Trong giai đoạn 2006 - 2010, giá trị gia tăng xuất khẩu mặt hàng điều Việt Nam được đánh giá là đạt mức tăng trưởng khá do các doanh nghiệp ngành điều đã nỗ lực trong việc nâng cao giá t
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP & THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG ĐIỀU
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: ThS Phạm Hưng
9125
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP & THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG ĐIỀU
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Thực hiện theo Hợp đồng số 84.11.RD/HĐ-KHCN ngày 14 tháng 03 năm 2011 giữa Bộ Công Thương và Trung tâm Thông tin Công nghiệp & Thương mại
Hµ néi, 2011
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
AFI Hiệp hội Công nghiệp Thực phẩm Hoa Kỳ
FAO Tổ chức nông lương thế giới
FDA Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
HACCP Điểm kiểm soát tới hạn mối nguy hại đối với hàng thực phẩm
VietGAP Chương trình GAP Việt Nam
XK Xuất khẩu
VINACAS Hiệp hội Điều Việt Nam
VN Việt Nam
WRAP Chương trình trách nhiệm sản xuất toàn cầu
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 4MỤC LỤC Trang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỀU THẾ GIỚI 5
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng điều thế giới những năm
1.1.1.1 Sản xuất 51.1.1.2 Chế biến 10
1.1.2 Thương mại mặt hàng điều trên thị trường thế giới 15
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao giá trị gia tăng đối với
mặt hàng điều xuất khẩu
1.2.3 Các yếu tố liên quan đến thị trường và sản phẩm 291.2.3.1 Về tiêu chuẩn sản phẩm 29
Chương 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU VÀ KHẢ
NĂNG NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA MẶT HÀNG
ĐIỀU XUẤT KHẨU VIỆT NAM
31
2.1 Một số nét về tình hình sản xuất mặt hàng điều của Việt Nam
2.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng điều của Việt Nam
2.3 Thực trạng khả năng nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng điều
xuất khẩu Việt Nam
48
2.3.1.1 Trong quá trình sản xuất điều thô nguyên liệu 49
Trang 52.3.1.2 Trong hoạt động chế biến 50
2.3.3 Một số chính sách liên quan đến phát triển sản xuất, xuất khẩu
điều của Việt Nam
54
2.4 Đánh giá chung về thực trạng sản xuất, xuất khẩu và khả năng
nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng điều Việt Nam 57
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG
CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG MẶT HÀNG ĐIỀU XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
62
3.1 Cơ hội và thách thức trong việc nâng cao giá trị gia tăng mặt
hàng điều xuất khẩu của Việt Nam 62
3.2 Một số định hướng lớn nhằm phát triển xuất khẩu và nâng cao
giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu của Việt Nam
3.2.1.2 Dự báo phát triển xuất khẩu mặt hàng điều Việt Nam đến 2015 69
3.2.2 Định hướng về việc nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất
khẩu của Việt Nam
71
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều
xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 72
3.3.1 Nhóm giải pháp đối với Chính phủ và các Bộ, Ngành liên quan 73
3.3.2 Nhóm các giải pháp đối với doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất
3.4.1 Kiến nghị với Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Công
3.4.2 Kiến nghị với người sản xuất và các doanh nghiệp chế biến, xuất
3.4.4 Với các tổ chức khoa học công nghệ có liên quan đến sản xuất,
Trang 6DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng
Bảng 1.1: Các quốc gia trồng điều phân theo châu lục 5Bảng 1.2: Diện tích trồng điều của một số nước trên thế giới 6Bảng 1.3: Diện tích trồng điều của Ấn Độ 2006 – 2010 6Bảng 1.4: Diện tích và sản lượng điều của Braxin 2006 - 2010 7Bảng 1.5: Diện tích trồng điều của Việt Nam 2006 - 2010 8Bảng 1.6: Sản lượng điều thô của các nước sản xuất chính trên thế giới 9Bảng 1.7: Xuất khẩu hạt điều của Việt Nam 2006 - 2011 16Bảng 1.8: Xuất khẩu hạt điều của Ấn Độ 2006 - 2010 17Bảng 1.9: Xuất khẩu hạt điều của các nước xuất khẩu chính trên thế giới 18Bảng 1.10: Giá XK hạt điều của các nước XK điều chính trên thế giới 20Bảng 1.11: Lượng và giá trị NK điều của các nước NK chính trên thế giới 21Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng điều của Việt Nam 2006 – 2010 32Bảng 2.2: Diện tích điều Việt Nam phân theo địa phương 2006 - 2010 34Bảng 2.3: Sản lượng hạt điều Việt Nam 2006 – 2010 35Bảng 2.4: Năng suất điều ở Việt Nam các năm 2006 - 2010 35Bảng 2.5: Năng suất điều tại một số địa phương giai đoạn 2006 - 2010 36Bảng 2.6: Lượng và kim ngạch xuất khẩu điều Việt Nam 2006 - 2011 40Bảng 2.7: Diễn biến giá XK mặt hàng điều của Việt Nam 2006 -2011 41Bảng 2.8: Giá XK trung mặt hàng điều VN với một số nước khác 42Bảng 2.9: Giá hạt điều xuất khẩu của Việt Nam tuần giữa tháng 10/2011 43Bảng 2.10: Kim ngạch XK hạt điều VN sang các thị trường chủ yếu 2006-2011 45Bảng 2.11: Xuất khẩu hạt điều của VN sang Trung Quốc 2006 - 2011 47Bảng 2.12: Xuất khẩu mặt hàng điều Việt Nam sang Hà Lan 2006 – 2011 47Bảng 3.1: Dự báo kim ngạch XK mặt hàng điều VN giai đoạn đến 2015 70
Biểu đồ
Biểu đồ 1.1: Thị trường xuất khẩu điều thô của Bờ Biển Ngà năm 2010 14
Biểu đồ 1.2: Sản lượng điều nhân thế giới 2004 - 2011 15
Biểu đồ 1.3: Lượng điều xuất khẩu thế giới năm 2010 theo nguồn cung 16
Biểu đồ 1.4: Lượng và giá hạt điều XK của các nước XK chính 2010 19
Biểu đồ 2.1: Diện tích trồng điều Việt Nam phân theo vùng năm 2010 33Biểu đồ 2.2: Lượng điều xuất khẩu của Việt Nam 2010 theo thị trường 40Biểu đồ 2.3: Kim ngạch XK điều Việt Nam 2010 theo thị trường 45
Sơ đồ 2.1: Tổng quan các bước chế biến mặt hàng điều tại Việt Nam 51Biểu đồ 2.4: Đánh giá năng lực tham gia của VN vào chuỗi giá trị điều toàn cầu 53
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam hiện là một trong ba quốc gia (Ấn Độ, Việt Nam, Brazil) sản xuất, chế biến và xuất khẩu mặt hàng điều hàng đầu thế giới Lượng điều nhân xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 chiếm tới 54% lượng nhân điều thương mại toàn cầu
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2010, Việt Nam có 391,4 ngàn héc ta (ha) trồng điều (trong đó, Bình Phước là địa phương có diện tích trồng điều nhiều lớn nhất cả nước với 155,7 ngàn ha (chiếm 40,85%), Đồng Nai trồng 50,4 ngàn ha, Đắc Lắc trồng 29,9 ngàn ha, các tỉnh khác như: Bình Thuận, Đắc Nông, Bình Định… với diện tích khoảng trên dưới 20 ngàn ha)
Trong giai đoạn 2006 - 2010, xuất khẩu mặt hàng điều của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng lẫn kim ngạch Năm 2006, Việt Nam đã xuất khẩu được 128 ngàn tấn điều nhân, đạt kim ngạch 503,9 triệu USD Năm 2007, các con số tương ứng là 154,7 ngàn tấn và 645,1 triệu USD Năm 2008 là năm thành công của ngành điều Việt Nam Trong năm này, điều Việt Nam được mùa, kết hợp với giá điều thế giới tăng cao nên cả nước đã xuất khẩu 160,8 ngàn tấn điều nhân, kim ngạch xuất khẩu đạt 915,8 triệu USD Năm 2009, các doanh nghiệp ngành điều cả nước đã xuất khẩu được 177,2 ngàn tấn (tăng 15% so với lượng xuất khẩu năm 2008) nhưng giá trị chỉ đạt khoảng 846,6 triệu USD (giảm khoảng 7,5% so với năm trước) Năm
2010, với lượng xuất khẩu đạt 194,6 ngàn tấn và kim ngạch đạt 1.134,7 triệu USD, Việt Nam tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu mặt hàng điều
Tính đến hết tháng 11 năm 2011, xuất khẩu mặt hàng điều của Việt Nam đã đạt khối lượng 161 nghìn tấn, kim ngạch đạt gần 1,34 tỷ USD (giảm 9,3% về lượng nhưng vẫn tăng 31,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010, chiếm 1,53% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước, đạt 80,5% kế hoạch năm 2011) Như vậy, xuất khẩu điều cả năm 2011 có thể đạt 177,8 nghìn tấn, kim ngạch ước tính đạt 1,47 tỷ USD, tuy giảm 8,6% về khối lượng nhưng kim ngạch vẫn tăng xấp xỉ 30% so với năm 2010
Trang 8Nhìn chung, sự gia tăng liên tục của khối lượng và giá trị xuất khẩu đã chứng tỏ năng lực sản xuất, chế biến mặt hàng điều của Việt Nam đang không ngừng được cải thiện Hơn nữa, giá điều xuất khẩu trên thị trường thế giới tăng trong những năm gần đây đã kích thích việc trồng, chăm sóc cây điều để
có năng suất và sản lượng cao, đồng thời, hoạt động chế biến điều trong nước cũng theo đó có nhiều thuận lợi cả về nguồn nguyên liệu, đầu tư đổi mới công nghệ… để chế biến điều nhân xuất khẩu
Theo số liệu của Bộ Công Thương, năm 2010, mặt hàng điều Việt Nam
đã được xuất khẩu sang 83 thị trường ở hầu khắp các châu lục (chiếm 35,22% giá trị xuất khẩu điều nhân của thế giới) Mặt hàng điều Việt Nam hiện đã thâm nhập vào hầu khắp các thị trường tiêu thụ điều chính trên thế giới, đặc biệt là các thị trường có yêu cầu cao về chất lượng, ATVSTP, các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường như: Hoa Kỳ, EU, Canađa, Úc Đây được coi là thành công lớn của ngành điều Việt Nam trong hoạt động tìm kiếm và thâm nhập thị trường
