I GIỚI THIỆU CHUNG Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN Theo đó[.]
Trang 1I GIỚI THIỆU CHUNG
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước
1. Hoàn cảnh ra đời:
Vào đầu những năm 90,chiến tranh lạnh kết thúc, thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực => kinh tế các nước ASEAN có những thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ
và nỗ lực của toàn hiệp hội, những thách thức đó là:
- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế
- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này
- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực
Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái
Lan, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)
Trang 22 Những mục tiêu cơ bản của AFTA
a Tăng cường trao đổi buôn bán trong nội bộ khối bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước ASEAN
Đây là mục tiêu quan trọng nhất của AFTA Bởi lẽ các nước thành viên ASEAN đều có nền kinh tế hướng ngoại dựa vào xuất khẩu với tỉ trọng mậu dịch với các nước ngoài khối khoảng 77% trong đó Mỹ chiếm khoảng 20%, Nhật 14% và EU 15% trong khi đó tỉ trọng mậu dịch nội bộ khối chỉ chiếm khoảng 23% theo số liệu thống kê trung bình từ năm 1993
là năm bắt đầu thực hiện Hiệp định CEPT đến năm 1998 Thêm vào đó cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của các nước ASEAN tương đối giống nhau
vì các nền kinh tế ASEAN chủ yếu đều là các nền kinh tế đang phát triển
có các điều kiện và nhu cầu xuất nhập khẩu tương đối giống nhau Vì vậy kim ngạch thương mại chịu ảnh hưởng trực tiếp của AFTA sẽ không lớn
Về mặt này, AFTA sẽ không thể so được với các thoả thuận thương mại khu vực khác như EU hay NAFTA trong đó có sự liên kết giữa các nền kinh tế rất phát triển với những nền kinh tế kém phát triển hơn như trường hợp của Mỹ và Mexico Tuy nhiên mục tiêu này nhằm thúc đẩy sự hợp tác kinh tế trong nội bộ ASEAN Thông qua AFTA, tạo ra một thị trường chung ASEAN mà trong đó các nước thành viên được hưởng ưu đãi hơn
so với các nước không thuộc Hiệp hội Từng bước, tiến tới xoá bỏ về cơ bản thuế nhập khẩu hàng hoá thuộc các nước thành viên ASEAN với nhau, nhưng vẫn giữ nguyên thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của các nước khác
Như vậy, với mục tiêu thúc đẩy buôn bán giữa các nước trong khu vực
thông qua chế độ ưu đãi thuế quan, AFTA sẽ tăng sức cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trên thương trường thế giới.
Trang 3b Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một
khối thị trường thống nhất – xây dựng khu vực đầu tư ASEAN (AIA):
Mục tiêu của AFTA là biến các nước ASEAN thành khu vực hợp tác kinh tế thông qua việc thực hiện các chương trình kinh tế mà quan trọng nhất là chương trình ưu đãi thuế quan (CEPT) Mục tiêu trung tâm này góp phần làm tăng cường năng lực kinh tế của các nước thành viên ASEAN nhằm tạo ra sức mạnh
để tự bảo vệ mình và vươn lên trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn của nền kinh tế Thế giới, tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài
c Hướng ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đặc biệt
là xu thế tự do hoá thương mại thế giới
Chương trình CEPT là sẽ đưa ASEAN AFTA trở thành một khu vực mở và
là sự phản ứng đáp lại với các mô hình bảo hộ mậu dịch ở cả trong và ngoài khu vực Hay nói cách khác mục tiêu này liên quan đến sự đáp ứng của ASEAN đối với xu hướng đang gia tăng của chủ nghĩa khu vực trên thế giới Trước những biến động của bối cảnh quốc tế, AFTA buộc phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và tương lai có thể không chỉ dừng lại ở một khu vực mậu dịch hay liên minh quan thuế mà sẽ tiếp tục được phát triển thành một liên minh tiền tệ, một liên minh kinh tế Nhờ tăng buôn bán trong và ngoài khu vực, AFTA sẽ trợ giúp cho các quốc gia thành viên ASEAN thích ứng được với chế độ thương mại đa biên đang tăng lên ngày càng nhanh chóng, hoà nhập với xu thế thương mại chung của thế giới
II HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN từ năm 1995 Việt Nam tham gia Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) trong khuôn khổ AFTA của ASEAN năm 1996 Nhưng Việt Nam chỉ thực sự cắt giảm thuế quan từ năm 1999 khi nhóm các mặt hàng đầu tiên từ Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) được chuyển vào cắt giảm thuế quan theo CEPT Theo quy định của Hiệp định CEPT, các mặt hàng của Việt Nam được chia thành 2 nhóm
Trang 4chính: Nhóm các mặt hàng cắt giảm và xoá bỏ thuế quan và Nhóm hàng nông sản nhạy cảm
Nội dung cơ bản của AFTA
1 Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung – CEPT
Cốt lõi của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do là thực hiện chương trình CEPT, nhằm giảm dần thuế nhập khẩu hàng hoá giữa các nước ASEAN với nhau tới mức 0 – 5%, nhằm mục đích khuyến khích thương mại giữa các nước thành viên Theo chương trình này, các nước thành viên đưa ra danh mục những mặt hàng sẽ tham gia vào CEPT, cắt giảm những biện pháp hạn chế phi thuế quan khác, và đưa ra lịch trình triển khai Chương trình này bắt đầu vào năm 1993, dự kiến kéo dài 15 năm, nhưng mới đây được rút bớt 5 năm, tức là kết thúc vào năm 2003 Theo quy ước của AFTA, ngoài các loại nông sản chưa chế biến hoặc sơ chế là những mặt hàng không nằm trong CEPT, mỗi nước xác định và đăng ký 3 loại mặt hàng tuỳ theo mức độ tham gia CEPT; không tham gia hoàn toàn, tạm thời chưa tham gia và tham gia
Các mục tiêu của AFTA sẽ được thực hiện thông qua một loạt các thoả thuận trong hiệp định AFTA như là: sự thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hoá hàng hoá giữa các nước thành viên, công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá của nhau, xoá bỏ những quy định hạn chế đối với ngoại thương, hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô… trong đó CEPT là cơ chế thực hiện chủ yếu
CEPT, về thực chất, đó là một thoả thuận giữa các thành viên ASEAN về việc giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn 0-5% thông qua “cơ cấu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung” đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi quan thuế trong vòng 10 năm, được bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2003 Hiệp định này sẽ được áp dụng đối với mọi loại sản phẩm công nghiệp chế biến, bao gồm cả các hàng hoá tư bản và các sản phẩm công nghiệp đã qua chế biến
Sự thoả thuận giữa các nước thành viên ASEAN về việc cắt giảm thuế quan trong nội bộ xuống còn 0 – 5%, hạn chế về định lượng và các hàng rào phi
Trang 5quan thuế từ ngày 1/1/1993 đến ngày 1/1/2003 Chương trình thuế quan ưu đãi
có hiệu lực chung này sẽ thực hiện theo 4 danh mục:
- Danh mục 1 là giảm thuế nhập khẩu, được chia làm 2 phần: Phần thứ 1 là cắt
giảm nhanh, áp dụng cho các loại sản phẩm có mức thuế suất từ 20% trở xuống
và phần thứ 2 là cắt giảm thuế quan thông thường, áp dụng cho các loại hàng
hoá có mức thuế suất nhập khẩu cao hơn 20% Danh mục này được áp dụng cho
15 nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến của ASEAN như: xi măng, hoá chất, phân bón, chất dẻo, hàng điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản phẩm da, sản phẩm cao su, giấy, đồ gốm và thuỷ tinh, đồ dùng bằng gố và song mây, dược phẩm với khoảng 3200 mặt hàng, chiếm tới 43% tổng số danh mục giảm thuế của toàn ASEAN
