức khỏe của người nghiện ma túy

Qua một số nghiên cứu cho thấy, người NMT sức khỏe giảm sútnhanh chóng, giảm khả năng lao động; có thể bị rối loạn về dinh dưỡng,biếng ăn; không phân biệt được cảm giác nóng lạnh, nhiều trường hợpdùng ma túy với liều cao làm tê liệt thần kinh và dẫn đến cái chết NgườiNMT rất dễ mắc một số bệnh nguy hiểm đối với tính mạng như nhiễmtrùng huyết, trụy tim mạch…, đặc biệt người NTCMT có nguy cơ caonhiễm HIV/AIDS, HBV, HCV… [42], [72], [82]

Hiện nay, việc sản xuất và sử dụng các chất kích thíchAmphetamine đang ngày một lan rộng, trên toàn thế giới ước tính có 40triệu người sử dụng loại ma túy này và đã trở thành một nạn dịch đángbáo động Ngày càng có nhiều người đứng trước nguy cơ bị đe dọa vềsức khỏe do sử dụng ATS (Amphetamine – Type Stimulants), có thể do

họ đã không nhận thức được mối nguy hiểm này Hiện nay, người ta còn

lo ngại về độ độc hại lâu dài của ATS Theo nghiên cứu, việc sử dụngMDMA (Methylene Dioxy MethamphetAmine) (tác nhân hoạt độngmạnh trong Ecstasy) sẽ làm giảm khả năng trí tuệ [72]

Qua một số nghiên cứu cho thấy, tại Việt Nam có 85% người NMTbị giảm sút sức khỏe, cơ thể suy kiệt, người gầy yếu; có 35% số ngườiNMT mất khả năng lao động; cả nước hiện có trên 140.000 người nhiễmHIV/AIDS, trong đó có tới trên 60% là do tiêm chích ma túy

Về cơ cấu bệnh tật của người NMT, tuy chưa có nhiều nghiên cứuđề cập đến vấn đề này, song qua kết quả của một vài nghiên cứu tại một

số địa phương cho thấy bệnh tật của đối tượng NMT là rất đa dạng, tỷ lệmắc các bệnh lây truyền qua đường máu, lây truyền qua đường tình dục(LTQĐTD) và một số bệnh nhiễm trùng khác chiếm tỷ lệ cao

Trang 9

Căn cứ trên hồ sơ của 2.500 bệnh nhân được tập trung tại TrườngPhục hồi nhân phẩm thanh niên (Trường Xây dựng thanh niên mới BìnhTriệu, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, sau đổi tên là Trungtâm Giáo dục – Dạy nghề Bình Triệu; và hiện nay là Trung tâm Tiếpnhận đối tượng xã hội Bình Triệu), cơ cấu bệnh của người NMT đượctrình bày ở bảng dưới đây [62].

Bảng 1.1: Cơ cấu bệnh tật của người nghiện ma túy tại Trường Phục hồi nhân phẩm thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (n = 2.500).

(Nguồn: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, TP Hồ Chí Minh, 2009).

Kết quả bảng 1.1 cho thấy, có tới trên 60% người NMT bị bệnh ghẻ

và viêm da, 30% trong số người NMT bị suy dinh dưỡng và có tới 27,3%bị bệnh giang mai

Năm 2002, tại trại giam Ninh Phong, tỉnh Ninh Bình có tới 220 lượtđối tượng (50%) phải vào bệnh xá và 180 lượt đối tượng (40,7%) (trongtổng số 442 đối tượng của trại) phải vào bệnh viện tỉnh điều trị

Nghiên cứu về tình hình sức khỏe của đối tượng cai nghiện ma túybắt buộc tại TT Giáo dục lao động xã hội thành phố Hà Nội, năm 2004của tác giả Phùng Quang Thức [72], cho thấy:

Tới 77,2% đối tượng tự đánh giá từ khi NMT sức khỏe bị giảm sút

và hay mắc các chứng bệnh: đau đầu, mất ngủ, đau bụng, tiêu chảy, mỏimệt, buồn bực, khó chịu… Các chứng bệnh này có từ 38,3–73,9% đốitượng đã mắc phải Tương tự có 60,7% đối tượng cho là ăn uống giảm

Trang 10

sút và 71,9% cho rằng giảm khả năng lao động [41], [42], [76].

Có 7% đối tượng bị STDs, trong số đó chỉ có 25% đối tượng khám

và điều trị tại cơ sở y tế Nhà nước, còn đa số các trường hợp khám vàđiều trị tại các cơ sở y tế tư nhân, tự mua thuốc điều trị hoặc không điềutrị gì

Về cơ cấu dinh dưỡng của đối tượng NMT qua khám sức khỏe vàkết quả xét nghiệm HIV/AIDS: Có 33,2% đối tượng nhẹ cân qua đánhgiá bằng chỉ số khối cơ thể BMI, và có một tỷ lệ nhỏ 2,9% dư cân và béophì độ I, còn lại là bình thường

Về kết quả xét nghiệm HIV/AIDS: Qua kết quả xét nghiệm 378 đốitượng cai nghiện ma túy bắt buộc tại trung tâm, có 30,4% đối tượng cókết quả HIV(+) Tỷ lệ này tương đương với kết quả nghiên cứu tình hìnhnhiễm HIV trong phạm nhân NMT tại các trại giam của Bộ Công an(28%) và An Giang (28,6%); thấp hơn ở Quảng Ninh, nơi có tỷ lệ phạmnhân NMT nhiễm HIV cao nhất là 55,5%, nhưng cao hơn so với TiềnGiang (20,5%) và Bình Dương (16,3%)

Nhiều nghiên cứu [41], [42], [76], đã chỉ ra rằng: Nhồi máu cơ tim,suy tim, rối loạn nhịp, phình động mạch, viêm nội tâm mạc là nhữngbiến chứng hay gặp ở người nghiện ma túy Nguy cơ nhồi máu cơ timtăng lên gấp 24 lần sau 60 phút sử dụng chất gây nghiện

Chứng nhồi máu cơ tim ở người dùng ma túy khó chẩn đoán vì 2nguyên nhân Thứ nhất, nhiều bệnh nhân dùng ma túy có đau ngực, cóthể có điện tâm đồ bất thường mà không nhồi máu cơ tim Thứ hai là hơnmột nửa số người sử dụng ma túy có nồng độ men CK tăng cao (CreatineKinase – dấu hiệu nhồi máu cơ tim) trong khi không hề bị tai biến này.Người sử dụng ma túy dễ bị nhồi máu cơ tim và bệnh tim thiếu máucục bộ do ma túy sẽ làm co thắt mạch vành, gia tăng kết dính tiểu cầu

Trang 11

nên dễ dàng hình thành cục máu đông trong mạch vành Ma túy cũng làmtăng nhu cầu sử dụng ôxy trong khi cung cấp ôxy chỉ ở mức hạn chế,đồng thời giảm sản xuất chất gây giãn mạch Vì vậy, những người sửdụng ma túy có xơ vữa động mạch vành rất dễ nhồi máu cơ tim.

* Tại thành phố Hồ Chí Minh:

Theo kết quả của công tác giám sát trọng điểm HIV, dịch HIV tạithành phố Hồ Chí Minh đã gia tăng nhanh chóng trong các nhóm nguy cơcao trong những năm gần đây, nhất là trong nhóm người nghiện chích matúy (tỷ lệ tiêm chích chiếm khoảng 70–90%) Tỷ lệ hiện mắc HIV trongnhóm người nghiện chích ma túy đã gia tăng từ 18% trong năm 1996 lên66% trong năm 2003 (có nơi đến 70%)

Đồng thời, theo số liệu điều tra, khám sức khỏe tổng quát mới nhất củaTPHCM, trong số khoảng 30.000 người nghiện ma túy đang quản lý ở các TTCBGDLĐXH thì số đủ sức khỏe để lao động là 50%, 25–30% chỉ có thể laođộng nhẹ và số còn lại có sức khỏe kém, không thể lao động được; đồng thờiphải có chế độ chăm sóc sức khỏe đặc biệt (theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế)

1.1.5 Một số yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe người nghiện tiêm chích ma túy

* Nguy cơ lây nhiễm HIV:

Hiện nay tình hình sử dụng ma túy và NTCMT ngày càng gia tăng ởhầu hết các nước trên thế giới Nhiễm HIV trong nhóm NTCMT đang tăngnhanh ở hầu hết các quốc gia, lây nhiễm HIV trong quần thể các đối tượngNTCMT đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng rất nghiêm trọng mangtính chất toàn cầu Hành vi sử dụng chất ma túy là bất hợp pháp nên rất khóquản lý và xác định được chính xác đối tượng NTCMT [27], [91] Vấn đềnhiễm HIV có liên quan đến tiêm chích ma túy đã được cảnh báo ở ít nhất

128 nước Tiêm chích ma túy đã nhanh chóng trở thành một phương thức

Trang 12

lây truyền HIV có ý nghĩa quan trọng tại nhiều vùng trên thế giới [92],[94], [95], [96], [103], [104], [106].

Tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng NTCMT ở một số nước tương đối cao,tại Iran 50%, Braxin trên 30%, ở những bang mà việc mua bán BKT bịhạn chế hoặc không cho phép như New Jersey và New York (Hoa Kỳ) thì

tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm người nghiện chích lại lên tới 50%, tại bangManypur (Đông Bắc Ấn Độ) 73%, tại Myanma 60%, tại Trung Quốc67%, tại Thái Lan 40% [31], [89], [94], [96]

Tại Việt Nam, vụ dịch bùng nổ trong nhóm người NTCMT năm1993–1994 tại khu vực phía Nam, trong đó có TPHCM và Khánh Hòa,sau đó dịch lại bùng nổ trong nhóm người NTCMT trẻ tuổi ở các tỉnhphía Bắc, điển hình là Quảng Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội [4],[40] Tỷ lệ người nghiện tiêm chích nhiễm HIV là 17,28% (năm 1994),14,89% (năm 1995), đến năm 1996 hạ xuống thấp nhất là 10,89% Hiệnnay, các dự báo đều có chung nhận định là tỷ lệ người NTCMT nhiễmHIV có chiều hướng giảm xuống Nhưng tỷ lệ này tăng lên 12,87% (năm1997), 18,88% (năm 1999), 23,9% (năm 2000) và 20,27% (năm 2008),một số tỉnh/TP tỷ lệ này rất cao: TP Hồ Chí Minh 50%; Cần Thơ46,07%; Điện Biên 40,26%; Tuyên Quang 38,59%; Quảng Ninh 33,25%[32], [37], [44], [57]

Đã có những nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ nhiễm HIV ở ngườiNTCMT cho thấy việc dùng chung BKT và số lần tiêm chích ma túy lànhững yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV ở đối tượng nghiện chích ma túy Mộtnghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy những người NTCMT có quan hệ tìnhdục nhiều hơn đối tượng khác, trong đó có 30% không bao giờ sử dụng BCSkhi quan hệ tình dục với gái mại dâm [50] Kết quả này nhấn mạnh nguy cơlây truyền HIV từ người NTCMT sang các nhóm khác trong cộng đồng

Trang 13

Hiện nay Việt Nam đang đứng trước thách thức trong việc phòng chống lâynhiễm HIV từ đối tượng NTCMT sang quần thể dân cư như đã xảy ra tạiThái Lan trong những năm gần đây, dịch HIV diễn biến theo 4 làn sóng bắtđầu từ người NTCMT, sau lan sang gái mại dâm rồi đến bệnh nhân STDs vàcuối cùng sang nhóm phụ nữ và trẻ em [96].

Nghiên cứu về tình hình sức khỏe của đối tượng cai nghiện ma túybắt buộc tại TT Giáo dục lao động xã hội thành phố Hà Nội, năm 2004của tác giả Phùng Quang Thức [72] cho thấy:

Về hành vi sử dụng BKT: Có tới 72,7% đối tượng đã từng tiêmchích ma túy và tiêm chích từ 2–3 lần/ngày là 65,9%, tiêm chích trên 3lần/ngày là 6,5%; các kết quả này đều cao hơn các nghiên cứu trước.Những người NMT qua đường tiêm chích có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp2,77 lần so với người nghiện không bằng đường tiêm chích với độ tin cậyP<0,001

Về tình hình sử dụng BCS trong quan hệ tình dục: Có tới trên 4/5 sốđối tượng (82,7%) đã có quan hệ tình dục, trong số họ có 64,5% có quan

hệ tình dục với gái mại dâm Ở những người NMT có quan hệ tình dụcvới gái mại dâm có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 1,51 lần so với ngườinghiện không quan hệ tình dục với gái mại dâm với P<0,05 Đặc biệtnguy cơ nhiễm HIV ở những người nghiện quan hệ tình dục với gái mạidâm không dùng BCS còn cao hơn nhiều

Tình trạng xăm trổ trên da của đối tượng NMT là khá phổ biến, cótới 43,12% đối tượng có xăm trổ trên da Đây cũng là nguy cơ nhiễmHIV và các bệnh lây truyền qua đường máu ở đối tượng NMT

* Nguy cơ nhiễm HBV, HCV:

Theo các giám sát dịch tễ học, hiện nay trên thế giới có gần 2 tỷ ngườinhiễm HBV, 350 triệu người mang HBsAg mạn tính Theo một nghiên cứu ở

Trang 14

Tây Ban Nha, tỷ lệ mang HBsAg(+) ở đối tượng NTCMT là 13% [94] ViệtNam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á có nguy cơ cao nhiễmHBV, tỷ lệ người mang HBsAg(+) trong cộng đồng là 15–26%.

Bệnh viêm gan C đã được đề cập đến như là bệnh viêm gan “không

A, không B”, năm 1989 đã xác định rõ tác nhân gây bệnh Tỷ lệ viêmgan C phần lớn gặp ở đối tượng NTCMT, có khoảng 40–60% ngườiNTCMT bị xơ gan do viêm gan C Thời gian ủ bệnh của vi rút viêm gan

C từ 15–150 ngày, trong giai đoạn cấp thường gặp các triệu chứng thôngthường như sốt, vàng da Tuy nhiên có tới 90% là viêm gan B [44], [46],[50], [92], [93], [94]

* Tình hình đồng nhiễm HIV, HBV, HCV:

Một nghiên cứu về tình trạng nhiễm kép HIV và HCV ở ngườinghiện chích ma túy tại Mỹ cho thấy có 40% những người nhiễm HIV cónhiễm HCV, điều này đã làm cho công tác điều trị gặp rất nhiều khókhăn vì có nhiều tác dụng phụ trong điều trị Mặt khác khi nhiễm HIV,khả năng miễn dịch bị suy giảm nên vi rút viêm gan C không bị tác độngcủa kháng thể nên nhân lên rất nhanh [94] Một nghiên cứu trên 2.961quân lính có nghiện chích ma túy ở Anh cho thấy 30% đối tượng có AntiHCV (+) và 22% mang HBsAg(+) [105], [108], [109], [110], [111]

1.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cai nghiện ma túy tại các trung tâm

Trong giai đoạn 2006 – 2010, cả nước đã tiếp nhận cai nghiện cho250.000 lượt người, bằng 170,4% so với người nghiện có hồ sơ quản lý(trung bình mỗi đối tượng được cai nghiện 1,7 lần), tăng 43.090 người sovới giai đoạn 2001 – 2005, trong đó:

- Các Trung tâm cai nghiện trong cả nước đã tiếp nhận cai nghiệncho 169.007 lượt người, vượt 70,4% so với chỉ tiêu đề ra theo Quyết định

Trang 15

số 49/2005/QĐ-TTg, chiếm 67,6% tổng số người nghiện được cai, tăng28.142 người so với giai đoạn 2001 – 2005.

- Các địa phương trong cả nước đã tổ chức cai nghiện tại gia đình,cộng đồng cho 80.994 lượt người chiếm 32,4% tổng số người được cainghiện

- Công tác dạy văn hóa, dạy nghề và quản lý sau cai: các Trung tâm

đã tổ chức dạy văn hóa cho 16.261 học viên, dạy nghề cho 30.697 họcviên; tổ chức quản lý sau cai bằng hình thức hỗ trợ vay vốn, tạo việc làmcho 15.382 người

Công tác đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho các TTCBGDLĐXH: Thực hiện mục tiêu đến năm 2010, trên 80% người nghiện

ma túy được cai nghiện tại TT CBGDLĐXH, trong giai đoạn 2006 –

2010, toàn quốc đã đầu tư xây dựng mới 40 TT CBGDLĐXH, nâng cấp

46 trung tâm, nâng tổng số 83 trung tâm từ năm 2005, đến năm 2010 là

123 trung tâm, tăng khả năng tiếp nhận từ 30.000 – 40.000 người lên55.000 – 60.000 người, bằng 39,6% so với số người nghiện có hồ sơquản lý, tăng 57,1% khả năng tiếp nhận so với năm 2005; Trong đó, 115trung tâm trực thuộc ngành LĐTBXH, 8 trung tâm do Lực lượng Thanhniên xung phong quản lý

Hệ thống tổ chức, cán bộ được củng cố, kiện toàn, đến năm 2010, cảnước có 37 Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội, tăng 16 Chi cục so vớinăm 2005; 13 Phòng phòng chống tệ nạn xã hội và 13 đơn vị lồng ghépvào Phòng bảo trợ xã hội; tại mỗi quận, huyện công tác phòng, chống tệnạn xã hội đều do phòng LĐTBXH hướng dẫn và quản lý, 100% xãphường, thị trấn có cán bộ làm công tác LĐTBXH Tại các TTCBGDLĐXH có 5.794 cán bộ