Từ đầu năm 2011 đến nay, xuất khẩu mặt hàng điều Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào các thị trường truyền thống như: Hoa Kỳ (chiếm 36%), Trung Quốc (17%), Hà Lan (16%)
Trong giai đoạn 2006 - 2010, giá trị gia tăng xuất khẩu mặt hàng điều Việt Nam được đánh giá là đạt mức tăng trưởng khá do các doanh nghiệp ngành điều đã nỗ lực trong việc nâng cao giá trị gia tăng từ các khâu sản xuất nguyên liệu thô, chế biến, tăng cường áp dụng các biện pháp marketing và xúc tiến thương mại để mặt hàng điều có thể thâm nhập hiệu quả vào các thị trường lớn, có giá xuất khẩu và giá trị gia tăng xuất khẩu ngày càng cao
Tuy nhiên, sự tham gia của mặt hàng điều Việt Nam vào chuỗi giá trị mặt hàng điều toàn cầu vẫn đang ở mức thấp, các mặt hàng điều xuất khẩu chưa được đa dạng, chủ yếu ở dạng điều nhân Các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài sau khi nhập khẩu điều nhân của Việt Nam sẽ tiếp tục chế biến sâu thành các sản phẩm có thể sử dụng ngay để phục người tiêu dùng và tạo giá trị gia tăng cao tại các công đoạn này
Để nâng cao hiệu quả sản xuất, chế biến, xuất khẩu và nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập và tự do hóa thương
Trang 9mại trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện đề tài "Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao giá trị gia tăng đối với mặt hàng điều xuất khẩu của Việt Nam" là rất
cần thiết
Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu của các tổ chức, chuyên gia quốc
tế về phát triển sản xuất, chế biến, xuất khẩu và các vấn đề liên quan đến giá trị gia tăng mặt hàng điều như: Andrew Sleigh and Hans von Lewinski,
China: Moving Up the Value Chain, Outlook Journal, September 2006;
Andrew W Shepherd, Approaches to linking producers to markets, FAO,
2007; Anthony M.Zola, The Role of Global Value Chains in Agribusiness
SME Development in the GMS, Group Meeting on Promoting SMEs
Participation in GVC in GMS, 2006; International Trade Centre, Statisstic
Database, 2007, 2008, 2009, 2010; Jodie Keane (2008), A ‘New’ Approach to Global Value Chain Analysis, Overseas Development Institue…
Ở trong nước, đã có một số nghiên cứu và bài viết có liên quan đến thực trạng và triển vọng phát triển sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điều của Việt
Nam như: Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Tăng cường năng lực tham
gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”, Hà Nội, 2008 - 2010; Bộ Nông nghiệp & PTNT, Chương trình xúc tiến thương mại của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn
2009 - 2015 và định hướng đến năm 2020", Hà Nội 2009; Bộ Nông nghiệp &
PTNT, Đề án phát triển thương mại hàng nông lâm thủy sản đến 2015, tầm
nhìn 2020, Hà nội, 2/2009; Bộ Nông nghiệp & PTNT, Báo cáo tổng kết hoạt động ngành Nông nghiệp & PTNT các năm từ 2006 đến 2010; Bộ Công
Thương, Học viện Hành chính quốc gia, Đánh giá tác động sau 2 năm gia
nhập WTO đối với kinh tế Việt Nam - Ngành cà phê ca cao, hồ tiêu, hạt điều,
Hà Nội, 2008; TS Nguyễn Đình Long & TS Đoàn Quang Thiệu, Viện CS và
chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Thực trạng ngành điều Việt Nam
trong chuỗi giá trị ngành điều thế giới, Hà Nội 2008; TS.Nguyễn Sinh Cúc,
Tổng cục Thống kê, Thực trạng sản xuất, chế biến hàng nông sản xuất khẩu
của Việt Nam dưới giác độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, Hà Nội 2009;
Hiệp hội Điều Việt Nam, “Ngành Điều Việt Nam chính thức gia nhập câu lạc bộ
"Xuất khẩu 1 tỷ USD", Hà Nội 12/2010; Hồng Nhung, Để cây điều phát triển
Trang 10bền vững, Báo Đồng Nai 22/02/2011; Bản tin của Hiệp hội Điều Việt Nam
các năm 2006 đến 2010; Các website: www.vinacas.com.vn; www.agroviet.vn;
www.vinanet.vn; www.vietrade.gov.vn; www.uncomtrade; www.ITC … Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống thực trạng sản xuất, chế biến, xuất khẩu và việc nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu của nước ta trong những năm gần đây và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới
Mục tiêu chính của Đề tài là: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng điều xuất khẩu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là hoạt động sản xuất, chế biến, xuất khẩu mặt hàng điều của nước ta và các chính sách, cơ chế của Nhà nước liên quan đến việc nâng cao giá trị gia tăng đối với mặt hàng điều xuất khẩu của Việt Nam
Do giới hạn về nhiều mặt, Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động sản xuất, chế biến, xuất khẩu mặt hàng điều của Việt Nam và các chính sách, cơ chế của Nhà nước liên quan đến việc nâng cao giá trị gia tăng đối với mặt hàng điều xuất khẩu của Việt Nam từ 2006 đến nay và dự báo cho những năm tiếp theo
Để thực hiện việc nghiên cứu Đề tài, một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng kết hợp là: Thu thập số liệu, tài liệu, khảo sát thực chứng, phân tích, so sánh, tổng hợp, phương pháp chuyên gia
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về thị trường mặt hàng điều thế giới
Chương 2: Thực trạng sản xuất, xuất khẩu và khả năng nâng cao giá trị
gia tăng của mặt hàng điều xuất khẩu Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao giá trị gia tăng
mặt hàng điều xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới
Trang 11Chương 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MẶT HÀNG ĐIỀU THẾ GIỚI
1.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ MẶT HÀNG ĐIỀU THẾ GIỚI NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Bảng 1.1: Các quốc gia trồng điều phân theo châu lục
Châu lục Quốc gia trồng điều
Philipin, Srilanka, Thái lan, Trung Quốc và Việt Nam Châu Đại Dương Úc
Châu Mỹ
Braxin, Clombia, Costarica, Cuba, Dominica, Equado, bang Florida (Mỹ), Goa temala, Guyana, Jamaica, Panama, Peru, Puectorico
Châu Phi
Angola, Benin, Burkina Faso, Bờ Biển Ngà, Cameron, Ghana, Guinea, Guinea-Bissau, Kenya, Madagasca, Mozambich, Nigeria, Nam Phi, Senegan, Tanzania, Togo Nguồn: FAO, 2010
Cây điều được trồng ở nhiều quốc gia nhưng tập trung chủ yếu ở một số quốc gia châu Á và Tây Phi, trong đó có 4 nước có diện tích trồng điều lớn nhất năm 2010 là: Ấn Độ (908.500 ha), Braxin (776.500 ha), Bờ Biển Ngà (665.000 ha) và Việt Nam (391.400 ha) Diện tích trồng điều của 4 nước này chiếm tới 65% tổng diện tích trồng điều thế giới
1 FAOSTAT, 2010
Trang 12Bảng 1.2: Diện tích trồng điều của một số nước trên thế giới
Bảng 1.3: Diện tích trồng điều của Ấn Độ 2006 - 2010
Nguồn: Tính toán từ số liệu của FAO, 2011
Từ 2006 đến nay, Ấn Độ luôn duy trì vị trí số 1 thế giới về diện tích trồng điều Diện tích trồng điều của Ấn Độ tương đối ổn định (từ 837.000 ha
Trang 13năm 2006 lên 894.000 ha năm 2009 và đạt trên 900.000 ha năm 2010), tốc độ tăng diện tích trồng điều bình quân của nước này giai đoạn 2006 - 2010 đạt mức gần 3%/năm
Cho đến nay, hầu hết diện tích đất thích hợp để trồng điều của Ấn Độ
đã được khai thác và điều này cho thấy sản lượng điều của Ấn Độ sẽ ổn định trong những năm tới đây
Tuy nhiên, với diện tích lớn (đứng thứ 2 trên thế giới sau Ấn Độ) và năng lực chế biến cao, Braxin vẫn là một trong những nước cung cấp mặt hàng điều lớn cho thị trường thế giới
Trang 14chế biến Điều này khiến cho giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu của quốc gia này đang ở mức thấp và kém cạnh tranh trên thị trường điều toàn cầu
Việt Nam
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp & PTNT, diện tích trồng điều ở Việt Nam năm 2008 đạt 321,1 ngàn ha, năm 2009 đạt 340,8 ngàn ha và năm 2010 đạt 391,4 ngàn ha2 và nước ta đã trở thành quốc gia có diện tích trồng điều lớn thứ 4 thế giới
Bảng 1.5: Diện tích trồng điều của Việt Nam 2006 - 2010
Nguồn: Bộ Nông nghiệp & PTNT
Ở Việt Nam, cây điều được trồng chủ yếu ở khu vực phía Nam Vùng trồng điều lớn nhất ở Việt Nam là khu vực Đông Nam Bộ với diện tích chiếm khoảng 66% tổng diện tích trồng điều của cả nước, tiếp đó là vùng Tây Nguyên với diện tích chiếm khoảng 24,83% tổng diện tích điều cả nước và vùng Nam Trung Bộ với diện tích chiếm khoảng 8% tổng diện tích cây điều cả nước Các vùng khác (vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ) thì cây điều có diện tích không lớn, trồng phân tán tại một số địa phương Năm
2010, Bình Phước là địa phương có diện tích trồng điều lớn nhất cả nước với 155,7 ngàn ha (chiếm 40,85%), Đồng Nai trồng 50,4 ngàn ha, Đắc Lắc trồng 29,9 ngàn ha, các tỉnh khác như: Bình Thuận, Đắc Nông, Bình Định… với diện tích khoảng trên dưới 20 ngàn ha
Với chủ trương phát triển ngành điều một cách bền vững, ngoài việc đầu tư hình thành vùng nguyên liệu tập trung nhằm cung cấp ổn định lượng
2 Bộ Nông nghiệp & PTNT, Thống kê nông nghiệp 2010, Phụ lục 6 - Diện tích, năng suất,
sản lượng cây lâu năm 2010.
Trang 15điều thô phục vụ công nghiệp chế biến, Việt Nam đang thực hiện việc hợp tác đầu tư phát triển diện tích trồng điều với Campuchia (trên diện tích 200.000 ha), hợp tác đầu tư với một số nước Châu Phi (trước hết là Mô- dăm- bích) hình thành các mô hình hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết trồng và thu mua hạt điều thích hợp (trên diện tích từ 120.000 ha đến 150.000 ha)
c Về sản lượng điều toàn cầu
Theo thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), sản lượng điều
thô thế giới giai đoạn 2006 - 2010 đạt bình quân gần 3 triệu tấn/năm
Bảng 1.6: Sản lượng điều thô của các nước sản xuất chính trên thế giới
Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2011
Năm quốc gia có sản lượng điều thô lớn nhất thế giới là: Ấn Độ (600 -
700 ngàn tấn/năm); Nigiêria (trên 600 ngàn tấn/năm); Việt Nam (275 - 310 ngàn tấn/năm); Bờ Biển Ngà (250 - 300 ngàn tấn/năm); Braxin (200 - 250 ngàn tấn/năm) Một số nước khác có sản lượng điều tương đối lớn như:
Inđônêxia, Philippin…
Hàng năm, sản lượng điều của các nước châu Phi chiếm gần 37% tổng sản lượng điều thế giới Năm 2006, sản lượng điều của châu Phi đạt 605 ngàn tấn và duy trì ở mức 659 - 700 ngàn tấn trong những năm tiếp theo, trong đó
Trang 16khoảng 95% điều thô được xuất khẩu Những nước sản xuất chính của châu Phi là: Bờ biển Ngà, Guinea-Bissau và Tanzania
Là nước sản xuất điều lớn nhất châu Phi, Bờ biển Ngà hiện có gần 1,5 triệu người tham gia vào các hoạt động của ngành điều và cung ứng khoảng 22% tổng lượng điều nhập khẩu của Ấn Độ
1.2 Chế biến
Chế biến điều xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng trong chuỗi giá trị mặt hàng điều toàn cầu Mỗi quốc gia có thể áp dụng những cách/phương thức chế biến khác nhau và có thể họ chỉ tham gia vào một số công đoạn chế biến điều nhất định Trong khi các doanh nghiệp ở Braxin luôn quan tâm và thực hiện cơ giới hóa trong khâu chế biến điều thì các doanh nghiệp chế biến điều ở Ấn Độ vẫn sử dụng lao động thủ công Thậm chí, ngay tại Ấn Độ, ở mỗi vùng khác nhau thì phương pháp chế biến điều được áp dụng rất khác nhau (Ví dụ: Ở khu vực Mangalore của bang Karnataka sử dụng phương pháp hấp nhưng các khu vực Orissa và Andhra Pradesh lại sử dụng phương pháp chiên…)
Sau khi chế biến, nhân điều được tách khỏi vỏ và phân loại theo các tiêu chuẩn nhất định về kích cỡ, hình dáng, màu sắc như: Điều nhân nguyên (wholes), nhân vỡ dọc (split), nhân vỡ (brokens), nhân vụn (butts), nhân vụn sém (scorched butts) Nhân điều được phân thành 23 - 26 loại (grades) Nhân nguyên được bán như thực phẩm ăn nhanh (snack) trong khi nhân vỡ dọc thường được dùng làm nguyên liệu chế biến các thực phẩm khác
Điều nhân nguyên sau đó được phân tiếp thành những loại khác nhau căn cứ số lượng hạt trên mỗi pound (tương đương 0,45 kg) như: Loại W320, loại W180, loại W450…
Với sản lượng điều thô đạt khoảng 3 triệu tấn/năm, lượng điều nhân thế giới dự tính đạt khoảng 530 ngàn tấn/năm Với công nghệ sản xuất đơn giản từ khâu tách vỏ, chiên (hoặc hấp), phơi sấy, phân loại, khử trùng…, các nước đang phát triển có nhiều cơ hội thực hiện hoạt động chế biến và xuất khẩu nhân điều thành phẩm và các sản phẩm từ hạt điều
Ấn Độ, Braxin và Việt Nam hiện giữ vị trí là những nước chế biến điều lớn nhất thế giới Điều thô từ các nước sản xuất điều (đặc biệt từ các nước Tây Phi) được nhập khẩu vào Ấn Độ và Việt Nam nhằm phục vụ cho công nghiệp
Trang 17chế biến của các nước này khi nguồn cung nội địa của họ chỉ đáp ứng khoảng
40 - 60% công suất cho các nhà máy chế biến
a/ Năng lực chế biến của các nước chế biến điều chính
Ấn Độ
Ấn Độ là nước đứng đầu thế giới về chế biến điều nhân với sản lượng điều thô tiêu thụ hàng năm khoảng 950 ngàn tấn Trong khi đó, quốc gia này chỉ có khả năng tự thỏa mãn khoảng 60% nhu cầu điều nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến
Với năng lực chế biến lớn, hàng năm Ấn Độ phải nhập khẩu điều thô từ các nước trồng điều khác Trước kia, Ấn Độ nhập khẩu điều thô từ các nước châu Phi và Việt Nam Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, khi năng lực chế biến điều của Việt Nam đã đạt mức cao thì nguồn điều thô nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến mặt hàng điều của Ấn Độ chủ yếu do các nước châu Phi cung cấp
Việt Nam
Theo số liệu của VINACAS, tính đến hết 2010, cả nước có 273 doanh nghiệp tham gia sản xuất, xuất khẩu mặt hàng điều (chưa kể số doanh nghiệp kinh doanh nội địa và các cơ sở chế biến không tham gia xuất khẩu) với công suất chế biến khoảng 800 ngàn tấn/năm (gấp 2,7 lần sản lượng điều trong nước).Trong số đó, chỉ có 20 doanh nghiệp lớn và 7 doanh nghiệp có nhà máy sản xuất chế biến đạt tiêu chuẩn
Những năm gần đây, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu điều nhân đứng đầu thế giới nhưng nguồn điều thô nguyên liệu không cung cấp đủ cho hoạt động chế biến và xuất khẩu nên hàng năm phải nhập khẩu khoảng 40 -50% điều thô từ các nước châu Phi, châu Á… Với sản lượng 291,9 ngàn tấn điều thô năm 2009 và 299 ngàn tấn năm 2010, lượng điều thô sản xuất trong nước chỉ đáp ứng khoảng 40% nguyên liệu cho chế biến điều nhân, số còn lại phải nhập khẩu từ các nước trồng điều khác
Theo Hiệp hội Điều Việt Nam, năm 2011, các doanh nghiệp ngành điều sẽ phải nhập khẩu khoảng 450 ngàn tấn điều thô nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu điều nhân trong nước
Trang 18Braxin
Braxin là nước có sản lượng điều lớn thứ 5 trên thế giới với sản lượng bình quân khoảng 200 ngàn tấn/năm Mặc dù là nước khai sinh ra cây điều và chỉ duy trì sản lượng khoảng 200 ngàn tấn/năm nhưng Braxin là nước rất quan tâm đến việc khai thác giá trị gia tăng ngành điều thông qua việc đầu tư phát triển công nghiệp chế biến điều và tăng cường áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, chế biến mặt hàng điều
Trong 3 nước sản xuất, xuất khẩu điều nhân chính trên thế giới, Braxin được đánh giá là nhà sản xuất sử dụng nhiều máy móc, thiết bị vào chế biến hạt điều, giảm tối đa chế biến thủ công nhờ đó năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao Một điểm đáng lưu ý nữa là điều thô nguyên liệu để chế biến hạt điều của Braxin chủ yếu được sản xuất trong nước, lượng điều thô nhập khẩu phục vụ chế biến chiếm tỷ lệ nhỏ
Các nước châu Phi
Công nghiệp chế biến hạt điều ở các nước châu Phi hiện chưa phát triển mạnh nên lượng điều nguyên liệu được chế biến ở trong nước rất nhỏ, hơn 90% lượng điều thô của châu Phi được xuất khẩu sang Ấn Độ và các nước khác Với sản lượng điều khá lớn, các nước này trở thành các nhà cung cấp chủ yếu trên thị trường điều thô thế giới Bờ Biển Ngà là nước xuất khẩu điều thô hàng đầu thế giới, tiếp theo là Ghana, Guine- Bisau, Benin
b/ Nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến điều
+ Từ sản lượng điều thô trong nước
Để đảm bảo công suất cho các nhà máy chế biến, các nước chế biến hạt điều chính trên thế giới chủ yếu vẫn dựa vào nguồn nguyên liệu trong nước Trên thực tế, Ấn Độ đã chủ động được khoảng 56% nguyên liệu sản xuất, con
số này của Việt Nam đạt trên 40% và đặc biệt, Braxin chủ động được tới trên 90% lượng điều nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến điều của họ
Với sản lượng điều thô sản xuất trong nước khá lớn, các nước nêu trên phần nào đã chủ động được nguồn nguyên liệu, chủ động đưa công nghệ cao
và áp dụng các biện pháp chế biến sâu trong sản xuất điều xuất khẩu
Trang 19Ngoài các nước sản xuất điều nguyên liệu chính, các nước châu Âu như:
Hà Lan, Đức…tuy không có khả năng trồng để cung cấp điều thô làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến mà phần lớn họ thực hiện công đoạn chế biến lại với nguồn nguyên liệu là điều nhân thô nhập khẩu hoàn toàn
Năng lực chế biến điều của các nước châu Phi còn rất hạn chế, công nghiệp chế biến của họ chỉ tiêu thụ được một phần nhỏ sản lượng điều thô nguyên liệu thu được hàng năm, phần lớn sản lượng điều thô nguyên liệu của