- Danh mục 2 là Danh mục loại trừ tạm thời, chưa cắt giảm thuế nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho một số thành viên ASEAN tham gia vào tiến trình tự do hoá thương mại mà không bị sốc về kinh tế, tiếp tục các chương trình đầu tư đã được đưa ra trước khi tham gia kế hoạch CEPT hoặc có thời gian để hỗ trợ cho sự ổn định thương mại hoặc để chuyển hướng sản xuất đối với một số sản phẩm tương đối trọng yếu trong buổi đầu tham gia CEPT, không bị ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước Sau 5 năm, những hàng hoá này sẽ phải chuyển dần sang Danh mục giảm thuế, mỗi năm 20% số sản phẩm trong Danh mục loại trừ tạm thời
- Danh mục 3 là Danh mục loại trừ hoàn toàn, bao gồm các sản phẩm không
tham gia CEPT nhưng phải có điều kiện phù hợp với quy chế Tổ chức Thương mại quốc tế WTO Đây là các mặt hàng có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, vốn sống và sức khoẻ con người, động vật, thực vật, các giá trị lịch
sử, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật của mỗi nước
- Danh mục 4 là sản phẩm nông sản chưa qua chế biến Các mặt hàng nông sản
chưa chế biến có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế các nước ASEAN Thời hạn đưa các mặt hàng trong danh mục này vào Danh mục giảm thuế sẽ bắt đầu từ 2001 và kết thúc vào 2003, đối với Việt Nam là 2004 và 2006
Trang 6Hơn nữa, chương trình CEPT còn cho phép các nước thành viên đưa ra một danh mục tạm thời chưa thực hiện tiến trình giảm thuế theo kế hoạch CEPT
để các nước có thời gian chuẩn bị, nâng cao hơn khả năng cạnh tranh hàng hoá của nước mình
Tuy vậy, trong khung hiệp định đó, CEPT được nhấn mạnh cho các mặt hàng công nghiệp chế biến là đối tượng chủ yếu được thụ hưởng các ưu đãi của chương trình giảm thuế quan Việc cắt giảm thuế quan cho chúng sẽ được áp dụng trong một lịch trình cụ thể theo 2 kênh giảm nhanh và giảm thông thường đồng tuyến, nghĩa là trong vòng 7 đến 10 năm, phải đưa được khoảng 90% trong
số hơn 44.000 dòng thuế của các nước ASEAN xuống mức thuế dưới 5% vào năm 2000 và sau đó sẽ đưa được mức thuế quan bình quân của toàn ASEAN vào năm 2003 khoảng 2,63%
+ Kênh giảm thuế nhanh (còn gọi là kế hoạch giảm thuế quan tăng tốc) có lịch
trình giảm thuế nhanh sẽ được phân định thành hai nấc: các sản phẩm có thuế suất trên 20% được giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/2000 và các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% được giảm xuống còn 0-5% vào 1/1/1998
+ Kênh giảm thuế bình thường (còn gọi là chương trình giảm thuế quan theo lịch
trình thông thường) sẽ áp dụng cho tất cả các sản phẩm công nghiệp chế biến còn lại Đối với những sản phẩm có thuế suất trên 20%, việc giảm thuế ở kênh này sẽ được tiến hành theo hai nấc: sẽ giảm thuế suất của chúng xuống tới 20% vào năm 1998 và sau đó sẽ tiếp tục giảm xuống còn 0-5% vào năm 2003 Đối với sản phẩm đã có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm thuế đến 0-5% trong vòng 7 năm, tức là kết thúc vào năm 2000 Các danh mục giảm thuế theo kênh thông thường hiện chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số các danh mục hàng hoá tham gia CEPT với 49%
Với các tỷ lệ lớn của hai danh mục giảm thuế trong chương trình thực hiện CEPT (khoảng 93%), các lịch trình giảm thuế này nếu được thực hiện, về căn bản, chúng đã gần như hoàn thành tỷ suất tự do hoá thương mại nội bộ ASEAN
Trang 7Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội (15-16/12/1998), với sáng
kiến thực hiện các thoả thuận đa phương và song phương, đã khẳng định một lần
nữa việc đẩy nhanh tiến trình AFTA.