Trang 16

Đến năm 2010, có 19 Trung tâm cai nghiện do tư nhân thành lập cònhoạt động và các trung tâm đã tổ chức cai nghiện cho 6.320 đối tượng.Việc thực hiện xã hội hóa chủ yếu huy động được sự tham gia đóng gópcông sức của cán bộ các ban, ngành, đoàn thể, khu dân cư, già làng,trưởng bản trong vận động tham gia cai nghiện, giáo dục, quản lý saucai; các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp hỗ trợ học nghề, tạo việc làm hoặc

sự tham gia đóng góp tiền ăn của người cai nghiện

Nhiều mô hình cai nghiện có hiệu quả đã được xây dựng và duy trì,như: Mô hình quản lý sau cai tại trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh;

mô hình cai nghiện 3 giai đoạn của tỉnh Tuyên Quang; mô hình cainghiện tại cộng đồng và quản lý sau cai của tỉnh Sơn La; mô hình cainghiện tại xã, cụm xã và quản lý sau cai tại câu lạc bộ sau cai, kết hợpvới hỗ trợ vốn giải quyết việc làm cho người sau cai gắn với hộ gia đình,cho đồng bào dân tộc vùng cao ở huyện Mường Khương (Lào Cai); môhình Trung tâm cai nghiện cấp huyện; mô hình do ủy ban nhân dân cấp

xã và các tổ chức chính trị, đoàn thể, xã hội giúp người nghiện cai nghiện

và tái hòa nhập cộng đồng, thực hiện tại các thành phố, tỉnh đồng bằng;

mô hình cai nghiện tự nguyện tại các TT CBGDLĐXH, mô hình thí điểmđiều trị chống tái nghiện bằng Natroxone; mô hình điều trị nghiện cácchất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone… [14]

1.2.1 Đặc điểm của người nghiện ma túy:

* Độ tuổi của người nghiện ma túy ngày càng trẻ Năm 1994, sốngười nghiện ở độ tuổi dưới 30 chiếm 42% trong tổng số người nghiện,tới nay tỷ lệ này đã tăng lên 70% Một số tỉnh/thành phố như: Hà Nội,Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng… tỷ lệ người nghiện dưới 30 tuổichiếm 80%–90% tổng số người nghiện [55], [82]

* Các loại ma túy được sử dụng ngày càng đa dạng, trong đó các

Trang 17

loại ma túy mạnh, ma túy kích thích thần kinh ngày càng trở nên phổbiến Năm 1994, 85% tổng số người nghiện ma túy sử dụng thuốc phiện,thì tới nay 87% người nghiện đã chuyển sang sử dụng Hêrôin; 4,5% sửdụng ma túy kích thích thần kinh như Amphetamin, Ecstasy,Methamphetamin Một số địa phương có tỷ lệ người nghiện Hêrôin rấtcao như: Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh có trên 90% người nghiện

sử dụng Hêrôin [73], [82]

* Cách thức sử dụng ma túy đã có nhiều thay đổi Trước đây hútthuốc phiện chủ yếu ở phía Bắc và hút cần sa, uống tân dược có chứachất ma túy chủ yếu ở miền Nam Hiện nay người nghiện sử dụng đườngtiêm chích ngày càng phổ biến và là nguyên nhân chính làm gia tăng cácbệnh lây truyền qua đường máu như HBV, HCV và HIV Qua điều trakhảo sát năm 1994, tỷ lệ người nghiện chích trong tổng số người nghiện

là 28% thì tới nay, tỷ lệ này đã tăng tới 86,3% Một số tỉnh/thành phố cótới 90% người nghiện sử dụng ma túy qua đường tiêm chích như: LạngSơn, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng…[6], [82], [83]

* Tỷ lệ nữ giới nghiện ma túy tăng lên đáng kể Năm 1994, 1,1%người nghiện là phụ nữ và chủ yếu là những người lớn tuổi nghiện dodùng ma túy để chữa bệnh Trong những năm gần đây, ngày càng nhiềuphụ nữ trẻ do đua đòi đã nghiện ma túy và đến nay có tới 7% tổng sốngười nghiện là phụ nữ Nghiện ma túy gia tăng mạnh trong nhóm gáimại dâm Qua khảo sát tại các TT CBGDLĐXH, chữa trị cho người mạidâm có tới 90% số người được hỏi đã từng dùng ma túy, trong đó 20%–30% nghiện ma túy Một số địa phương có tỷ lệ gái mại dâm nghiện matúy chữa trị tại các trung tâm rất cao như TPHCM 30%, Hà Nội 50%,Nghệ An 35% Việc này đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác phòngchống ma túy, đặc biệt là phòng chống HIV [82]

Trang 18

* Đặc điểm của người nghiện ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh:

Hiện nay TPHCM đang tập trung quản lý khoảng trên 30.000 ngườinghiện ma túy tại 20 TT CBGDLĐXH trú đóng tại các tỉnh Đắklắk,Đắknông, Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai và TPHCM(chưa kể 3 TT cai nghiện ma túy tư nhân)

Qua thống kê, phân loại số người nghiện ma túy đang được chữa trị,giáo dục tại các TT CBGDLĐXH cho thấy:

- Về tuổi đời: Đa số còn rất trẻ: Dưới 18 tuổi chiếm tỉ lệ 7,22%, từ18–25 tuổi chiếm 50,65%, từ 26–30 tuổi chiếm 29,58%, từ 31–40 tuổichiếm 10,45%, trên 40 tuổi chiếm 2,10%

- Về trình độ học vấn: Người NMT có trình độ học vấn nói chungthấp: 11,52% bị mù chữ; 30,16% tiểu học, 41,93% trung học cơ sở

- Về nghề nghiệp: Số có nghề nghiệp chuyên môn rất ít, khoảng 9%.Tất cả những vấn đề nêu trên dẫn đến hệ quả là nguy cơ tái nghiệnrất cao, hiệu quả hoạt động cai nghiện phòng chống tệ nạn nghiện ma túybị hạn chế, rất khó khăn cho công tác chăm sóc y tế, phòng ngừa lây lanđối với người nghiện ma túy, nguy cơ bùng phát đại dịch HIV/AIDS từ

số đông người sử dụng ma túy ngày càng tăng lên [17], [18], [19], [20],[21], [22], [23], [62]

1.2.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cai nghiện ma túy

Về mặt lý thuyết, khả năng để sử dụng dịch vụ y tế khác nhau vớimỗi người phụ thuộc vào sự sẵn có, chất lượng, giá thành, mức độ bệnh,khoảng cách và khả năng tiếp cận của bệnh nhân Có nhiều yếu tố tácđộng đến việc lựa chọn dịch vụ y tế, bao gồm các yếu tố chủ quan thuộcvề bản thân người sử dụng (bệnh nhân), có những yếu tố nảy sinh từ môitrường xã hội và có cả những yếu tố xuất phát từ phía người cung cấp

Trang 19

dịch vụ y tế [26].

Tuy nhiên, người cai nghiện ma túy tại các TT CBGDLĐXH khôngthể có quyền lựa chọn dịch vụ y tế nào khác, ngoài phòng y tế của trungtâm Do đó, các yếu tố quyết định đến việc sử dụng dịch vụ y tế trongviệc khám chữa bệnh của người CNMT, có thể có những yếu tố sau [42],[43], [72]:

- Các yếu tố dịch vụ y tế: Đây là vấn đề cốt lõi trong việc nâng caochất lượng của nơi cung cấp dịch vụ y tế, đó là Phòng Y tế của trungtâm Vấn đề này lại phụ thuộc vào số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ

y tế, trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh và cơ sở vật chất

- Các yếu tố về con người: Trình độ học vấn, hiểu biết về sức khỏe(của người cai NMT) cũng là một trong những yếu tố quyết định đếnchăm sóc sức khỏe của bệnh nhân

1.2.3 Khả năng đáp ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của phòng y tế các trung tâm

Trong quá trình xây dựng các trung tâm để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm

vụ quản lý, chăm sóc sức khỏe và phục hồi nhân cách cho người nghiện matúy, việc chuẩn bị mọi mặt để nhằm chăm sóc sức khỏe cho người cai nghiện

ma túy tại các trung tâm được tiến hành có khá nhiều khó khăn Hầu như,trong giai đoạn đầu, sự hiểu biết về các bệnh tật thường gặp và tần suất bệnhcủa người cai nghiện ma túy chưa đầy đủ, các chuẩn mực về con người,trang thiết bị, cơ sở vật chất còn bất cập, chính sách đãi ngộ đối với cán bộlàm công tác y tế ở các trung tâm cai nghiện còn thấp, nên không thu hútđược y, bác sĩ về các trung tâm công tác Cho đến thời điểm hiện nay, cácchuẩn mực đã được ban hành, nhưng còn mang tính chất của địa phương vàviệc áp dụng các chuẩn mực nêu trên vẫn chưa đầy đủ và chưa đáp ứng được