họ được xuất khẩu sang các nước khác có năng lực chế biến điều cao hơn Các nước xuất khẩu điều thô chính trên thế giới là các nước châu Phi, đặc biệt các nước Tây Phi có vai trò quan trọng trong việc cung cấp điều nguyên liệu trên thế giới
+ Từ nhập khẩu
Một nguồn nguyên liệu quan trọng khác để phục vụ công nghiệp chế
biến của các nước chế biến điều là từ nhập khẩu
Trước đây, Ấn Độ đã nhập khẩu điều thô nguyên liệu từ các nước châu
Phi và từ Việt Nam về phục vụ chế biến trong nước Trong những năm gần
đây, Việt Nam đã phải nhập khẩu điều thô nguyên liệu từ các nước châu Phi và
Braxin cũng đã bắt đầu phải nhập khẩu hạt điều nguyên liệu từ năm 2011
Nguồn điều thô nguyên liệu nhập khẩu này phục vụ khoảng 40 - 50% năng lực chế biến của các nước chế biến điều chính trên thế giới
Bờ Biển Ngà là nước trồng và xuất khẩu hạt điều nguyên liệu hàng đầu
trên thế giới Năm 2010, Bờ Biển Ngà xuất khẩu được 350 ngàn tấn điều thô với kim ngạch xuất khẩu 289,5 triệu USD (tăng 2,83% về lượng và tăng 73,9% về trị giá so với năm 2009) Giá điều xuất khẩu bình quân của Bờ Biển Ngà là 827,3 USD/tấn
Ấn Độ tiếp tục là quốc gia nhập khẩu điều thô lớn nhất từ Bờ Biển Ngà, (chiếm 64,4% thị phần), sau đó là Việt Nam chiếm 35,28% thị phần (với 123,5 ngàn tấn và 72,66 triệu USD)
Thiếu phương tiện chế biến hiện được xem là trở ngại chính của Bờ Biển Ngà nên phần lớn sản lượng điều của nước này đều được xuất khẩu sang
Ấn Độ và Việt Nam dưới dạng thô
Trang 20Biểu đồ 1.1: Thị trường xuất khẩu điều thô của Bờ Biển Ngà năm 2010
Ấn Độ 64,40%
Việt Nam 35,28%
Các nước khác 0,32%
Nguồn: FAOSTAT, 2010
Biểu đồ trên đây cho thấy sự phụ thuộc tuyệt đối của điều thô sản xuất tại Bờ Biển Ngà với 2 thị trường chính là Ấn Độ và Việt Nam (2 thị trường này đã nhập khẩu tới 99,68% lượng điều xuất khẩu của Bờ Biển Ngà năm 2010) Điều này một mặt khẳng định sự hạn chế trong khả năng chế biến điều của Bờ Biển Ngà, mặt khác cũng thể hiện vai trò hàng đầu của Ấn Độ và Việt Nam trong hoạt động chế biến hạt điều trên thế giới
Guinea-Bissau là nước sản xuất điều lớn thứ 2 của châu Phi (sản lượng
khoảng 90 ngàn tấn/năm) và thu hút gần 80% lao động tham gia gián tiếp và trực tiếp vào ngành điều
Tuy nhiên, trở ngại chính của Guinea-Bissau hiện nay là thiếu vốn cho thu mua nguyên liệu thô, chưa có thương hiệu xuất khẩu và chưa đạt được tiêu chuẩn quốc tế về điều nhân Ngoài ra, phương tiện chế biến điều của nước này còn rất sơ sài, lạc hậu nên chủ yếu điều nguyên liệu được xuất sang Ấn Độ dưới dạng thô
Đặc trưng của ngành điều Ghana là sản lượng thấp, năng suất thấp và
giá cả cũng thấp Phần lớn điều xuất khẩu dưới dạng thô và tập đoàn Techno Serve dự kiến sẽ đầu tư xây dựng các nhà máy mới tại đây trong 5 năm tới
Ngày nay các quốc gia châu Phi đang có nhiều nỗ lực nhằm gia tăng năng lực chế biến của mình Những năm trước, các quốc gia Châu Phi chỉ chế biến được 12 - 14% sản lượng điều thô thu hoạch của họ, số còn lại xuất khẩu sang Việt Nam và Ấn Độ Nhưng hiện nay, Châu Phi đang cố gắng gia tăng
Trang 21hàm lượng giá trị gia tăng trong khâu chế biến tạo sản phẩm điều hoàn chỉnh
để xuất khẩu, vì vậy trong thời gian tới lượng điều thô xuất khẩu của các nước này sẽ giảm
c/ Về sản lượng điều nhân
Điều nhân là sản phẩm của công nghiệp chế biến từ điều thô Hiện nay, thị trường điều nhân thế giới đang hết sức sôi động với mức tiêu thụ bình quân đạt trên 500 ngàn tấn/năm
Tuy nhiên, năm 2008, cả thế giới chỉ sản xuất được 361,2 ngàn tấn điều nhân nhưng đến năm 2010, sản lượng điều nhân toàn cầu đạt 522,3 ngàn tấn
và dự tính sẽ đạt 514,8 ngàn tấn năm 2011 Lượng điều nhân sản xuất đã cơ bản đáp ứng nhu cầu về hạt điều trên thị trường thế giới
Biểu đồ 1.2: Sản lượng điều nhân thế giới 2004 - 2011 (Ngàn tấn)
Nguồn: Nutfruit.org; Số liệu 2011 là số dự báo
1.1.2 Thương mại mặt hàng điều trên thị trường thế giới
1.1.2.1 Xuất khẩu
a/ Các nước xuất khẩu chính
Ba nước xuất khẩu mặt hàng điều chính trên thế giới là Việt Nam, Ấn
Độ và Braxin với tổng lượng điều nhân xuất khẩu lên tới trên 360 ngàn tấn/năm (chiếm trên 70% tổng lượng điều giao dịch trên thế giới)
Trang 22Biểu đồ 1.3: Lượng điều xuất khẩu thế giới năm 2010 theo nguồn cung
Các nước khác 29,80%
Ấn Độ 25,48%
Việt Nam 35,22%
Braxin 9,50%
Nguồn: FAO, 2010 Với ưu thế về sản lượng lớn hạt điều được gieo trồng trong nước phục
vụ đắc lực cho công nghiệp chế biến cũng như kinh nghiệm lâu năm trong tham gia thị trường hạt điều quốc tế, ba quốc gia này giữ vai trò quyết định nguồn cung trên thị trường hạt điều toàn cầu
b/ Lượng và kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điều của các nước xuất khẩu chính
Việt Nam
Mặc dù sản lượng điều thô của Việt Nam thấp hơn Ấn Độ nhưng hầu hết (gần 95%) lượng điều nhân của Việt Nam sản xuất ra là để phục vụ cho xuất khẩu (Trong khi đó, phần lớn điều nhân của Ấn Độ sản xuất dùng để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa) nên từ năm 2006 đến nay, Việt Nam luôn là nước có lượng điều nhân xuất khẩu lớn nhất trên thị trường hạt điều thế giới
Bảng 1.7: Xuất khẩu hạt điều của Việt Nam 2006 - 2011
Nguồn: FAO 2010; UN.comtrade 2011; Số liệu 2011 là ước tính
Năm 2009, Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều chế biến với lượng xuất khẩu đạt 177,2 ngàn tấn (chiếm khoảng 35% tổng lượng hạt
Trang 23điều giao dịch toàn thị trường) Năm 2010, con số này đạt 194,6 ngàn tấn trong tổng số 520 ngàn tấn điều nhân giao dịch trên thị trường hạt điều toàn cầu (chiếm 35,22%) Xuất khẩu điều năm 2011 ước tính đạt 177,8 nghìn tấn, kim ngạch đạt 1,47 tỷ USD, tuy giảm 8,6% về khối lượng nhưng kim ngạch vẫn tăng xấp xỉ 30% so với năm 2010
Đặc biệt, trong bối cảnh giá điều nhân trên thị trường điều thế giới có những diễn biến không thuận lợi nhưng trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu điều nhân của Việt Nam vẫn không ngừng tăng cao Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu điều nhân của Việt Nam đạt 503,9 triệu USD, năm 2008 đạt 915,8 triệu USD Đến năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu đạt kim ngạch 846,6 triệu USD và con số năm 2010 là trên 1,13 tỷ USD Sang năm 2011, cho dù lượng xuất khẩu giảm nhưng kim ngạch vẫn tiếp tục xu hướng tăng, đạt 1,47 tỷ USD
Là nước xuất khẩu nhân điều lớn nhất thế giới, hạt điều Việt Nam hiện
đã có mặt tại 83 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm 60% thị phần nhập khẩu hạt điều tại Bắc Mỹ, 50% thị phần tại châu Âu, 90% thị phần tại Trung Quốc, 80% thị phần tại Australia )
Ấn Độ
Là nước phát triển cây điều từ lâu đời và tham gia thị trường hạt điều quốc tế khá sớm, ngành điều Ấn Độ đã có vị thế vững chắc trên thị trường hạt điều quốc tế với lượng xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 120 - 130 ngàn tấn điều thành phẩm và kim ngạch xuất khẩu đạt 550 - 650 triệu USD/năm
Ấn Độ là quốc gia sản xuất điều hàng đầu thế giới nhưng mức tiêu thụ nội địa đối với mặt hàng điều của nước này khá lớn Hiện nay, lượng hạt điều tiêu thụ nội địa của Ấn Độ đã đạt mức 65%, lượng hạt điều xuất khẩu chỉ đạt khoảng 35%
Bảng 1.8: Xuất khẩu hạt điều của Ấn Độ 2006 - 2010
Trang 24Năm 2010, lượng điều các loại xuất khẩu của Ấn Độ đã đạt trên 130 ngàn tấn (tăng khoảng 10 ngàn tấn so với năm 2006) và kim ngạch xuất khẩu
đạt 637,84 triệu USD (con số này năm 2006 là 546,53 triệu USD)
Braxin
Braxin tuy là quốc gia khai sinh ra cây điều vẫn duy trì lượng xuất khẩu hàng năm đạt khoảng 45 - 50 ngàn tấn (giữ vị trí thứ 3 trong số các nước xuất
khẩu hạt điều trên thế giới) Năm 2010, lượng hạt điều xuất khẩu của Braxin
chiếm khoảng 9,5% tổng lượng điều nhân giao dịch trên thị trường hạt điều
toàn cầu (đạt 47,76 ngàn tấn và kim ngạch xuất khẩu đạt 321,68 triệu USD)
Một điểm đáng lưu ý là ngành công nghiệp chế biến hạt điều của Braxin khá phát triển với việc ứng dụng máy móc phục vụ việc chế biến hạt điều đã góp
phần lớn vào việc giảm chi phí cũng như tăng giá trị gia tăng cho hạt điều Braxin
Các quốc gia khác
Ngoài 3 nước chính cung cấp tới trên 70% tổng lượng điều giao dịch trên thế giới, các quốc gia xuất khẩu hạt điều khác đều có lượng xuất khẩu khá
khiêm tốn (dưới 20 ngàn tấn mỗi năm) bao gồm 2 nhóm nước:
- Các nước đang phát triển ở Châu Á, châu Phi (như Indonesia, Tanzania, Bờ Biển Ngà, Mozambic…)
Bảng 1.9: Xuất khẩu hạt điều của các nước XK chính trên thế giới
Lượng (tấn)
Trị giá (1000 USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (1000 USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (1000 USD)
Lượng (tấn)
Trị giá (1000 USD)
-Nguồn: UN.comtrade 2009; FAO 2010
Đây là nhóm các quốc gia có khả năng trồng điều nhưng mới bước đầu thực hiện phát triển loại cây này, công nghiệp chế biến chưa phát triển khiến
Trang 25họ phải xuất khẩu phần lớn sản lượng điều của mình dưới dạng thô, lượng điều xuất khẩu dưới dạng thành phẩm rất hạn chế
- Nhóm nước thứ 2 là các nước công nghiệp phát triển (Hà Lan, Đức…) Các nước này chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến hạt điều với nguồn nguyên liệu là điều nhân thô phải nhập khẩu hoàn toàn Chính việc bị phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên ngành công nghiệp chế biến hạt điều của các nước này gặp nhiều khó khăn (cả về lượng lẫn giá cả điều nhân thô nhập khẩu) Đây là lý do làm cho các doanh nghiệp chế biến điều của các nước này gặp khó khăn khi phải cạnh tranh với các nước có lợi thế nhờ nguồn nguyên liệu trong nước dồi dào
b/ Về giá hạt điều xuất khẩu
Trong 3 nước xuất khẩu hạt điều chính trên thế giới, hạt điều Việt Nam hiện có giá cao hơn so với giá hạt điều của Ấn Độ và Braxin Năm 2008, hạt điều của Việt Nam có giá trung bình là 5.694 USD/tấn trong khi đó, hạt điều
Ấn Độ và Braxin chỉ có giá trung bình là 5.336 USD/tấn và 5.537 USD/tấn Sang năm 2009, giá hạt điều của Việt Nam chỉ còn 4.734 USD/tấn, thấp hơn của Braxin (với mức giá trung bình 4.851 USD/tấn) nhưng vẫn cao hơn
Ấn Độ (với trung bình 4.506 USD/tấn) Đến năm 2010, giá xuất khẩu của các nước đều cải thiện hơn so với năm trước, nhưng giá trung bình xuất khẩu của Việt Nam vẫn thấp hơn giá xuất khẩu của Braxin, Hà Lan và Đức, chỉ cao hơn giá trung bình xuất khẩu của Ấn Độ và Tanzania (xem biểu đồ 1.4)
Biểu đồ 1.4: Lượng và giá hạt điều XK của các nước XK chính năm 2010
Nguồn: FAO 2010
Trang 26Trong năm 2010, giá hạt điều xuất khẩu của 3 nước này đều nằm trong khoảng 5.000 - 6.000 USD/tấn Mặc dù có những biến động nhất định nhưng nói chung giá điều xuất khẩu của cả 3 nước có mức chênh lệch không lớn (khoảng 300 USD/tấn)
Điều này chứng tỏ chất lượng hạt điều xuất khẩu của ba nước không chênh lệch nhiều và 3 nước Việt Nam, Ấn Độ, Braxin đã tạo lập được một mặt bằng giá chung cho thị trường hạt điều thế giới với lượng điều cung ứng chiếm trên 70% tổng lượng cung ứng trên thị trường điều toàn cầu
Trên thị trường hạt điều quốc tế, hạt điều của Đức và Hà Lan có giá bán cao nhất (giá bán trung bình năm 2010 lên tới trên 6.800 USD/tấn với hạt điều của Đức và trên 6.000 USD/tấn với hạt điều của Hà Lan)
Các nước như Inđônêxia, Tanzania lại có giá xuất khẩu rất thấp (chỉ khoảng trên 2.000 USD/tấn đối với Indonesia và dưới 4.500 USD/tấn đối với Tanzania Tuy nhiên, các nước này chỉ có khả năng cung ứng một lượng điều nhỏ trên thị trường nên hầu như không ảnh hưởng lớn đến mặt bằng giá chung trên thị trường hạt điều thế giới
Bảng 1.10: Giá XK hạt điều của các nước XK điều chính trên thế giới
Trang 27Từ lâu, Hoa Kỳ vẫn là nước nhập khẩu hạt điều hàng đầu thế giới Với nhu cầu nhập khẩu lớn và khá ổn định, hàng năm, Hoa Kỳ đều nhập khẩu trên
100 ngàn tấn điều nhân (Năm 2006, Hoa Kỳ nhập khẩu 115 ngàn tấn điều, con
số này năm 2007 đạt 125 ngàn tấn và năm 2008 đạt hơn 112,4 ngàn tấn với giá
trị nhập khẩu trên 603 triệu USD) với giá nhập khẩu cao Đây là lý do khiến
Hoa Kỳ trở thành thị trường mục tiêu của hầu hết các nhà cung cấp mặt hàng
điều lớn trên thế giới
Các thị trường nhập khẩu mặt hàng điều lớn tiếp theo là Hà Lan (với lượng nhập khẩu năm 2008 đạt trên 49 ngàn tấn), Trung Quốc (26,9 ngàn tấn),
Anh, Đức và Australia với lượng nhập khẩu hàng năm khoảng 15 - 20 ngàn tấn
Trong 5 năm trở lại đây, lượng nhập khẩu của các nước nhập khẩu hạt điều chính trên thế giới đều ít biến động Hoa Kỳ thường xuyên nhập khẩu
khoảng 115 -125 ngàn tấn điều mỗi năm, Hà Lan nhập khẩu khoảng 40 - 50
ngàn tấn/năm, các nước Anh, Đức nhập khẩu khoảng 20 ngàn tấn/năm Xu
hướng tăng tiêu dùng hạt điều ở các thị trường nhỏ hơn như Australia, Nga,
Pháp, Bỉ, Nhật hay Tây Ban Nha… cũng không có biểu hiện rõ rệt
Bảng 1.11: Lượng và giá trị NK điều của các nước NK chính trên thế giới
NK (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Lượng
NK (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Lượng
NK (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Lượng
NK (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Lượng
NK (tấn)
Giá trị (1.000 USD)
Trang 28Hiện nay, chỉ có thị trường Trung Quốc có mức tăng trưởng nhập khẩu mặt hàng điều khá mạnh Năm 2008, Trung Quốc đã nhập khẩu 26,917 ngàn tấn điều (đạt kim ngạch nhập khẩu 81,061 triệu USD) Con số này năm 2009
là 35,829 ngàn tấn với kim ngạch nhập khẩu đạt 98,953 triệu USD
Nhìn chung, các nước nhập khẩu điều chính trên thế giới chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển Các nước này thường đặt ra yêu cầu khá cao trong kiểm soát chất lượng, kiểm soát các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội…đối với mặt hàng điều và các sản phẩm từ hạt điều và đòi hỏi các nước xuất khẩu phải tuân thủ nghiêm ngặt
Đặc biệt, trên thị trường mặt hàng điều thế giới, Đức và Hà Lan vừa là các nhà nhập khẩu vừa là các nhà xuất khẩu hạt điều lớn Các doanh nghiệp ngành điều của các nước này vừa nhập khẩu điều thô nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến vừa nhập khẩu cả điều nhân thành phẩm về phân loại, chế biến lại rồi tái xuất với giá cao hơn Với công nghệ chế biến khá hiện đại
và khả năng chế biến sâu tạo ra các loại mặt hàng chế biến từ hạt điều đạt tiêu chuẩn về chất lượng, đảm bảo các quy định về ATVSTP… nên giá xuất khẩu mặt hàng điều của họ luôn đạt mức cao nhất trong số các nhà sản xuất và xuất khẩu hạt điều trên thế giới
1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC NÂNG CAO GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI MẶT HÀNG ĐIỀU XUẤT KHẨU
1.2.1 Yếu tố chính sách
1.2.1.1 Chính sách về đất đai
Đất đai là nhân tố quan trọng nhất đối với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông sản hàng hóa với quy mô lớn Đây là yêu cầu quan trọng khi các quốc gia tham gia vào thị trường hàng nông sản toàn cầu trong bối cảnh hội nhập
Để đáp ứng yêu cầu nêu trên, các nước sản xuất, xuất khẩu nông sản nói chung cần có chính sách đất đai phù hợp theo hướng tập trung vào việc xây dựng cơ chế, chính sách cho việc tích tụ ruộng đất và bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các trang trại quy mô lớn, sản xuất theo hình thức thâm canh, chuyên canh cao, tạo cơ sở vững chắc để họ tiến lên sản xuất lớn, áp dụng máy móc, khoa học- công nghệ mới vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản
Trang 29Thực tế cho thấy, tại các nước xây dựng được cơ chế quản lý đất đai hiệu quả, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn mang tính thương mại phát triển
đã tạo tiền đề quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa, đặc biệt là nông sản hàng hóa phục vụ xuất khẩu
Đối với cây điều, do chỉ có một số nước/khu vực trên thế giới có chất đất và khí hậu phù hợp với việc gieo trồng và phát triển loại cây này nên chính sách về đất đai của mỗi quốc gia ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành các vùng chuyên canh, vùng sản xuất tập trung để cung cấp nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến Hơn nữa, chỉ khi Chính phủ có chính sách đất đai phù hợp theo hướng hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các trang trại quy mô lớn, sản xuất theo hình thức thâm canh, chuyên canh cao thì người trồng điều mới có đủ điều kiện để đưa khoa học kỹ thuật và phương pháp quản lý hiện đại vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng điều nguyên liệu cung cấp cho hoạt động chế biến điều nhân và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm điều xuất khẩu
1.2.1.2 Chính sách về đầu tư
a/ Đầu tư xây dựng vùng sản xuất điều nguyên liệu tập trung
+ Đầu tư trong nước
Trong sản xuất nông sản hàng hóa xuất khẩu nói chung và sản xuất mặt hàng điều xuất khẩu nói riêng, hoạt động chế biến luôn gắn chặt và luôn phụ thuộc rất nhiều vào việc hình thành và phát triển vùng sản xuất tập trung, chuyên canh để cung cấp nguyên liệu ổn định và có chất lượng cao cho công nghiệp chế biến
Chính sách đầu tư cho vùng nguyên liệu của các quốc gia nếu được thực hiện một cách hiệu quả một mặt sẽ tạo nên vùng sản xuất nông sản tập trung với quy mô diện tích lớn, đủ điều kiện để thâm canh, chuyên canh nhằm đạt năng suất cao, thu hút lao động, nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản hàng hóa Mặt khác việc hình thành vùng sản xuất nguyên liệu tập trung sẽ tạo cơ sở vững chắc để các doanh nghiệp chế biến nông sản xây dựng nhà máy quy mô lớn, công nghệ hiện đại… và gắn bó lâu dài với ngành và vùng sản xuất nguyên liệu
Riêng với mặt hàng điều, do việc sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chỉ có một số ít các quốc gia ở Châu Á, Châu Phi và Trung Nam Mỹ trồng được loại cây này, vì vậy nguồn nguyên liệu trong nước là vô cùng quan trọng
Trang 30Thực tế cho thấy, các nước phát triển được công nghiệp chế biến hạt điều như: Ấn Độ, Braxin, Việt Nam… đều là các nước có diện tích, sản lượng điều nguyên liệu lớn nhất trên thế giới Với công nghệ sản xuất không quá phức tạp, vùng nguyên liệu trở thành yếu tố quan trọng nhất trong phát triển công nghiệp chế biến và hoạt động xuất khẩu mặt hàng điều
Ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành điều đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và chỉ đạo “cần
mở rộng diện tích cây điều trên những địa bàn có điều kiện, nhất là các vùng đất xám ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ ” Bộ yêu cầu các tỉnh/thành có trồng điều khẩn trương rà soát, xây dựng quy hoạch phát triển vùng trồng điều của địa phương theo hướng sản xuất tập trung với quy
mô lớn để cung cấp nguyên liệu ổn định phục vụ công nghiệp chế biến điều
+ Đầu tư ngoài nước (liên kết đầu tư)
Tại các nước xuất khẩu hạt điều lớn trên thế giới như Việt Nam, Ấn Độ, Braxin, năng lực chế biến hạt điều đều đã vượt khả năng cung ứng điều thô nguyên liệu do trong nước sản xuất Hàng năm, các nước này đã phải nhập khẩu điều thô nguyên liệu từ các nước khác trên thế giới mà chủ yếu là từ các nước Tây Phi để đảm bảo sử dụng hết công suất của các nhà máy chế biến điều
Mặc dù các nước chế biến điều nhân lớn trên thế giới đã phải nhập khẩu điều thô nguyên liệu từ nhiều năm nay, nhưng số lượng, năng suất, chất lượng điều thô nguyên liệu nhập khẩu đều không ổn định
Nguyên nhân của vấn đề nêu trên là do khối lượng, năng suất, chất lượng điều thô phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu và dịch bệnh từng năm
ở các nước trồng điều Mặt khác, do không xây dựng được các vùng trồng điều nguyên liệu tập trung khiến cho các nước sản xuất điều phải mua gom từ các nhà trồng điều nhỏ lẻ, công tác bảo quản sau thu hoạch không tốt nên chất lượng, kích cỡ và độ sáng của hạt không được đồng đều
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, việc liên kết đầu tư (từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu tại các nước có tiềm năng, chuyển giao kinh nghiệm sản xuất, chăm sóc cây trồng, bảo quản sau thu hoạch tới bao tiêu toàn bộ lượng điều nguyên liệu) giữa các nước trồng điều và các nước chế biến là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí từ đó nâng cao giá trị gia tăng của hạt điều
Trang 31b/ Đầu tư cho hoạt động chế biến
Nhu cầu về hạt điều trên thế giới trong những năm gần đây không có biến động mạnh, cầu về hạt điều gần như đã được đáp ứng đầy đủ, mặt khác, nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất tăng trưởng ở mức thấp do hầu hết các diện tích thích hợp với cây điều đã được tận dụng hết, cả đầu vào và đầu ra của công nghiệp chế biến hạt điều trên thế giới đều đã ở mức bão hòa
Vì vậy, các nước sản xuất, chế biến mặt hàng điều không nên đầu tư mở rộng năng lực chế biến điều mà chỉ nên đầu tư nâng cao chất lượng chế biến hạt điều, áp dụng các công nghệ mới nhằm làm giảm tổn thất, đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường…
Ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành điều đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, theo đó đề cập tới việc sắp xếp lại các cơ sở chế biến điều đến năm 2010 theo hướng không
mở thêm công suất, giảm dần các cơ sở chế biến nhỏ bằng cách lập các cơ sở chế biến đầu mối lớn, có thiết bị và công nghệ hiện đại Bộ cũng khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến điều liên kết, liên doanh để hình thành các công ty, tập đoàn có tiềm lực tài chính mạnh, trình độ công nghệ cao, thương hiệu mạnh để tham gia thị trường điều thế giới
Bên cạnh các chính sách khác, Chính phủ các nước cần áp dụng những chính sách về khoa học công nghệ để hỗ trợ phát triển ngành điều như: Quy hoạch sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến xuất khẩu, đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ và chuyển giao kỹ thuật trồng, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch đối với cây điều, hỗ trợ khoa học công nghệ đối với các nhà máy sản xuất, chế biến mặt hàng điều…
1.2.1.4 Chính sách thị trường và xúc tiến thương mại
Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại hàng nông sản chịu sự chi phối của những thỏa thuận toàn cầu nên việc bảo hộ sản xuất trong nước trở nên khó khăn hơn do đòi hỏi phải minh bạch hoá trong thương mại
Trang 32Vì vậy, các quốc gia cần xác định ngành/sản phẩm có nhiều lợi thế so sánh để phát triển, thực hiện quản lý theo chuỗi (tức là căn cứ vào các dấu hiệu thị trường của ngành hàng đó để định hướng cho việc huy động và phân
bổ nguồn lực cho phát triển sản phẩm)
Hay nói cách khác là lấy thị trường để tổ chức lại sản xuất, lấy xúc tiến thương mại để củng cố và tăng cường năng lực của nông dân
Một trong những giải pháp cơ bản để xây dựng thị trường nông sản bền vững là xây dựng các sàn giao dịch nông sản
Sàn giao dịch nông sản với đặc điểm lượng giao dịch lớn, giá giao dịch được điều chỉnh liên tục theo giá thị trường thế giới, thực hiện việc giao dịch nông sản giao ngay và giao dịch giao sau cùng với hoạt động của các nhà đầu
cơ giúp cho người sản xuất nông sản có thể đảm bảo giá cả hàng hóa của mình, tránh hiện tượng “được mùa rớt giá”, đảm bảo cho người thu mua nông sản mua được hàng hóa với giá cạnh tranh và nhanh chóng
Với quy mô thị trường khá lớn (khoảng 3 triệu tấn điều thô và trên 500 ngàn tấn điều nhân được giao dịch hàng năm) và tập trung ở một số nước sản xuất, xuất khẩu chính, các quốc gia sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điều có thể đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm qua sàn giao dịch nhằm giảm thiểu rủi ro
do biến động giá cả cho người sản xuất, tăng cường liên kết giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế
Các chính phủ cần tăng cường công tác đàm phán, xúc tiến thương mại, ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương để mở đường cho nông sản thâm nhập thị trường nông sản thế giới, nhất là các thị trường có sức mua lớn
Khuyến khích sự tham gia của các Hiệp hội ngành hàng trong đàm phán thương mại và ký kết các hợp đồng để đạt sự thống nhất cao, giảm thua thiệt do các đơn vị xuất nhập khẩu riêng lẻ cạnh tranh lẫn nhau để tìm kiếm bạn hàng
1.2.1.5 Chính sách về nguồn nhân lực
Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng của các chính sách khác, việc nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu còn phụ thuộc khá lớn vào chính sách
về nguồn nhân lực phục vụ ngành điều của mỗi chính phủ
Nguồn nhân lực có vai trò thúc đẩy nâng cao giá trị gia tăng ngành điều của các quốc gia (bao gồm: Các cán bộ quản lý vĩ mô và quản lý doanh nghiệp, người trồng, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, chế biến và thương mại ngành điều) cần được đào tạo chuyên sâu, có hiểu biết cao về công đoạn
Trang 33sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điều và có khả năng ứng xử linh hoạt trước những diến biến mới của thị trường mặt hàng điều cả trong và ngoài nước
Vì vậy, để nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng điều xuất khẩu, Chính phủ các nước cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua hoạt động khuyến nông, khuyến công, đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật làm việc trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến và thương mại ngành điều
1.2.1.6 Các chính sách khác
- Xây dựng hiệp hội ngành hàng tại các nước sản xuất hạt điều trên thế giới
- Tăng cường sự hợp tác với các tổ chức quốc tế như: Hiệp hội Hạt ăn được và trái cây khô quốc tế (INC), Tổ chức nông lương của Liên hợp quốc (FAO), Trung tâm thương mại quốc tế (ITC)… nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía quốc tế đối với hoạt động sản xuất, chế biến và thương mại ngành điều
- Xây dựng cơ chế hợp tác giữa các chủ thể tham gia trong chuỗi giá trị ngành điều nhằm một mặt tạo cơ hội gia tăng giá cả, chất lượng sản phẩm, một mặt tạo nguồn hàng ổn định phục vụ xuất khẩu
- Tăng cường liên kết giữa nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học
và nhà nông nhằm phát triển ngành điều một cách bền vững
- Chính sách hợp tác phát triển giữa các nước sản xuất, xuất khẩu điều chính trên thế giới
Đặc trưng của thị trường điều xuất khẩu điều thế giới những năm gần đây là sự xuất hiện của các nhà sản xuất hạt điều mới từ châu Á, châu Phi, đặc biệt là sự gia tăng đáng kể sản lượng cũng như cải thiện năng lực sản xuất của các nước châu Phi làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường đẩy giá mặt hàng này liên tục biến động
Nhận thức được lợi ích chung thông qua hợp tác sản xuất và thương mại mặt hàng điều, 3 nước sản xuất, chế biến, xuất khẩu điều chính trên thế giới (Braxin, Ấn Độ và Việt Nam đã và đang có chính sách hợp tác để quảng bá, xúc tiến thương mại để mậu dịch điều thế giới sẽ có nhiều cơ hội để phát triển
1.2.2 Các yếu tố liên quan đến sản xuất
1.2.2.1 Chính sách xây dựng vùng nguyên liệu
Xây dựng vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất là một trong những yêu cầu cơ bản của việc sản xuất hàng hóa lớn và là cơ sở quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng ngành điều khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Trang 34Đối với các nước sản xuất điều chính trên thế giới, lượng điều thô nguyên liệu sản xuất trong nước chiếm tới 50% tổng lượng nguyên liệu phục
vụ sản xuất, việc xây dựng vùng chuyên canh cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho sản xuất là yêu cầu bức thiết
Bên cạnh đó, việc nhập khẩu điều thô nguyên liệu cũng có vai trò hết sức quan trọng để đảm bảo phát huy hết công suất của các nhà máy chế biến điều
Do hàng năm các nước chế biến điều phải nhập khẩu khoảng 50% lượng điều thô để phục vụ công nghiệp chế biến nên hoạt động của các nhà máy chế biến bị phụ thuộc vào số lượng, chất lượng, giá cả và nguồn cung điều thô trên thị trường nước ngoài (Hiện một số nước trồng điều ở châu Phi đang thực hiện việc phát triển công nghiệp chế biến hạt điều tại chỗ nên trong dài hạn, nguồn điều thô nguyên liệu nhập khẩu từ các nước này sẽ có xu thế giảm) Vì vậy, để chủ động nguồn nguyên liệu, các nước chế biến điều chính trên thế giới đang thực hiện việc xây dựng vùng nguyên liệu tại các nước láng giềng hoặc liên kết/hợp tác xây dựng nhà máy chế biến ngay tại các nước trồng điều
1.2.2.2 Chính sách hỗ trợ kỹ thuật (giống, kỹ thuật canh tác, bảo
quản sau thu hoạch, chế biến )
- Một trong những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của các quốc gia sản xuất điều trên thế giới vào chuỗi giá trị gia tăng mặt hàng điều toàn cầu là
việc gieo trồng, kỹ thuật canh tác điều thô chưa được quan tâm và đầu tư
thoả đáng nên năng suất cây điều rất thấp và không ổn định, ảnh hưởng lớn đến công nghiệp chế biến và chất lượng sản phẩm cuối cùng
Tại các nước châu Phi (thậm chí cả Việt Nam, Indonesia), cây điều được trồng chủ yếu theo phương thức quảng canh nên năng suất vừa thấp, vừa bấp bênh Các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh, phương thức thu hoạch đều mang nặng tính chất tự nhiên, do nông dân tự lo liệu, chưa có sự thể hiện vai trò của Nhà nước
Ở Việt Nam, những năm gần đây, các tỉnh có nhiều diện tích trồng điều lớn như: Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Thuận… đang phát triển phong trào trồng điều theo mô hình trang trại gia đình với quy mô tương đối lớn (bình quân trên 10ha/trang trại) Sản xuất điều
ở nhiều địa phương đã có sự tiến bộ cả trong thâm canh và quảng canh cùng với thời tiết thuận lợi, mưa đều ở các tỉnh Đông Nam bộ và Tây Nguyên nên cây điều phát triển tốt, năng suất và sản lượng tăng Tuy nhiên, kết quả trên
Trang 35chưa tương xứng với tiềm năng của vùng trồng điều và sản lượng sản xuất hàng năm vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà máy chế biến điều nhân phục vụ xuất khẩu
- Từ nhiều năm nay, các nước trồng điều chính trên thế giới luôn có các
chính sách để nâng cao hiệu quả khâu chế biến trong sản xuất và xuất khẩu
mặt hàng điều Từ chỗ các nhà trồng điều chỉ chế biến điều nhân bằng các biện pháp thủ công, sử dụng nhiều lao động phổ thông, tiến tới kết hợp giữa thủ công và cơ giới và ở các nước phát triển, họ đã đưa máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại vào chế biến sâu tạo các mặt hàng từ hạt điều có chất lượng cao phục vụ người tiêu dùng Ở Việt Nam, hầu hết các thiết bị máy móc
sử dụng để bóc tách nhân điều đều được sản xuất trong nước, giá thành rẻ (chỉ bằng 25 - 30% so với thiết bị nhập ngoại cùng chức năng, công suất) Do máy móc dễ thao tác, tỷ lệ thu hồi điều nhân nguyên ở Việt Nam đạt 85% - 90%, trong khi đó, con số này tại Braxin, Ấn Độ… chỉ đạt 60%
Mặc dù công nghệ chế biến hạt điều hiện đã có nhiều tiến bộ so với trước, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường đối với các sản phẩm có chất lượng cao, khối lượng lớn Nếu sản phẩm hạt điều được chế biến với công nghệ cao, máy móc thiết bị hiện đại, sản phẩm đa dạng thì chắc chắn hiệu quả xuất khẩu hạt điều còn cao hơn Xét trên góc độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm điều xuất khẩu còn nhiều hạn chế, giá trị gia tăng thấp do nguyên liệu chế biến nhập khẩu chiếm tỷ lệ ngày càng cao, cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất và chế biến, xuất khẩu điều chưa đồng bộ
1.2.3 Các yếu tố liên quan đến thị trường và sản phẩm
(Về tiêu chuẩn sản phẩm, về TBT, về kiểm dịch động thực vật (SPS), về truy xuất nguồn gốc và các quy định do từng quốc gia hay nhà nhập khẩu đặt ra )
1.2.3.1 Về tiêu chuẩn sản phẩm
Trước nay, tiêu chuẩn nhân điều vẫn thường được áp dụng cho thị trường châu Âu là tiêu chuẩn do UNECE (United Nations Economics Commission for Europe) ban hành (Tiêu chuẩn UNECE DF-17)
Đối với thị trường Hoa Kỳ tiêu chuẩn của Hiệp hội Công nghiệp Thực phẩm Hoa Kỳ AFI (Association of Food Industries, Inc.) được áp dụng theo yêu cầu của cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ FDA (Food and Drug Administration)
Trang 36Do nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ đối với sản phẩm nhân hạt điều nhập khẩu ngày càng cao, AFI càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nhân điều nhập khẩu Do đó, tháng 4/2007, AFI công bố tiêu chuẩn AFI mới cho nhân điều Tổ chức này cũng thường xuyên sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn mới cho phù hợp với yêu cầu từ phía người tiêu dùng và cơ quan chức trách Hoa Kỳ Vừa qua AFI đã thông báo về việc sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn AFI mới - năm
2011 - tập trung chủ yếu vào việc kiểm soát vấn đề sót vỏ lụa trên nhân điều
và tái định nghĩa về tiêu chuẩn loại hàng LP (Lightly Blemished Pieces)
Việc áp dụng tiêu chuẩn mới sẽ bắt buộc các nhà xuất khẩu điều Việt Nam quan tâm nhiều hơn đến công nghệ sau thu hoạch, dự trữ, chế biến sản phẩm Hiện Việt Nam có 72 nhà máy (chiếm 60%) chế biến mặt hàng điều được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về ATVSTP và sản sản phẩm xuất khẩu của họ phải đạt tiêu chuẩn tiêu chuẩn AFI mới - năm 2011
Ngoài ra, điều nhân xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ phải qua giám định và được cấp Giấy chứng nhận của Cơ quan giám định và an toàn thực phẩm thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ như quy định chung với các loại hoa quả, rau và hạt khác Các điều kiện hạn chế khác có thể được áp đặt bởi Cơ quan giám định thực vật và động vật thuộc Bộ Nông nghiệp theo Luật Kiểm dịch thực vật (Plan Quarantine Act) và cơ quan FDA theo Luật thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Liên bang (Federal Food, Drug and Cosmetic Act)
1.2.3.2 Về các tiêu chuẩn khác
Việc xác định xuất xứ sẽ rất quan trọng vì hàng nhập khẩu ở những nước đang phát triển hoặc ở những nước đã ký Hiệp định thương mại với Hoa
Kỳ sẽ được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu thấp hơn (Khi xuất khẩu vào Hoa
Kỳ, muốn được hưởng thuế suất ưu đãi theo nước xuất xứ, trên sản phẩm phải ghi nhãn của nước xuất xứ)
Hoa Kỳ còn đặc biệt coi trọng vấn đề an toàn lao động và các vấn đề xã hội trong hoạt động sản xuất và quy định các sản phẩm nhập khẩu phải đạt tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội (SA 8.000) và Chương trình trách nhiệm sản xuất toàn cầu (WRAP)
Ngoài ra, các sản phẩm điều xuất khẩu còn phải đảm bảo các quy định về chất lượng sản phẩm và các hàng rào kỹ thuật khác Đặc biệt, việc xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp đang là một trong những điều kiện quyết định sự thành công của doanh nghiệp ngành điều trên trường quốc tế
Trang 37Do các đặc điểm gieo trồng của cây điều nên ở nước ta cây điều hiện nay chỉ được trồng tập trung và hình thành những vùng chuyên canh cây điều lớn như: Vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ…
Cây điều được đưa vào trồng ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ 18 Ngay
từ những năm 1980, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến việc tăng diện tích trồng cây điều và chú ý phát triển công nghệ chế biến điều nhân xuất khẩu Tại Hội nghị ngoại thương (tổ chức tại tỉnh Sông Bé cũ) vào năm 1982, cố Thủ tướng Phạm Hùng đã chỉ đạo ngành ngoại thương phải tổ chức sản xuất, chế biến và xuất khẩu hạt điều nhằm tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, đóng góp tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Vì vậy, từ đó đến nay, cây điều luôn được xác định là một trong những cây trồng chủ lực của ngành nông nghiệp nước nhà Với sự quan tâm đầu tư lớn của Chính phủ, ngành điều Việt Nam đã và đang nỗ lực rất lớn để thực hiện mục tiêu đưa mặt hàng điều trở thành một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của đất nước
Cho đến năm 2010, diện tích trồng điều của Việt Nam đạt trên 372 ngàn
ha, tập trung ở các vùng: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung
Bộ và đồng bằng sông Cửu Long với sản lượng đạt gần 299 ngàn tấn, năng suất bình quân khoảng 0,8 tấn/ha
Trang 38a/ Diện tích gieo trồng
Trong những năm trước đây, diện tích trồng điều trong cả nước liên tục
tăng cao Tới năm 2006, diện tích trồng điều ở nước ta đã đạt 401,8 ngàn ha
và ổn định ở mức trên 400 ngàn ha trong các năm 2007 và 2008 Trong các
năm 2009, 2010 và cho đến hiện nay, diện tích trồng điều ở Việt Nam bị giảm
sút và năm 2010 chỉ còn 372 ngàn ha
Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng điều của Việt Nam 2006 - 2010
Năm
Diện tích (ngàn ha)
Tăng trưởng (%)
Sản lượng (ngàn tấn)
Tăng trưởng (%)
Cụ thể: Năm 2006, diện tích trồng điều của nước ta đạt mức 401,8 ngàn
ha, năm 2007, con số này đạt tới 439,9 ngàn ha (tăng 9,5% so với năm 2006
và đạt mức cao nhất so với những năm trước đó)
Năm 2008, diện tích trồng điều của cả nước chỉ còn 406,7 ngàn ha
(giảm 7,5% so với diện tích trồng điều năm 2007) Năm 2009, ngành điều của
nước ta vẫn chưa thoát khỏi sự suy giảm về diện tích và chỉ đạt 398,1 ngàn ha
(giảm 2,1% so với năm 2008 và giảm khoảng 10% so với năm 2007) Năm
2010, con số này chỉ đạt 372,0 ngàn ha3 (giảm 26 ngàn ha so với năm 2009 và
giảm 68 ngàn ha so với năm 2007)
Như vậy, chỉ trong 3 năm từ năm 2007 đến 2010, diện tích trồng điều
của nước ta đã giảm gần 70 ngàn ha Nguyên nhân suy giảm diện tích trồng
điều chủ yếu là do năng suất điều hàng năm thấp dẫn đến hiệu quả trồng điều
không cao, người nông dân trồng điều gặp rất nhiều khó khăn như: Phải cạnh
tranh với các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn (cà phê, cao su,
sắn…), tình hình sâu bệnh trên cây điều diễn biến phức tạp, chi phí trồng điều
tăng cao… nên họ đã chặt điều để trồng các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế
cao hơn
3 Nghịch lý ngành điều, Bản tin của VINACAS ngày 01/11/2011
Trang 39b/ Các vùng trồng điều chủ yếu
Tính đến hết năm 2010, Đông Nam Bộ là vùng trồng điều lớn nhất nước
ta với diện tích khoảng 260 ngàn ha (chiếm trên 66,3% tổng diện tích trồng điều của cả nước) Vùng có diện tích trồng điều lớn thứ 2 của cả nước là Tây Nguyên với diện tích khoảng 100 ngàn ha (chiếm 24,83% tổng diện tích trồng điều), tiếp đó là vùng Nam Trung Bộ với diện tích khoảng 31 ngàn ha (chiếm trên 8,2% tổng diện tích trồng điều) Diện tích trồng điều ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ không lớn, canh tác phân tán, không tập trung
Diện tích trồng điều ở 3 vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ hiện chiếm trên 90% tổng diện tích trồng điều tại Việt Nam Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến hạt điều trên cơ
sở sản xuất chuyên canh tập trung, lượng nguyên liệu cung cấp lớn và tạo được mối liên kết mật thiết giữa nhà máy chế biến với người trồng điều
Biểu đồ 2.1: Diện tích trồng điều Việt Nam phân theo vùng năm 2010
Tây Nguyên 25%
ĐBSCL 1%
Đông Nam Bộ 66%
Duyên hải Nam Trung Bộ 8%
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bình Phước hiện đang là địa phương dẫn đầu cả nước về diện tích trồng điều Trong các năm 2006 -
2008, diện tích trồng điều tại địa phương này đạt trung bình khoảng 150 ngàn
ha (chiếm 30% diện tích trồng điều cả nước) Tiếp theo là Đồng Nai với diện tích khoảng 55 ngàn ha (chiếm 12% tổng diện tích trồng điều cả nước) Vị trí thứ ba về diện tích trồng điều là Đắc Lắc (chiếm trên 8% tổng diện tích với khoảng 45 ngàn ha)
Năm 2010, Bình Phước vẫn là địa phương có diện tích trồng điều nhiều lớn nhất cả nước với 155,7 ngàn ha (chiếm 40,85%), Đồng Nai trồng 50,4
Trang 40ngàn ha, Đắc Lắc trồng 29,9 ngàn ha Tiếp theo đó là các tỉnh khác như Bình Thuận, Đắc Nông, Bình Định… với diện tích khoảng 20 ngàn ha
Đặc biệt, phong trào trồng điều tại các tỉnh phát triển mạnh theo mô hình trang trại gia đình với quy mô tương đối lớn (bình quân trên 10 ha/trang trại) tạo nên vùng nguyên liệu lớn và ổn định phục vụ khá tốt cho việc xây dựng hệ thống thu mua, chế biến điều nhân phục vụ xuất khẩu
Bảng 2.2: Diện tích điều Việt Nam phân theo địa phương 2006 - 2010
ST Địa phương Đơn vị 2006 2007 2008 2009 2010
Nguồn: Bộ Nông nghiệp & PTNT
Ngoài diện tích trồng điều trong nước, Việt Nam đã và đang hợp tác đầu tư phát triển diện tích trồng điều tại Campuchia trên diện tích khoảng 200 ngàn ha, hợp tác đầu tư với một số nước Châu Phi (chủ yếu là Mô-dăm-bích) hình thành các mô hình hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết trồng và thu mua hạt điều thích hợp trên diện tích từ 120 - 150 ngàn ha