Nội dung đẩy nhanh AFTA cho tới nay tập trung vào một số điểm chính như sau :
- Đẩy nhanh mốc thời gian hoàn thành AFTA , tức là thời điểm mà các thành viên đạt thuế nhập khẩu CEPT từ 0-5%
- Đẩy nhanh việc chuyển các dòng thuế trong danh mục loại trừ tạm thời sang danh mục cắt giảm ngay
- Chuyển các mặt hàng trong danh mục nhạy cảm sang các danh mục khác , đồng thời đẩy nhanh việc cắt giảm thuế cho các mặt hàng còn lại trong danh mục này
- Rà soát lại và giảm các mặt hàng trong danh mục loại trừ hoàn toàn, chỉ giữ lại những mặt hàng được xác định theo điều 9 của Hiệp định CEPT
- Giảm thuế các mặt hàng theo CEPT xuống 0% vào năm 2010 đối với các nước thành viên cũ ASEAN -6 và năm 2015 với các nước thành viên mới
- Thực hiện các chương trình thuận lợi hóa thương mại , bao gồm các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và hợp chuẩn, hài hòa về hải quan
và nhiều chương trình khác
Như vậy, xét một cách tổng quát, cấu trúc CEPT bao gồm 3 danh mục chính: danh mục giảm thuế, danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế và danh mục các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến Tuy nhiên, để vận dụng đúng hơn về CEPT, các thành viên ASEAN đã thống nhất xây dựng một danh mục loại trừ hoàn toàn một số sản phẩm ra khỏi lịch trình giảm thuế theo CEPT, tức
là việc cắt giảm thuế đối với những sản phẩm này sẽ không được áp dụng theo các quy định của CEPT Đó là những sản phẩm có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, cuộc sống và sức khoẻ con người, đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử, khảo cổ…
Trang 8Điều kiện để các sản phẩm được hưởng ưu đãi trong khuôn khổ CEPT/AFTA:
Thực hiện dựa trên nguyên tắc có đi có lại Nguyên tắc này bắt buộc các
nước thành viên để được hưởng ưu đãi về thuế quan của nhau khi xuất khẩu theo
CEPT cần đảm bảo đúng các yêu cầu sau đây: thứ nhất, sản phẩm đó phải nằm
trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu và phải
có mức thuế quan tối đa là 20%; thứ hai, sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua; và thứ ba, sản phẩm đó phải là
những sản phẩm có hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN với ít nhất là 40%
Nếu một sản phẩm đảm bảo được ba yêu cầu đó, chúng sẽ được hưởng ưu đãi hoàn toàn từ phía các quốc gia nhập khẩu Để xác định các sản phẩm có đủ điều kiện hưởng thuế quan ưu đãi theo chương trình CEPT hay không, mỗi nước thành viên hàng năm phải công bố “tài liệu trao đổi ưu đãi CEPT” trong đó cần thể hiện được mức thuế quan của các sản phẩm theo CEPT và các sản phẩm có
đủ điều kiện ưu đãi
=> Tóm lại, CEPT được thực hiện sẽ đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại trong nội bộ ASEAN
2 Huỷ bỏ hạn chế về định lượng hàng rào phi quan thuế
Đây là cơ chế quan trọng thứ hai được tiến hành đồng thời với thực hiện chương trình CEPT Các nước thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế
về số lượng đối với các sản phẩm CEPT trên cơ sở chế độ ưu đãi thuế quan được
áp dụng chocác sản phẩm đó Các hàng rào phi thuế quan khác cũng sẽ được xoá
bỏ dần dần trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi. Đây là sự
hỗ trợ cực kỳ quan trọng cho tiến trình AFTA vì lẽ cắt giảm thuế là biện pháp cần thiết, đầu tiên song đó không phải là biện pháp duy nhất để thực hiện tự do hoá thương mại Các khía cạnh như: các kênh giảm thuế đồng tuyến, danh mục loại trừ tạm thời, danh mục hàng nông nghiệp chưa qua chế biến… tạo nên tính
kỹ thuật của chính sách tự do hoá thương mại, còn cấu thành nên sự tác động có tính chất hành chính, pháp lý giữa các quốc gia trong tiến trình chu chuyển
Trang 9thương mại đó là các biện pháp về giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các hạn chế về tỷ giá hối đoái, các biện pháp về tiêu chuẩn kỹ thuật hàng hoá… Đây