Trang 20

Các phương pháp dự phòng thường dùng bao gồm các biện phápgiảm tác hại như [39], [45], [48], [99], [102], [108]:

- Dùng ma túy dạng uống (Méthadone) để thay thế cho ma túy dạngtiêm chích (Morphine, Hêrôine) (để giảm thiểu lây nhiễm HIV)

- Cung cấp BKT sạch và dùng một lần

- Dùng BCS trong quan hệ tình dục (để giảm thiểu lây nhiễm HIV

và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác)

Mặt khác, các biện pháp trong chăm sóc và điều trị cũng được quantâm để nhằm giảm thiểu tác hại của các bệnh do ma túy gây ra (suy dinhdưỡng, rối loạn tâm thần), các bệnh lây nhiễm khác trong quá trình sửdụng ma túy (HIV, HBV, HCV, STDs, các bệnh đường hô hấp) và cácbệnh cơ hội khác do HIV gây ra (lao, tiêu chảy, suy kiệt) [94], [99]

* Tại Việt Nam:

Từ những năm 1975, tại TPHCM đã có TT Chữa bệnh Phú Văn và

TT Giáo dục dạy nghề Bình Triệu là những nơi cai nghiện ma túy đầutiên, về sau có thêm TT Giáo dục dạy nghề và Giải quyết việc làm NhịXuân và TT Tư vấn và Cai nghiện ma túy Những TT này bước đầu đã cóquan tâm đến công tác CSSK cho người CNMT thông qua việc thành lậpcác tổ y tế để khám chữa bệnh cho học viên, nhưng việc làm này chỉmang tính tự phát

Trang 21

Tháng 12 năm 2000, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua LuậtPhòng chống ma túy [59] Trong đó có đề cập đến một số nội dung cóliên quan đến công tác cai nghiện và chăm sóc y tế: “Gia đình có ngườinghiện ma túy có trách nhiệm giúp người nghiện ma túy cai nghiện tạigia đình theo sự hướng dẫn giám sát của cán bộ y tế và chính quyền cơsở.” (Điều 26, khoản 2, điểm b); “Trong thời gian cai nghiện bắt buộc,người nghiện ma túy có trách nhiệm: Lao động, học tập, chữa bệnh đểcai nghiện.” (Điều 30, khoản 2); “Trong cơ sở cai nghiện, những ngườinghiện ma túy sau đây phải được bố trí vào các khu vực tách riêng vớinhững người nghiện ma túy khác để quản lý và chữa bệnh: …Người cóbệnh truyền nhiễm nguy hiểm…” (Điều 32, khoản 1, điểm c) [59], [60].

Do đó, công tác chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho người CNMTtại các TT CBGDLĐXH cần được quan tâm đúng mức [34] Trong đó,cần đặc biệt lưu ý tới các nội dung sau [72]:

- Chế độ dinh dưỡng

- Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại trung tâm, thông qua đảm bảo cácyếu tố về nhân sự, trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất

- Đảm bảo đủ thuốc điều trị bệnh cho CNMT, đặc biệt là các thuốcđiều trị bệnh lao và HIV/AIDS

- Môi trường sống đảm bảo: Cung cấp đủ nước sạch, xử lý rác thải(rác sinh hoạt và rác y tế), nước thải…

1.3 Các giải pháp chăm sóc và nâng cao sức khỏe người nghiện ma túy

1.3.1 Một số nét khái quát về giải pháp giảm tác hại do sử dụng ma túy

Chiến lược phòng chống ma túy đang được áp dụng ở nhiều nướctrên thế giới, đều giống nhau ở chỗ gồm 2 nội dung chính là giảm cung(ngăn chặn nguồn cung cấp ma túy) và giảm cầu (tạo điều kiện cho ngườiNMT tiếp cận các dịch vụ cai NMT) [2], [86] Tuy nhiên, do kết quả cai

Trang 22

NMT còn hạn chế nên nhiều nước đã áp dụng giải pháp thứ 3, đó là biệnpháp giảm tác hại Coi đó là biện pháp tình thế, nhằm đạt được nhữngkết quả trước mắt là làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, HBV, HCVtrong cộng đồng người NTCMT và từ họ ra cộng đồng [84], [96], [101].Giảm tác hại là những hoạt động hỗ trợ về mặt y tế và xã hội nhằmgiúp người NMT, nhất là NTCMT hạn chế bớt những tác hại cho chínhbản thân họ, nhóm của họ và cho cộng đồng từ chính việc sử dụng matúy của họ [15], [47], [49], [74].

Quan điểm của Liên hiệp quốc về giảm tác hại [102], [118]:

- Năm 1974, WHO: Các chương trình nên chú trọng đến việc dựphòng giảm các vấn đề liên quan đến sử dụng ma túy hơn là chỉ tập trungphòng, chống ma túy

- Năm 1998, UNGASS về sử dụng ma túy trên thế giới: Các quốcgia cần tiếp cận cân bằng để kiểm soát ma túy, bao gồm cả việc giảm cáchậu quả có hại

- Năm 2000, Tài liệu của Liên hiệp quốc: Dự phòng HIV nên bắtđầu sớm, toàn diện, bao gồm tiếp cận BCS, điều trị thay thế, tư vấn vàxét nghiệm HIV tự nguyện… và cần đạt độ bao phủ đầy đủ

- Năm 2001, UNGASS về HIV/AIDS: Đến năm 2005, các quốc giađều phải triển khai được các chương trình giảm tác hại

- Năm 2003, Chiến lược sức khỏe toàn cầu của WHO: Giảm tác hại

là một trong những nhân tố chính đáp ứng y tế đối với HIV/AIDS

Hiện nay các nước trên thế giới thường áp dụng 3 biện pháp canthiệp giảm tác hại do sử dụng ma túy gây ra [75], [76], [97]:

- Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

- Trao đổi BKT sạch và cung cấp BCS

- Hợp thức hóa cần sa

Trang 23

1.3.2 Các biện pháp giải độc phạm vi rộng hồi phục sức khỏe cho người nghiện ma túy của Hoa Kỳ

Năm 1979, một tác giả người Mỹ tên là L Ron Hubbard đã đặc biệtchú ý đến lĩnh vực hồi phục sức khỏe cho người NMT Ông đã phát hiện

sự kiện ma túy kết dạng trong mô sống của người nghiện sau khi đã dứt

bỏ ma túy vẫn bị ảnh hưởng dai dẳng nhiều năm về sau [42], [100]

Chương trình thanh tẩy hay là các biện pháp giải độc phạm vi rộngđược phát triển nhằm giúp người NMT phóng trục và đẩy ra khỏi cơ thểnhững cặn độc đã bám và tích đọng trong các mô, tạo điều kiện cho sựtái tạo các mô và các tế bào bị hư hại Nhưng trước đó bắt buộc ngườiNMT phải cai thuốc, không dùng ma túy và áp dụng một chế độ điều trịcốt yếu bằng dinh dưỡng [42], [100]

Người NMT, bên cạnh những yếu tố thể chất bị suy sụp, còn lưu giữtrong tiềm thức những hình ảnh ấn tượng tâm trí gây ra do tác động củathuốc, là những hình ảnh màu 3 chiều của đủ âm thanh, mùi vị, tri giác, cộngthêm với những suy nghĩ và kết luận riêng của người đó là bản sao của trigiác đã có vào một lúc nào đó trong quá khứ Ví dụ: một người nghiện LSD(Lysergic acid Diethylamide) sẽ lưu giữ trong đầu óc những “hình ảnh” ghilại đầy đủ các thị kiến, cảm giác về thể chất, mùi vị, âm thanh… khi ngườiđó chịu ảnh hưởng của thuốc, như một biến cố hiện ra rất rõ với đủ mọi chitiết Đến một lúc nào đó, sau nhiều năm đã bỏ thuốc, những cặn độc củathuốc còn đọng lại trong các mô của cơ thể có thể gây ra hiện tượng tái kíchthích, tức là sự tái phát của một ký ức quá khứ về biến cố dùng LSD, có thểchỉ do một nét nào đó của hoàn cảnh hiện tại diễn ra gần giống hoàn cảnh đãxảy ra biến cố trong quá khứ Lúc đó hình ảnh ấn tượng tâm trí được tái phát,người đó lại phải chịu đựng một lần nữa cảm giác choáng váng, buồn nôn,mệt mỏi, tâm trí rối loạn và tri giác hình ảnh về những người có mặt lúc đó

Trang 24

cùng tất cả thị kiến, âm thanh, mùi vị… kèm theo như lúc xảy ra biến cố đó[42], [51], [54].

Như vậy, ở người NMT có hai yếu tố chống đối nhau rất cân bằng:Một là, chất cặn độc hiện diện thật sự trong cơ thể; Hai là, những hìnhảnh ấn tượng tâm trí do hồi tưởng quá khứ dùng thuốc bị tái kích thích.Nếu chương trình thanh tẩy giải quyết được một mặt của vấn đề, tức làtẩy sạch được chất cặn độc của ma túy thì sẽ điều chỉnh được cho nhiềubệnh, khiến cho mặt kia, những hình ảnh ấn tượng tâm trí không còn bịkích thích thêm nữa Bằng cách phá vỡ cân bằng giữa hai yếu tố vớichương trình giải độc này, chúng ta sẽ phục hồi sức khỏe thể chất và giảiphóng cho người nghiện cả về tâm thần và trí tuệ [42], [58], [100]

Từ những kết quả nghiên cứu đã phát hiện thấy khi tẩy sạch được chấtcặn độc của ma túy thì cũng có thể tẩy sạch được các cặn độc khác tích lũytrong cơ thể Để phục hồi một con người chỉ khi nào hoàn tất được vấn đềgiải quyết hết các tác hại về mặt hóa sinh, tức là tẩy sạch được tất cả các chấtđộc hại hóa sinh tích đọng trong cơ thể, lúc đó mới có thể đi bước kế tiếp, cảithiện khả năng giao tiếp với môi trường xung quanh, rồi cải thiện tâm thần

và trí tuệ Và cũng chính những người đó cho biết là họ cảm thấy phấn khởitrở lại, vui tươi và tha thiết với cuộc sống

Chương trình thanh tẩy là một chế độ điều trị được áp dụng chuẩnxác, gồm những biện pháp sau đây [42], [58], [100]:

1 Tập thể dục bằng cách chạy bộ để kích thích tuần hoàn máu làmcho máu tưới sâu hơn vào bên trong các mô, để tách bong ra các cặn độcbám đọng lại trong đó

2 Tắm hơi theo chỉ dẫn: Ngay sau khi chạy bộ, phải lập tức tắm hơicho xuất nhiều mồ hôi, tạo điều kiện bài tiết ra ngoài cơ thể những cặnđộc đã bị trục xuất ra ngoài các mô

Trang 25

3 Dùng đầy đủ thức uống và chất khoáng để bù đắp lượng đã mấttheo mồ hôi, giữ cân bằng nước muối khoáng cho cơ thể.

4 Dùng đầy đủ các sinh tố để bù đắp lượng sinh tố dự trữ của cơ thểbị tiêu hao do tác hại của ma túy và các chất độc hóa sinh khác

5 Chế độ ăn bình thường, nhiều rau tươi, thêm nhiều dầu ăn để loại bỏ,thay thế các chất béo của cơ thể đã bị biến đổi do ảnh hưởng các chất độc

6 Thời biểu sinh hoạt cá nhân đúng đắn, có đủ thời gian ngủ vànghỉ ngơi bình thường

Những quy tắc này không xa lạ gì với mọi người, nhưng phải đượckết hợp thật chuẩn xác, đúng đắn mới mang lại kết quả tốt đẹp Vìchương trình có tính chất kỹ thuật và đòi hỏi phải gắng sức nên chỉ đượcthực hiện sau khi có bác sỹ khám sức khỏe và phê chuẩn Người bệnhtim, thiếu máu hoặc bệnh về thận, cơ thể quá suy nhược phải có mộtchương trình tương tự nhưng nhẹ nhàng hơn [42], [75]

Một điều cần chú ý là: Khi thực hiện chương trình, người NMTthường bị tái cảm nghiện nhiều kiểu tác động của những chất đã dùngtrước đó, để bảo đảm nếu ở nơi tập trung, phải luôn luôn làm các biệnpháp trên ít nhất với một người nữa dưới sự giám sát của những nhânviên đã được huấn luyện có kinh nghiệm Nếu thực hiện riêng trong giađình thì người thân phải bảo đảm nắm chắc các yếu tố, quy luật và luôn ởcạnh người bệnh để chỉ dẫn, động viên và giải quyết kịp thời những sự

cố có thể xảy ra [42], [80]

1.3.3 Các giải pháp chăm sóc sức khỏe người nghiện ma túy tại Việt Nam

1.3.3.1 Những căn cứ khoa học:

* Nghiện ma túy là một bệnh rối loạn tâm thần và hành vi:

- Xét về mặt sinh học, NMT là một trạng thái nhiễm độc đối với cơthể do dùng chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp Người NMT là người

Trang 26

thường xuyên dùng ma túy để thỏa mãn sự thèm muốn, đam mê tột độ vàthói quen của mình, là những người luôn bị phụ thuộc, bị trói buộc bởitình trạng tâm lý khao khát, thèm muốn và sự đam mê của con người.

- NMT gây ra rối loạn và suy giảm chức năng của nhiều hệ thống,

cơ quan của cơ thể (hệ tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, thần kinh, tiết niệu,sinh dục…) dẫn đến suy nhược toàn thân [41], [76], [107]

- Trong ICD-10, WHO đã xếp NMT là loại bệnh RLTT&HV do cácchất tác động tâm thần và có ký hiệu mã hóa từ F.1.0 đến F.1.9

* Người NMT có nhiều nguy cơ đối với sức khỏe:

- Người NMT cơ thể suy kiệt, người gầy yếu, ăn uống kém, luôn cócảm giác buồn nôn, táo, lỏng thất thường [82]

- Sức đề kháng của cơ thể giảm sút [82]

- Dễ mắc một số bệnh, đặc biệt là những bệnh lây truyền qua đườngmáu, STDs, bao gồm cả HIV/AIDS Nguy hiểm hơn là người NMT cóthể chết do sốc thuốc, dùng thuốc quá liều [82]

* Cơ cấu bệnh tật của người NMT rất đa dạng:

- Người NMT thường mắc nhiều loại bệnh: Viêm mũi, viêm xoang,viêm đường hô hấp, rối loạn tiêu hóa, loạn nhịp tim, viêm tắc tĩnh mạch,vữa xơ động mạch, nhiễm trùng huyết, viêm da, ghẻ, hắc lào… Đặc biệtngười NMT dễ bị nhiễm HIV/AIDS, HBV, HCV… và STDs [56], [72]

- Nhu cầu về khám chữa bệnh của người NMT là rất lớn [56]

* Nhận thức, sự hiểu biết của người NMT thấp:

- Người NMT thường có trình độ học vấn thấp: Khoảng 2/3 ngườiNMT có trình độ học vấn phổ thông cơ sở trở xuống [72]

- Người NMT thường thay đổi về nhân cách, sa sút tinh thần,thường xa lánh nếp sinh hoạt lành mạnh như học tập, vui chơi, lao động,văn hóa, thể thao… thường sống cách biệt, xa lánh mọi người, xa lánh

Trang 27

- Bệnh án: Mỗi học viên vào điều trị cai nghiện tại trung tâm đềuphải được làm bệnh án điều trị Chế độ bệnh án với những nội dung đặctrưng của người NMT sẽ giúp cho việc điều trị cắt cơn nghiện, theo dõi

và điều trị bệnh cho đối tượng một cách có hệ thống

- Lập phiếu theo dõi sức khỏe: Sau giai đoạn điều trị cắt cơn, phụchồi sức khỏe, học viên được phân về các đội để thực hiện các giai đoạntiếp theo của quy trình cai nghiện Lập phiếu theo dõi sức khỏe giúp choviệc quản lý sức khỏe của đối tượng trong suốt thời gian cai nghiện tạitrung tâm

- Tổ chức khám sức khỏe định kỳ: Sau 3–4 tháng tổ chức khám sứckhỏe cho học viên 1 lần để đánh giá chung về tình trạng sức khỏe, pháthiện và điều trị bệnh kịp thời Nội dung khám sức khỏe định kỳ được quyđịnh tại phiếu khám sức khỏe Khám sức khỏe định kỳ 3–4 tháng một lần

Trang 28

nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe của đối tượng qua các giai đoạn, pháthiện và điều trị bệnh kịp thời.

- Tổ chức khám sức khỏe đột xuất cho những trường hợp có biểuhiện sức khỏe giảm sút, nghi ngờ mắc một bệnh nào đó để phát hiệnbệnh và điều trị kịp thời Khám sức khỏe đột xuất là cần thiết vì đốitượng NMT sức khỏe giảm sút, cơ cấu bệnh tật phức tạp do đó cần pháthiện và điều trị kịp thời những bệnh mới phát sinh hoặc tái phát bệnh

+ Tổ chức khám bệnh và điều trị:

Tổ chức khám bệnh và điều trị là một nội dung quan trọng trongđiều trị cai NMT, cần phải tổ chức hợp lý, tuân thủ đúng các quy địnhtrong điều trị cắt cơn và phục hồi sức khỏe Mỗi giai đoạn có những yêucầu riêng, do đó cần có khu điều trị cắt cơn và khu phục hồi sức khỏeriêng Điều trị bệnh cần kết hợp với chế độ dinh dưỡng giúp đối tượngnhanh phục hồi sức khỏe [12], [33], [72], [76]

- Điều trị cắt cơn và phục hồi sức khỏe được tổ chức tại phòng y tếcủa trung tâm theo đúng quy định, có khu điều trị cắt cơn, khu phục hồisức khỏe, khu điều trị các bệnh truyền nhiễm

- Kết hợp điều trị cắt cơn, phục hồi sức khỏe với việc điều trị cácbệnh khác

- Bảo đảm chế độ dinh dưỡng để giúp học viên nhanh chóng phụchồi sức khỏe

* Nhóm giải pháp tâm lý liệu pháp, giáo dục sức khỏe:

+ Tâm lý liệu pháp:

Người NMT thường có thái độ hận đời, chán chường, bất cần…, dođó cần động viên an ủi để đối tượng yên tâm điều trị, tin tưởng vào thầythuốc và kết quả điều trị Từ đó có quyết tâm, phối hợp cùng thực hiệnquy trình cai nghiện [10], [11]

Trang 29

- Động viên đối tượng yên tâm điều trị.

- Tạo ra sự tin tưởng của đối tượng vào chuyên môn, vào kết quảđiều trị cai NMT và các bệnh liên quan

- Nâng cao chất lượng phục vụ, cả về phương tiện dụng cụ và trìnhđộ chuyên môn

- Nâng cao tinh thần phục vụ, ý thức trách nhiệm của CBYT

+ Giáo dục sức khỏe:

Đại đa số đối tượng NMT có trình độ học vấn thấp, kém hiểu biết,lại hay xa lánh mọi người, do đó tiến hành GDSK cho đối tượng NMT làmột việc làm cần thiết Cần biết phát huy vai trò của các đồng đẳng viên

vì “cùng hội, cùng thuyền” đối tượng dễ tiếp thu hơn nhưng cần chú ýđào tạo đồng đẳng viên về kiến thức và kỹ năng truyền thông, có như vậymới đạt được kết quả mong muốn [10], [11]

- Giáo dục sức khỏe trực tiếp:

Kết hợp các hình thức GDSK cho cộng đồng, cho nhóm, cho cánhân

Nội dung: Tác hại của ma túy, các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏengười NMT, cơ cấu bệnh tật ở người NMT, các biện pháp phòng chốngbệnh tật đối với người NMT…

Giảng viên: Là cán bộ y tế có trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng vềcông tác giáo dục sức khỏe và có kiến thức về công tác phòng chống matúy Đây là các cán bộ đã qua đào tạo về giáo dục sức khỏe và cai NMT

- Giáo dục sức khỏe gián tiếp:

Đa dạng hóa các hình thức: Qua các phương tiện thông tin như vôtuyến truyền hình, đài tiếng nói, loa phát thanh, báo, tạp chí, pa-nô, áp-phích, tờ rơi…, đặc biệt là các buổi sinh hoạt văn nghệ tập thể

Có tổ chức chặt chẽ

Trang 30

Nội dung phong phú sát thực với người NMT.

Động viên sự tham gia của học viên

Tiếp tục đào tạo đồng đẳng và duy trì hoạt động

* Nhóm giải pháp về xã hội, tái hòa nhập cộng đồng:

+ Thể dục, thể thao:

Thể dục, thể thao có tác dụng kích thích tuần hoàn máu, giúp chokhí huyết lưu thông, các cơ quan chức năng hoạt động mạnh mẽ hơn, nhờđó mà các chất thải trong cơ thể được đào thải ra ngoài, giúp cho các đốitượng hòa nhập với mọi người, quên đi những ưu tư, buồn bã Những lý

do trên đã khẳng định sự cần thiết phải duy trì các hoạt động thể dục, thểthao đối với các đối tượng cai NMT bắt buộc tại TT CBGDLĐXH Thựchiện khẩu hiệu: Sáng thể dục, chiều thể thao [11], [12], [33], [77]

- Thể dục buổi sáng: Chạy dài, các bài thể dục tay không…

- Thể thao buổi chiều: Bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, đá cầu, kéo co

- Tổ chức: Theo các tổ, đội

+ Lao động liệu pháp:

Lao động liệu pháp giúp cho các cơ quan hoạt động tốt hơn, conngười trở nên linh hoạt hơn, giúp đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, gópcông sức để làm những việc có ích cho xã hội Từ đó đối tượng xóa đinhững mặc cảm cho mình là “đồ bỏ đi” Như vậy lao động là biện phápquan trọng trong điều trị cai NMT và nâng cao sức khỏe của đối tượngcai NMT [11], [12], [33], [77]

Trang 31

- Có tổ chức, quản lý và giám sát.

- Phù hợp với sức khỏe từng người: Đóng gạch, làm đường

- Chấp hành kỷ luật trong lao động

- Tổ chức: Theo các tổ, đội

+ Các biện pháp khác:

- Chế độ dinh dưỡng: Bảo đảm đủ chất dinh dưỡng, nhất là cácvitamin, chất điện giải, lipid, prôtit… Chế độ dinh dưỡng đối với ngườiCNMT là rất quan trọng vì trong thời gian sử dụng ma túy, đối tượng ănuống kém, cơ thể suy kiệt, giai đoạn cai nghiện lại áp dụng các biện phápthể dục, thể thao, lao động liệu pháp… nên bảo đảm dinh dưỡng cho đốitượng là rất cần thiết Đặc biệt cần bổ sung đầy đủ các loại vitamin, điệngiải, prôtit… [11], [12], [72], [85]

- Chế độ nghỉ ngơi: Cần có thời gian biểu thích hợp, có thời giannghỉ ngơi hợp lý Chế độ nghỉ ngơi đối với đối tượng CNMT là cần thiết,giúp cho cơ thể hồi phục sức khỏe Do đó cần thiết phải lập thời gianbiểu cho từng đối tượng phù hợp với lứa tuổi, tình trạng thể lực, bệnh tật

và sức bền bỉ dẻo dai của từng đối tượng [11], [12], [72], [85]

- Xông hơi, xoa bóp: Tiến hành cho học viên xông hơi, xoa bóp giúp

cơ thể thải độc, phục hồi sức khỏe, nhất là sau luyện tập thể dục, thể thao

và lao động liệu pháp

1.4 Kết quả triển khai Nghị quyết 16/2003/QH11 ngày 17/6/2003 của Quốc hội khóa 11 về việc thực hiện thí điểm tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở thành phố Hồ Chí Minh:

1.4.1 Các hoạt động tuyên truyền, tư vấn, giáo dục:

1.4.1.1 Công tác tuyên truyền và tư vấn, tham vấn:

Để quán triệt ý nghĩa nhân văn và lợi ích của Đề án, các Trường,

Trang 32

Trung tâm đã tổ chức hàng vạn cuộc tư vấn, đối thoại nhằm giải quyếttâm tư, nguyện vọng và các vướng mắc phát sinh hàng ngày cho họcviên, người sau cai nghiện Thành phố chỉ đạo thành lập Ban Liên lạcthân nhân gia đình học viên để làm cầu nối giữa Trường, Trung tâm vớicác gia đình nhằm phối hợp động viên học viên an tâm rèn luyện

Hàng tuần, thông qua các buổi thăm nuôi, lãnh đạo các đơn vị tổchức tiếp xúc thân nhân học viên, lắng nghe ý kiến, giải đáp và tham vấn,tuyên truyền cho họ an tâm động viên con em mình học tập, lao động tốt.Nhờ đó đã giải quyết tốt các vấn đề thuộc về tư tưởng, tâm lý nên đa sốgia đình đã phối hợp tốt với các Trường, Trung tâm khuyên bảo con emmình tự nguyện làm đơn chuyển sang giai đoạn quản lý sau cai nghiện.Đây là một yếu tố rất quan trọng đưa đến sự ổn định và quyết định sựthành công của Đề án [81]

1.4.1.2 Công tác giáo dục nhân cách:

Xác định người nghiện không phải là tội phạm mà là người bị khiếmkhuyết một phần nhân cách; các Trường, Trung tâm đã đẩy mạnh côngtác giáo dục nhân cách trên cơ sở Bộ giáo trình do Thành ủy và Uỷ bannhân dân thành phố chỉ đạo Ban Tuyên giáo và Viện Nghiên cứu xã hộithành phố phối hợp với Sở LĐTBXH và Lực lượng Thanh niên xungphong thành phố biên soạn Bộ giáo trình gồm 76 bài, trong đó 40 bàigiáo dục, rèn luyện nhân cách, đạo đức, ý thức pháp luật cho học viên,người sau cai nghiện và 36 bài dành cho cán bộ quản lý, giáo dục viên đểtrang bị kiến thức nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm, phương pháp giáo dụccác đối tượng đặc biệt Bộ giáo trình đã được Bộ LĐTBXH cho áp dụngtại các Trường, Trung tâm trên cả nước từ đầu năm 2007

Cùng với việc xây dựng môi trường sống văn hóa, lành mạnh thânthiện trong học viên, người sau cai nghiện, tổ chức sinh hoạt nhóm theo

Trang 33

phương pháp cộng đổng trị liệu Daytop, giáo dục giá trị sống; công tácgiáo dục đạo đức, nhân cách, ý thức pháp luật, nghĩa vụ công dân đượccác Trường, Trung tâm triển khai tích cực đã làm thay đổi nhận thức,hành vi của học viên, người sau cai nghiện, giúp cho họ khi tái hòa nhậpcộng đồng trở về địa phương với một nhân cách hoàn thiện [81].

1.4.2 Dạy văn hóa, dạy nghề:

Với tình hình học viên đầu vào có trình độ văn hóa thấp (84,6%) vàphần lớn không có nghề nghiệp chuyên môn hoặc việc làm không ổnđịnh (79,46%), thành phố tổ chức các lớp xóa mù chữ, bổ túc văn hóacho học viên, người sau cai nghiện theo chương trình phổ cập của quốcgia nhằm nâng cao học vấn để có khả năng tiếp thu kiến thức dạy nghề

1.4.2.1 Về dạy văn hóa:

Các Trường, Trung tâm đã tổ chức cho 42.713 lượt người theo họccác lớp từ xóa mù chữ đến Đại học và đến nay đã cơ bản hoàn thànhcông tác xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, phấn đấu bổ túc trung học cơsở và trung học phổ thông cho người sau cai nghiện

Với sự năng động và chỉ đạo tích cực của lãnh đạo thành phố, cácTrường, Trung tâm liên kết với Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh tổchức các lớp đại học từ xa ngành công tác xã hội học và quản trị kinhdoanh cho cán bộ, nhân viên và người sau cai tại các Trường, Trung tâm.Niên khóa 2007 – 2008 có 589 sinh viên, trong đó có 111 người sau cainghiện [81]

1.4.2.2 Về dạy nghề:

Các lớp nghề được tổ chức phù hợp với trình độ học vấn, sức khỏe

và hướng nghiệp cho người sau cai nghiện Các ngành nghề thông dụng

là may công nghiệp, điện cơ, điện gia dụng, kỹ thuật viên tin học, sửa xe,lái xe, gò hàn, thủ công mỹ nghệ…với 31.403 lượt người tham gia và dạy

Trang 34

nghề trực tiếp thông qua lao động sản xuất (truyền nghề) cho 6.570 lượtngười Đã có 17.279 người hoàn thành khóa học được cấp giấy chứngnhận nghề, trong đó đã dạy nghề dài hạn tương đương bậc 3/7 cho 1.700người và số tốt nghiệp được cấp văn bằng là 830 người [81].

1.4.3 Các phương thức giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện:

Ý nghĩa của công tác giải quyết việc làm là nhờ lao động rèn luyện

đã góp phần uốn nắn nhận thức, phục hồi nhân cách của người nghiện,trước đây chỉ biết phung phí tiền của vào nghiện ngập, nay đã biết laođộng tạo ra sản phẩm Nhờ lao động, không những tự trang trải được cácchi phí sinh hoạt hàng ngày ở Trường, Trung tâm, nhiều người đã có dư

và gửi tiền tiết kiệm Các năm qua đã có 5.164 người có tiền dư gửi tiếtkiệm với tổng số tiền là 1.234.395.000 đồng Trong những lần đượcthưởng phép, nghỉ tết, có người đem thu nhập từ thành quả lao động traocho cha mẹ, người thân, làm cho người thân thực sự xúc động và tintưởng [81]

Để đẩy mạnh đầu tư dạy nghề và giải quyết việc làm cho người saucai nghiện, trong khi chờ Trung ương ban hành chủ trương, thành phố đãđề ra một số chính sách ưu đãi các doanh nghiệp đầu tư vào các Trường,Trung tâm và công tác triển khai các phương thức giải quyết việc làm đạtmột số kết quả sau:

a) Sản xuất tự túc nâng cao chất lượng bữa ăn

b) Hoạt động liên kết sản xuất, giải quyết việc làm và cải thiện đờisống

c) Giải quyết việc làm tại Cụm công nghiệp Nhị Xuân

d) Phương thức giải quyết việc làm với Tổng Đội lao động tìnhnguyện

đ) Phương thức đưa người sau cai nghiện đi lao động tại xí nghiệp

Trang 35

ngoài Trường, Trung tâm

Các phương thức giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện, đầu

tư vào các Trường, Trung tâm đã thể hiện trách nhiệm xã hội của cácdoanh nghiệp quan tâm đến sụ phát triển cộng đồng, cùng Nhà nước giảiquyết các vấn đề xã hội bức xúc [81]

1.4.4 Chăm sóc sức khỏe học viên và phòng chống HIV/AIDS:

Công tác chăm sóc sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS được đặcbiệt quan tâm, học viên và người sau cai nghiện được lập sổ y bạ vàkhám sức khỏe định kỳ mỗi năm 2 lần Tại mỗi Trường, Trung tâm đềucó Phòng y tế được trang bị tương đương Phòng khám khu vực với đủ cơ

số thuốc theo quy định Bên cạnh đó, các quầy thuốc xã hội hóa được tổchức cung cấp thuốc theo toa bác sĩ và yêu cầu của thân nhân học viên,cùng góp sức với y tế đơn vị chữa trị cho người bệnh [81]

Thành phố phân công các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa làmtuyến sau để tiếp nhận ngay những trường hợp vượt quá khả năng điều trịcủa cơ sở; phân công các bệnh viện hỗ trợ chuyên môn và tổ chức cácđoàn chuyên khoa luân phiên đi khám-chữa bệnh, trao đổi kinh nghiệmvới y, bác sĩ của các Trường, Trung tâm

Các Trường, Trung tâm thành lập các Tổ chống lao, đầu tư trangthiết bị, tổ chức tập huấn về phòng chống lao, xây dựng các khu cách lybệnh lây nhiễm; mở nhiều lớp tập huấn cho người nhiễm HIV/AIDS;triển khai chương trình VCT (xét nghiệm tự nguyện) và điều trị ARV(thuốc kháng virus HIV) tại Trung tâm Giáo dục Dạy nghề và Giải quyếtviệc làm Nhị Xuân, Cụm công nghiệp Nhị Xuân, Trung tâm Giáo dụcLao động – Bảo trợ xã hội Phú Văn, Trung tâm Tư vấn Cai nghịện matúy, Trường Giáo dục đào tạo và Giải quyết việc làm số 4 với tổng kinhphí của chương trình trên 5 tỷ đồng Tổ chức và nhân rộng mô hình giáo

Trang 36

dục viên đồng đẳng tại các Trường, Trung tâm với trên 1.000 người thamgia [81].

Để tăng cường điều trị đối tượng nhiễm HIV chuyển giai đoạnAIDS, ngoài Bệnh viện Bình Triệu tiếp nhận bệnh nhân AIDS từ các cơsở chữa bệnh chuyển viện, năm 2007 thành phố chuyển đổi Trung tâmTrọng điểm cai nghiện ma túy thành Bệnh viện Nhân Ái chuyên khoađiều trị bệnh AIDS với quy mô dự kiến 1.000 giường Các đối tượngchuyển AIDS giai đoạn cuối khi có người thân tiếp nhận thì được về giađình chăm sóc; trường hợp không còn thân nhân hoặc thân nhân từ bỏ thìchuyển về điều trị tại Bệnh viện Nhân Ái Tại đây có 60 người sau cainghiện tình nguyện và có 25 nữ tu, tu sĩ thiện nguyện thuộc các Dòng tucủa thành phố thành lập Cộng đoàn Mai Linh đến chăm sóc người nhiễmHIV/AIDS [81]

Các Trường, Trung tâm tổ chức tốt bếp ăn công nghiệp, thườngxuyên thực hiện “3 diệt” (diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột), bảo đảm nướcsạch cho ăn uống và đủ nước dùng cho sinh hoạt; thực hiện đúng quytrình xử lý nước thải, rác thải y tế; bảo vệ môi trường, cảnh quan khuvực; phân công y - bác sĩ theo dõi an toàn vệ sinh thực phẩm, y tế cộngđồng, vì vậy nhiều năm qua không để xảy ra trường hợp bị dịch bệnhhoặc ngộ độc thực phẩm nào [81]

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

* Người sử dụng dịch vụ y tế:

Gồm 2.800 học viên cai nghiện ma túy tại 07 Trung tâm Chữa bệnhgiáo dục lao động xã hội thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội,thành phố Hồ Chí Minh

+ Đối tượng được thông báo và được giải thích về mục tiêu nghiêncứu

+ Tự nguyện tham gia nghiên cứu

+ Đủ minh mẫn để trả lời các câu hỏi phỏng vấn

Không chọn các đối tượng sau vào nghiên cứu:

+ Người từ chối tham gia nghiên cứu

+ Người không đủ minh mẫn để trả lời phỏng vấn

* Người cung cấp dịch vụ y tế:

Gồm 195 cán bộ y tế của 07 TT CBGDLĐXH, thuộc Sở Lao động –Thương binh và Xã hội, thành phố Hồ Chí Minh

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 07 TT CBGDLĐXH, thuộc Sở Laođộng – Thương binh và Xã hội, thành phố Hồ Chí Minh

* Một số đặc điểm của thành phồ Hồ Chí Minh liên quan đến các nội dung nghiên cứu:

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộcTrung ương, về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5

Trang 38

huyện Toàn thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp xã/phường, bao gồm:

259 phường, 58 xã và 5 thị trấn, với tổng diện tích 2.095,01 km², theo kếtquả điều tra dân số ngày 01/04/2009, dân số thành phố là 7.162.864 người,mật độ 3.419 người/km² Lượng dân cư này tập trung chủ yếu trong nộithành, gồm 5.881.511 người, mật độ lên tới 11.906 người/km², trong khi đócác huyện ngoại thành chỉ có 1.281.353 người, đạt 801 người/km²

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước, tuychỉ chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của cả nước nhưng Thành phốchiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và34,9% dự án nước ngoài Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người ở thànhphố đạt 2.800 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước (1.168USD/năm) Tổng GDP cả năm 2010 đạt 418.053 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởngđạt 11,8%

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế – xã hội củathành phố Hồ Chí Minh, những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng bộclộ khá rõ, nhất là các tệ nạn nghiện ma túy, mại dâm…Tệ nạn nghiện ma túygia tăng tạo sự bất an trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến công cuộc xâydựng và phát triển của thành phố Đồng thời, ma túy còn gây tác hại lớn chosức khỏe con người Theo số liệu của các cơ quan chức năng, đến tháng 12năm 2010 toàn thành phố có trên 30.000 người nghiện ma túy đang đượcquản lý tại 23 TT CBGDLĐXH Kết quả khám sức khỏe cho học viênCNMT tại các TT CBGDLĐXH cho thấy: chỉ có 50% học viên đủ sức khỏe

để lao động; 20–30% học viên chỉ có thể lao động nhẹ, còn lại (20–25%) họcviên có sức khỏe kém, không thể lao động được, đồng thời phải có chế độchăm sóc sức khỏe đặc biệt Do đó, chăm sóc và hồi phục sức khỏe chongười CNMT tại các TT CBGDLĐXH là việc làm hết sức cần thiết Trong

kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu 3 giảm về phòng chống các tệ nạn

Trang 39

xã hội của Ủy ban nhân dân thành phố đã nhấn mạnh mục tiêu tập trungquản lý người nghiện ma túy để chữa trị, phục hồi sức khỏe và nhân cách.

* Một số đặc điểm của 7 TT CBGDLĐXH là địa điểm nghiên cứu:

Bảng 2.1 Một số đặc điểm của 7 Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao

động xã hội là địa điểm nghiên cứu.

Trung tâm

Một số đặc điểm

Số đội (khu) (tối đa)

Địa điểm triển khai

Khả

năng thu dung (tối đa)

Số học viên hiện có (2006)

Công suất thu dung (%)

Trang 40

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 01/2007 – 6/2011 được chia làm 2giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Điều tra mô tả thực trạng và xây dựng các giải phápcan thiệp, từ tháng 01/2007 – 12/2007

+ Điều tra mô tả cắt ngang: Từ tháng 01/2007 – 6/2007

+ Xử lý số liệu và xây dựng các giải pháp can thiệp: Từ tháng 7 – 12/2007

- Giai đoạn 2: Áp dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp,

từ tháng 01/2008 – 6/2011

+ Áp dụng các giải pháp can thiệp: Từ tháng 01/2008 – 12/2010.+ Điều tra cuối kỳ, phân tích, đánh giá hiệu quả các giải pháp canthiệp: Từ tháng 01/2011 – 6/2011

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Là nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang kết hợp với phân tích số liệuhồi cứu và can thiệp cộng đồng có so sánh trước sau can thiệp và so sánhvới nhóm chứng

- Nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang: Về tình hình sức khỏe, bệnhtật, sử dụng DVYT của người CNMT và khả năng đáp ứng của các Trungtâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội

- Nghiên cứu phân tích số liệu hồi cứu: Về tình hình khám chữabệnh và sử dụng các dịch vụ y tế cho người CNMT tại các Trung tâmChữa bệnh giáo dục lao động xã hội

- Nghiên cứu can thiệp cộng đồng: Áp dụng một số giải pháp canthiệp nhằm nâng cao năng lực khám chữa bệnh và hoạt động CSSK chongười CNMT tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội Đánhgiá hiệu quả so với trước can thiệp và so với đối chứng

Ngày đăng: 16/04/2014, 03:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Hình 2.1. Khung lý thuyết nghiên cứu (Trang 41)
2.2.5.5. Sơ đồ nghiên cứu can thiệp: - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
2.2.5.5. Sơ đồ nghiên cứu can thiệp: (Trang 48)
Bảng 2.2. Nội dung và các chỉ số nghiên cứu. - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 2.2. Nội dung và các chỉ số nghiên cứu (Trang 52)
Bảng 3.2. Phân bố tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy theo nhóm tuổi - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.2. Phân bố tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy theo nhóm tuổi (Trang 57)
Bảng 3.3. Phân bố tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy theo trình độ học vấn Trung tâm - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.3. Phân bố tỷ lệ học viên cai nghiện ma túy theo trình độ học vấn Trung tâm (Trang 57)
Bảng 3.5. Số lần vào trung tâm cai nghiện ma túy của học viên Trung tâm n Lần đầu Từ 2 – 3 lần 4 lần trở lên Số lần - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.5. Số lần vào trung tâm cai nghiện ma túy của học viên Trung tâm n Lần đầu Từ 2 – 3 lần 4 lần trở lên Số lần (Trang 59)
Bảng 3.6. Thời gian học viên đã cai nghiện ma túy tại các trung tâm   nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.6. Thời gian học viên đã cai nghiện ma túy tại các trung tâm nghiên cứu (Trang 61)
Bảng 3.7. Số lần ốm đau trong tháng trước điều tra của học viên cai   nghiện ma túy tại các trung tâm nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.7. Số lần ốm đau trong tháng trước điều tra của học viên cai nghiện ma túy tại các trung tâm nghiên cứu (Trang 61)
Bảng 3.8. Một số bệnh thường mắc của học viên cai nghiện ma túy  Các bệnh Số lượt mắc bệnh (n = 1.067) - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.8. Một số bệnh thường mắc của học viên cai nghiện ma túy Các bệnh Số lượt mắc bệnh (n = 1.067) (Trang 62)
Bảng 3.10. Nhu cầu dùng thuốc thay thế của học viên cai nghiện ma   túy - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.10. Nhu cầu dùng thuốc thay thế của học viên cai nghiện ma túy (Trang 63)
Bảng 3.12. Tỷ lệ mắc bệnh trong tổng số lần khám bệnh ngoại trú của   học viên cai nghiện ma túy - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.12. Tỷ lệ mắc bệnh trong tổng số lần khám bệnh ngoại trú của học viên cai nghiện ma túy (Trang 64)
Bảng 3.14. Tình hình xử trí của học viên khi nghi ngờ nhiễm HIV Trung tâm n - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.14. Tình hình xử trí của học viên khi nghi ngờ nhiễm HIV Trung tâm n (Trang 65)
Bảng 3.15. Thực trạng sử dụng các test – kit HIV tại các trung tâm  Chỉ số nghiên cứu Năm 2006 Năm 2007 Chung - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.15. Thực trạng sử dụng các test – kit HIV tại các trung tâm Chỉ số nghiên cứu Năm 2006 Năm 2007 Chung (Trang 66)
Bảng 3.16. Tình hình xét nghiệm HIV của học viên cai nghiện ma túy - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.16. Tình hình xét nghiệm HIV của học viên cai nghiện ma túy (Trang 66)
Bảng 3.17. Tình hình tổ chức các buổi giáo dục sức khỏe cho học viên   tại các trung tâm - Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của
Bảng 3.17. Tình hình tổ chức các buổi giáo dục sức khỏe cho học viên tại các trung tâm (Trang 67)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w