là những rào cản trong thực tiễn hoạt động thương mại, nó gắn chặt với các chính sách bảo hộ mậu dịch nặng nề và theo đó, việc loại bỏ chúng sẽ không dễ dàng nếu không có sự cải cách toàn diện ở tầm vĩ mô nền kinh tế của từng nước Hơn nữa, hiện nay, những biện pháp này còn rất không đồng nhất giữa các nước thành viên ASEAN Do vậy, để chuẩn bị tốt tiến trình xoá bỏ các hàng rào phi quan thuế, Uỷ ban Phối hợp thực hiện CEPT/AFTA của ASEAN đã tiến hành các bước như sau:
Bước 1: Các nước thành viên cùng thống nhất định nghĩa về các biện
pháp phi quan thuế dựa trên sự phân loại của UNCTAC
Bước 2: tập trung trước tiên việc giảm các hàng rào phi thuế quan đối với
các sản phẩm có tỷ trọng lớn trong giao dịch thương mại nội bộ ASEAN
Bước 3: Ban thư ký ASEAN sẽ tập hợp thông tin các hàng rào phi quan
thuế của các nước thành viên từ nhiều nguồn, gồm: báo cáo của các quốc gia thành viên, bản đánh giá chính sách thương mại của GATT, báo cáo của Phòng thương mại-Công nghiệp ASEAN, hệ thống thông tin và phân tích dữ liệu thương mại của UNCTAC… để có một chính sách điều hoà thích hợp Trừ một
số lý do được phép duy trì các hàng rào phi quan thuế như: sự cần thiết phải bảo
hộ một số sản phẩm thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn, sự bảo hộ đối với một số sản phẩm trong thời gian còn được hưởng chế độ miễn trừ tạm thời… việc xoá
bỏ các hàng rào phi quan thuế cần được phối hợp đồng bộ với chương trình CEPT, trong đó quan trọng nhất và khó khăn nhất là việc thống nhất các tiêu chuẩn về hàng hoá và việc thừa nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn hoá hàng hoá giữa các nước thành viên Hiện tại, Uỷ ban về tiêu chuẩn Chất lượng của ASEAN (ACCSQ) đang tiến hành thống nhất hoá các tiêu chuẩn về kỹ thuật của các sản phẩm CEPT thuộc nhóm những hàng hoá có kim ngạch buôn bán lớn giữa các nước ASEAN
Tuy nhiên, việc thống nhất và xoá bỏ các hàng rào phi quan thuế là một
công việc khó khăn vì ba lý do: thứ nhất, các hàng rào phi quan thuế đa dạng và
Trang 10thường ẩn dấu đằng sau các chính sách (ví dụ chính sách kiểm dịch, chính sách duy trì hạn ngạch để hỗ trợ công nghiệp, chính sách đánh giá cao giá trị của
đồng bản tệ…); thứ hai, các bộ luật thuế quan của các nước ASEAN vẫn còn
chưa được điều hoà (Việt Nam theo hệ thống điều hoà thuế quan (HS) 6 chữ số, Thái Lan là HS-8, Malaysia và Singapore là HS-9…), và theo đó, cơ quan hải quan trong từng nước thành viên khó có thể áp dụng đúng thuế, đúng sản phẩm
Thứ ba là, các nguyên tắc về xuất xứ sản phẩm cũng sẽ làm phức tạp hơn các
tình thế xử lý về mặt phi quan thuế theo CEPT khi đầu tư và thương mại giữa các nước ASEAN trở nên thường xuyên và mật thiết Để giải quyết các vấn đề này, phòng Thương mại và Công nghiệp ASEAN có nhiệm vụ đẩy nhanh quá trình điều hoà các bộ luật thuế quan với sự ưu tiên trước hết giành cho các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch buôn bán nội bộ ASEAN và những sản phẩm thuộc 15 danh mục hàng hoá tham gia kênh giảm thuế nhanh của CEPT Hội đồng CEPT đã tán thành kế hoạch hành động để điều hoà về các tiêu chí luật thuế và phi quan thuế trên toàn khu vực vào năm 1997
3 Sự phối hợp trong ngành hải quan
Các nước ASEAN đã xác định việc hợp tác hải quan là một trong những nhân tố quan trọng để thực hiện mục tiêu của AFTA, do vậy ngay sau khi Hiệp định CEPT được ký kết, các nước đã tăng cường hợp tác trên lĩnh vực này
Phối hợp hải quan là cơ chế thực hiện của chương trình CEPT khi nó hỗ trợ các nước thành viên thống nhất biểu thuế quan theo Hệ thống điều hoà (HS) của nó Hơn nữa, nó tạo thuận lợi cho việc thực hiện giảm thuế và phi quan thuế khi hệ thống tính giá hải quan được thống nhất, các luồng xanh ưu đãi cho hàng hoá theo CEPT của ASEAN được hình thành và đặc biệt thủ tục hải quan được thống nhất Như vậy, tiến trình AFTA nhanh hay chậm, được điều chỉnh hay bổ sung đều tuỳ thuộc đáng kể vào các chương trình hợp tác hải quan
Trên cơ sở thực hiện Hiệp định CEPT với các nước ASEAN, thời gian vừa qua Việt Nam đã đạt được nhiều thuận lợi về thương mại với các nước ASEAN, điều dó tạo điều kiện để kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng