Công nghiệp Chương 1 Tổng quan về ngành công nghiệp và các tiêu chí đánh giá sự phát triển ngành công nghiệp 1 1 Tổng quan về ngành công nghiệp 1 1 1 Khái niệm về ngành công nghiệp Ngành công nghiệp l[.]
Trang 1Công nghiệp
Chương 1: Tổng quan về ngành công nghiệp và các tiêu chí đánh giá sự phát triển ngành công nghiệp
1.1 Tổng quan về ngành công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về ngành công nghiệp
Ngành công nghiệp là tập hợp các đơn vị kinh tế sử dụng máy móc, thiết bị để thực hiệnhoạt động: khai thác, chế biến để tạo ra các sản phẩm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùngđáp ứng nhu cầu của nền kinh tế
1.1.2 Vai trò của ngành công nghiệp
Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân bao gồm tất
cả các ngành công nghiệp chuyên môn hóa, các xí nghiệp công nghiệp thực hiện chứcnăng khai thác, chế biến, sửa chữa Sản phẩm của công nghiệp là toàn bộ công cụ laođộng phần lớn đối tượng lao động và vật phẩm tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêudùng và sản xuất của xã hội Quá trình phát triển sản xuất công nghiệp cả về cơ sở vậtchất kỹ thuật cũng như kinh tế xã hội đã khẳng định vai trò chủ đạo và từng bước pháthuy vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Biểu hiện của tính chủ đạo:
Về mặt kỹ thuật: Đóng vai trò chủ đạo mở đường dẫn dắt, thúc đẩy, quyết định sự phát
triển vì cái quyết định để tạo ra “sự thắng lợi của một trật tự xã hội mới” đó là năng suấtlao động, nhưng năng suất lao động phụ thuộc vào công cụ, do ngành công nghiệp tạora
Về mặt tổ chức sản xuất: Quy mô lớn, sản xuất theo dây chuyền Là hình mẫu cho các
Trang 2Tốc độ tăng trưởng là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu đánh giá mặt lượng của sự phát triểnCông nghiệp, tốc độ tăng trưởng phản ánh sự gia tăng về quy mô của tổng sản phẩm trongnước ( GDP ) năm sau so với năm trước và giữa các thời kỳ với nhau của ngành côngnghiệ p Để đánh giá tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp chủ yếu dựa trên 2 phươngpháp tính: giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định năm 1994 và chỉ số sản xuất côngnghiệp (Index Industry Products ) gọi tắt là chỉ số IIP.
Song, hiện nay, hầu hết quốc gia trên thế giới không còn áp dụng phương pháp xác địnhgiá trị trực tiếp từ giá và lượng của từng loại sản phẩm để tính giá trị sản xuất theo giá cốđịnh và tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp
Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế về số liệu thống kê công nghiệp, thờigian qua Tổng Cục Thống kê đã phối hợp với cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật bản (JICA)
và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật bản (METI) nghiên cứu xây dựngphương pháp thống kê công nghiệp mới đặt cơ sở cho việc thay thế phương pháp hiệnhành, đó là phương pháp Chỉ số sản xuất công nghiệp (Index - Industry Products) gọi tắt làchỉ số IIP
Iq: tốc độ phát triển sản xuất một ngành, một tỉnh, TP, một khu vực
iq: tốc độ phát triển của sản phẩm hoặc ngành cấp dưới liền kề
Wqo : quyền số được tính bằng giá trị tăng thêm kỳ gốc (Giá trị tăng thêm: Phảnánh giá trị hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được tạo ra trong một thời kỳ nhất định Vì khôngbao gồm chi phí trung gian nên nó phản ánh đúng mức kết quả hoạt động do cơ sở sảnxuất ra)
Bản chất của phương pháp này là xác định tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất côngnghiệp dựa vào khối lượng sản phẩm sản xuất Toàn bộ doanh nghiệp lớn, vừa và mộtphần các doanh nghiệp nhỏ cùng các sản phẩm chủ yếu do tỉnh sản xuất đều được thamgia vào tính toán tốc độ tăng trưởng Với phương pháp IIP, ta có thể đánh giá được tốc độ
Trang 3tăng trưởng của một sản phẩm, một ngành cụ thể hay toàn bộ ngành công nghiệp một cáchchính xác, kịp thời Đáp ứng nhu cầu điều hành nhanh, linh hoạt của các cấp quản lý.1.2.2 Sự phát triển của các yếu tố nguồn lực
Tổng Vốn đầu tư
Quy mô vốn lớn, vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn
Nhu cầu đầu tư phát triển công nghiệp lớn hơn nhiều so với các ngành nông nghiệp vàdịch vụ là do đặc điểm kỹ thuật của các ngành công nghiệp quyết định Đặc điểm kinh tế -
kỹ thuật này thể hiện ở chỗ các tài sản cố định và đầu tư dài hạn của công nghiệp là rấtlớn Các ngành có đặc điểm này rõ nhất là các ngành công nghiệp khai thác (than, dầu
mỏ, khí đốt ), công nghiệp thuộc kết cấu hạ tầng (sản xuất và truyền dẫn điện, sản xuất
và truyền dẫn nước ), công nghiệp phục vụ nông nghiệp (cơ khí, hoá chất) Các ngànhcông nghiệp khai thác, công nghiệp cơ khí, công nghiệp thuộc kết cấu hạ tầng có giá trịtài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn, kết quả của đầu tư phát triển lớn gấp nhiều lầncác cơ sở công nghiệp khác
Mặc dù đầu tư phát triển công nghiệp là khoản vốn lớn, thu hồi chậm nhưng rất cần chonền kinh tế Với nhiệm vụ chi đầu tư phát triển công nghiệp như vậy, quy mô và tỷ trọngđầu tư phát triển công nghiệp trong thực tế là rất lớn
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư:
Dùng hệ số ICOR để phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong ngành công nghiệp.Nếuvốn đầu tư được phân bổ vào những lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cao, sửdụng vốn đầu tư có hiệu quả hơn, tránh được thất thoát, lãng phí thì hệ số ICOR sẽ thấphơn ICOR càng cao thể hiện đầu tư càng không có hiệu quả
Nguồn lao động
Đặc điểm nguồn lao động trong ngành công nghiệp:
Nhân lực công nghiệp bắt buộc phải qua đào tạo Lao động tập trung, làm việc theo dâychuyển sản xuất Nguồn nhân lực công nghiệp phải được phân bố tập trung gắn với khu
đô thị, khu cụm công nghiệp Tác phong công nghiệp là tính kỷ luật cao Trình độ nhậnthức của nhân lực công nghiệp đòi hỏi phải cao Trong quá trình sử dụng cần phải chútrọng đào tạo, đào tạo lại để hình thành đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ quản lý giỏi
Trang 4Năng suất lao động là hiệu quả của hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời
gian, nó được biểu hiện bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gianhoặc hao phí để sản xuất ra được một sản phẩm
Bản chất của năng suất lao động là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hay mức hiệu quả của laođộng Năng suất lao động thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh
tế nói chung Năng suất lao động cao có nghĩa là ngành công nghiệp có thể sản xuất
ra nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ hơn với cùng một lượng nguyên liệu/yếu tố đầu vào, hoặcsản xuất ra số lượng hàng hóa tương đương với lượng nguyên liệu/yếu tố đầu vào ít hơn.Năng suất lao động ảnh hưởng đến tất cả mọi người:
Đối với doanh nghiệp, tăng năng suất lao động tạo ra lợi nhuận lớn hơn và thêm cơ hộiđầu tư
Đối với người lao động tăng năng suất lao động dẫn tới lương cao hơn và điều kiệnlàm việc tốt hơn Về lâu dài, tăng năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng đối với tạoviệc làm
Chất lượng nguồn lao động là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động
với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêucũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động Được đánh giá dựa trên: Thểlực, trí lực, tâm lực
1.2.3 Cơ cấu ngành công nghiệp
Cơ cấu ngành CN là số lượng ngành CN chuyên môn hóa và mối liên hệ kinh tế sản xuất
giữa các ngành đó biểu hiện quan hệ tỷ lệ về mặt lượng trong lĩnh vực sản xuất giữa cácnganh đó với nhau Cơ cấu ngành CN biểu hiện trình độ phát triển CN của đất nước, trình
độ trang bị kỹ thuật, trình độ tự chủ của nến kinh tế cũng như trình độ tăng năng suất laođộng xã hội và mức độ hiệu quả của sản xuất
Cơ cấu công nghiệp xem xét trên các mặt chủ yếu sau:
Cơ cấu công nghiệp theo ngành: Là tỉ trọng giá trị sản xuất của từng ngành (nhóm ngành) trong
toàn bộ hệ thống các ngành công nghiệp
Cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ: Sự phân hóa lãnh thổ CN là sự thể hiện ở mức độ tập trung côngnghiệp trên một vùng lãnh thổ
Trang 5Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế bao gồm: khu vực Nhà nước (gồm trungương và địa phương), khu vực ngoài Nhà nước (gồm tập thể, tư nhân, cá thể), khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài.
Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là sự thay đổi cơ cấu công nghiệp cả trên khía cạnh các
bộ phận cơ cấu ngành, vùng, thành phần, mối quan hệ giữa chúng cả trên khía cạnh sốlượng và chất lượng của cơ cấu, để phù hợp với môi trường kinh tế tổng thể bảo đảm pháttriển kinh tế bền vững
1.2.4 Đóng góp của ngành công nghiệp tới phát triển nền kinh tế
Đóng góp và đẩy mạnh tốc độ đô thị hoá
Đóng góp và sự phát triển liên kết giữa các ngành
Đóng góp và phân công lao động
Chương 2: Đánh giá tăng trưởng ngành công nghiệp Việt Nam giai đoan 2011-2016 2.1.Tổng quan về ngành công nghiệp Việt Nam
Sau gần 30 năm "Đổi mới", Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Cácngành công nghiệp đã phát triển nhanh chóng và trở thành động lực tăng trưởng kinh tếtrong thời gian qua Một số sản phẩm và doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam đã khẳngđịnh được vị thế trên thị trường quốc tế Tuy vậy, công nghiệp Việt Nam còn bộc lộ nhiềuyếu kém: tăng trưởng chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài, vào giá nhân công rẻ với taynghề thấp, vào khai thác tài nguyên thiên nhiên; chưa chú trọng đến công nghệ, kỹ thuật
và lao động chất lượng cao, các ngành công nghiệp cạnh tranh rất yếu ngay tại thị trườngnội địa…
Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế
-xã hội, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và phát triển công nghiệp nóiriêng đã liên tục được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nướctrong bối cảnh tình hình mới Tăng trưởng ngành công nghiệp đã có dấu hiệu phục hồitrong năm 2015 và dự báo sẽ tăng trưởng cao hơn trong giai đoạn 2016-2020, nhất làtrong bối cảnh Việt Nam tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thế hệ mới,Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Có tận dụng được các cơ hội này haykhông, phụ thuộc vào nhận thức và sự chuẩn bị của các doanh nghiệp (DN)
Trang 6Việt Nam đã đi lên và đạt được nhiều kết quả tích cực Giá trị gia tăng ngành công nghiệp
đã tăng 7,6%, giá trị sản xuất tăng bình quân 10% trong giai đoạn 2011 – 2015 Theo BộCông Thương, ngành sản xuất công nghiệp đã có bước phát triển và chuyển dịch cơ cấutheo hướng tích cực khi tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo tăng cao…
Tuy nhiên, nhiều ngành công nghiệp trọng điểm vẫn chưa có sức bật mạnh mẽ, xứng đángvới tiềm năng của đất nước Phần lớn đều là những ngành sản xuất thô, có tính gia côngcao và chưa mang lại nhiều gia trị gia tăng cho đất nước và thiếu những ngành côngnghiệp mang tính nền tảng như công nghiệp hỗ trợ Trước những thách thức mới này, đểkhai thác hiệu quả và hợp lý nhất mọi nguồn lực và cơ hội của quốc gia, nhằm phát triểncác ngành công nghiệp nhanh và bền vững mà công cụ quan trọng là có được một hệthống các chính sách phát triển công nghiệp đúng đắn, được thực thi mạnh mẽ và quyếtliệt
2.2 Đánh giá tăng trưởng ngành công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2016
2.2.1 Sự phát triển các yếu tố nguồn lực
Yếu tố vốn
Kể từ khi đổi mới đường lối kinh tế, nền công nghiệp nước ta đạt tốc độ tăng trưởng khácao, nhưng chủ yếu là tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào tăng quy mô vốn, tăng khaithác tài nguyên đất đai, khoáng sản và giá lao động rẻ, chưa chú trọng tăng trưởng theochiều sâu Nước ta có thể và cần phải huy động tối đa nội lực, nhất là nguồn lực tài chínhcòn tiềm tàng trong nền kinh tế để nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại từ công nghệnguồn với giá thấp, đẩy mạnh đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhằm đổimới cấu trúc nền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của các doanhnghiệp, chuyển mạnh nền kinh tế sang phát triển theo chiều sâu
Vốn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốnngoài nước Giữa 2 nguồn vốn đầu tưu trong nước và nước ngoài thì vốn đầu tư trongnước được coi là giữ vai trò quyết định cho sự phát triển, vốn đầu tư nước ngoài được xácđịnh là rất quan trọng, để tạo ra sự đột phá cho sự phát triển
Nguồn vốn trong nước
Tiềm lực tài chính quốc gia tiếp tục được tăng cường và củng cố ở cả ba cấp độtài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư Giai đoạn 2011 – 2015,tính chung tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) 5 năm 2011 - 2015 đạt hơn 220 tỷ đồng,
Trang 7tăng gấp 2 lần giai đoạn 2006 – 2010(NSNN đạt 100 tỷ đồng) Bên cạnh đó, cơ cấu thuNSNN tiếp tục có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu vốn đầu tư sự phụ thuộc vàonguồn thu từ dầu thô, thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu giảm dần Trong cơcấu thu nội địa, nguồn thu từ sản xuất - kinh doanh đã trở thành nguồn thu giữ vai tròquan trọng của NSNN.
Nguồn vốn từ nước ngoài
Cơ cấu của các nguồn vốn ngày càng đa dạng, tỷ trọng các nguồn vốn cũng có sự thay đổi
rõ rệt qua từng năm: giảm dần tỷ trọng vốn vay ngân sách nhà nước, đồng thời tăng tỷtrọng cũng như vai trò của nguốn vốn vay và các nguồn vốn khác Về thu hút vốn hỗ trợphát triển chính thức (ODA), tổng số vốn cam kết trong giai đoạn 2011 - 2015 ước đạtkhoảng 30 tỷ USD, trong đó số giải ngân ước đạt 23 tỷ USD. Quy mô huy động vốn trênthị trường chứng khoán giai đoạn 2011 - 2014 gấp gần 3 lần so với giai đoạn 2006 - 2010,đóng góp ngày càng lớn vào tổng đầu tư toàn xã hội
Bảng 2.1: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế
Vốn ngân sách Nhà nước Vốn vay Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước và nguồn vốn khác
Trang 8Nguồn : Tổng cục thống kê
Hiệu quả sử dụng vốn:
Trên thưc tiễn về tình hình tăng trưởng của Việt Nam: mô hình tăng trưởng chủ yếu dựavào vốn, mà hiệu quả lại không cao cùng với năng suất lao động thấp, thì nhu cầu đối vớitiền tệ, yêu cầu cung tiền luôn cao, nên tăng trưởng kinh tế tạo sức ép lạm phát Bên cạnh
đó, năng lực cạnh tranh của VIệt Nam ngày càng giảm đi kèm theo xu hướng mở cửatrong quá trình thu hút vốn do đó yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng đặt ra ở đại hộiXI(2011) đó là đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều rộng kết hợp chiều sâu
Nhìn vào thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015 cho thấy: quy môGDP ở mức thấp so với các nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng:
5-6,5%/năm, GDP/người năm 2014 đạt: 2,052 USD đã cho thấy thực trạng tăng trưởngcủa nước ta
Theo các yếu tố đầu vào:
Bảng 2.2 Tỷ lệ đóng góp của các yếu tố đầu vào sản xuát
Năm Tốc độ tăng
GDP
Tỷ lệ đóng gópcủa K
Tỷ lệ đóng gópcủa L
Tỷ lệ đống gópcủa TFP
( Nguồn: Báo cáo năng suất năm 2015)
Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy: Việt Nam tăng trưởng vẫn dưạ vào vốn , giai đoạn
2011 - 2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt khoảng 31% GDP (mục tiêu đề ra là33,5% đến 35%), tuy có giảm về tỷ trọng so với GDP, song quy mô huy động giai đoạn
Trang 92011 - 2015 vẫn gấp khoảng 1,8 lần giai đoạn 2006 - 2010 Và hiệu quả sử dụng vốn vẫncòn hạn chế tuy nhiên được cải thiện hơn : Khởi đầu giai đoạn 2011-2015, để khắc phụcnhững bất cập trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư theo phương thức cũ, việc tái cơ cấuđầu tư, đặc biệt là Luật Đầu tư công đã được thông qua, quá trình tái cơ cấu đầu tư côngbước đầu đã có chuyển biến tích cực, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng giảm dần, tuynhiên tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước vẫn ở mức cao (bình quân giai đoạn
2011 – 2015 đạt khoảng 39,1%) do Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho
hạ tầng cơ sở, bao gồm cả hạ tầng cơ sở ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xoá đói giảmnghèo, đảm bảo an sinh xã hội Nhưng mặt chủ quan vẫn là cơ chế quản lý đầu tư xâydựng lỏng lẻo, lãng phí nghiêm trọng, quy hoạch đầu chưa hợp lý… và tỷ trọng nguồnvốn khu vực ngoài nhà nước ( khu vực có nhiều tiềm năng và có hệ số ICOR thấp) đãtăng từ mức 36,1%, năm 2010 lên trên 40% Kết quả hệ số ICOR cho thấy, nếu giai đoạn2001-2005 để tạo ta 1đồng GDP phải đầu tư 4,88 đồng giá trị tích luỹ tào sản, giai đoạn2006-2010 cần 6,96 đồng thì sang giai đoạn này hệ số ICOR tiếp tục tăng với 6,92 đồnggiá trị tích luỹ tài sản để tạo ra 1 đồng GDP ICOR của Việt Nam tuy có giảm nhưng vẫn
ở mức cao chứng tỏ hiệu quả đầu tư không những thấp, mà còn sụt giảm ICOR năm
2011 cao gấp hơn 1,5 lần năm 1996, cao gấp trên 1,2 lần năm 2001, cao gấp 1,3 lần năm
2006 đang đặt ra vấn đề về hiệu quả sử dung vốn của Việt Nam.?
Việt Nam đã có chuyển biến trong việc phát triển vốn nhân lực để đáp ứng quá trình côngnghiệp hoá-hiện đại hoá theo như Chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2020 đã nêu.Tuy đặt ra vấn đề trong việc tăng trưởng dài hạn đó là phát triển về chất, tức là tăngtrưởng theo chiều sâu như đại hội XI đã nêu, Việt Nam vẫn đang gặp những trợ ngại vàthách thức để có thể hoàn thiện theo đúng những gì đặt ra và cần nỗ lực hơn nữa trongthười gian dài, do đó các giải pháp cần phải được nêu ra để nhằm hoàn thiện hơn trongquá trình tăng trưởng
Yếu tố lao động
Năng suất lao động:
Năm 2014, Việt Nam có gần 5,4 triệu lao động trình độ cao, bao gồm 585 nghìn lãnh đạotrong các ngành, các cấp và các đơn vị (chiếm 10,9% lao động trình độ cao); 3.165 nghìnlao động chuyên môn kỹ thuật bậc cao (chiếm 58,7%) và 1.638 nghìn lao động chuyênmôn kỹ thuật bậc trung (chiếm 30,4%) Giai đoạn 2009-2014, lao động trình độ cao tăngkhá nhanh, từ 4,5 triệu người lên 5,4 triệu người Các nước đang phát triển thường đứngtrước tình trạng khó khăn do trình độ chuyên môn thấp của người lao động
Trang 10Bảng 2.3: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo ngành kinh tế.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Qua bảng số liệu ta thấy được số lượng lao động trong các ngành công nghiệp khá cao vàtăng dần qua các năm, Chiếm tỉ trọng nhiều nhất trong các ngành nêu trong bảng là côngnghiệp chế biến, chế tạo sau đó là xây dựng và ngành khai khoáng
Mặc dù tăng nhanh nhưng quy mô lao động trình độ cao vẫn còn nhỏ bé so với yêu cầucủa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Với gần 5,4 triệu người,lao động trình độ cao hiện chỉ chiếm 10,2% tổng việc làm cả nước Giai đoạn 2009-2014,lao động trình độ cao chỉ tăng bình quân mỗi năm 175nghìn người, bằng 1/5 mức tăng củatổng việc làm
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển kinh tế, năng suất lao động xã hội của nước ta có xuhướng ngày càng tăng: Theo cách tính năng suất lao động đo bằng tổng sản phẩm trongnước (GDP) theo giá hiện hành chia cho tổng số người làm việc bình quân trong 01 năm,năng suất lao động năm 2010 là 44,0 triệu đồng/người, năm 2012 là 63,1 triệuđồng/người, sơ bộ năm 2013 là 68,7 triệu đồng/người, cao gấp gần 1,6 lần so với năm
2010 Tuy nhiên vẫn ở mức thấp so với các nước trong khu vực “Tính bình quân 17 nămtrở lại đây, năng suất lao động xã hội của nước ta đạt trên 24 triệu đồng/lao động/năm(tương đương khoảng 1.600 USD/lao động/năm), thấp hơn nhiều so với Thái Lan,Indonesia, Malaysia, Philippines, và Hàn Quốc” – Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán
Trang 11Nguyên nhân rõ ràng nhất của tốc độ tăng năng suất lao động thấp là do nền kinh tế đãkhông thể duy trì tốc độ tăng trưởng như trong quá khứ khi chỉ đạt tốc độ tăng trưởngkinh tế 5,73%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng việc làm vẫn ổn định ở mức 2,43%/năm.
Ta nhận thấy rằng trong ngành kinh tế nói chung cũng như ngành công nghiệp nói riêngthì hệ số ICOR còn cao, nghĩa là hiệu quả sử dụng vốn còn thấp Không thể phủ nhận,hiệu quả đầu tư đã có bước cải thiện, với ICOR giai đoạn 2011-2015 đạt 6,91, giảm so vớigiai đoạn 2006-2010 (là 6,96) Cũng rất đáng ghi nhận khi trong bối cảnh tổng vốn đầu tưtoàn xã hội so với GDP giảm mạnh (còn khoảng 32,6% GDP vào năm 2015) thì tốc độtăng trưởng vẫn duy trì ở mức hợp lý Song cũng cần thẳng thắn, ICOR của Việt Nam còncao, hiệu quả đầu tư còn thấp so với nhiều nền kinh tế trong khu vực Nguyên nhân mộtphần là do nền kinh tế đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho hạ tầng, bao gồm cả hạtầng ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.Nhưng nếu so với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng, thì hệ sốICOR của Việt Nam hiện vẫn cao
Chính phủ cũng đã thừa nhận điều này và thậm chí khẳng định, việc sử dụng vốn vay ởmột số dự án còn kém hiệu, còn thất thoát, lãng phí Các dự án đầu tư công dù thời gianqua đã được cải thiện đáng kể, song tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí cũngcòn nhiều
Nước ta hiện nay tăng trưởng còn phụ thuộc quá nhiều vào vốn, và khi tăng trưởng phụthuộc quá nhiều vào vốn như vậy dễ gây ra hiệu ứng phụ Hạn chế về vốn đầu tư là cóhạn, bên cạnh đó do năng suất lao động còn thấp, phần giá trị thặng dư để tích lũy đầu tư
mở rộng không nhiều, nên tích lũy trong nước/gdp còn nhỏ Nếu mà tăng trưởng chỉ dựavào vốn đầu tư sẽ phải tăng nợ nước ngoài, tặng nợ công và thời hạn vay ngắn hạn, gây áplực trả nợ tăng lên Việc đầu tư không hiệu quả còn gây làm cho lạm phát gia tăng trongnhững năm gần đây khiến cho vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế trở thành nhu cầu bức thiết.Tuy nhiên, cần nhìn vấn đề này một cách toàn diện mang tính chiến lược và quan trọnghơn cả là thể chế và con người
Trang 12Chất lượng lao động:
Thể lực
Hiện nay tầm vóc người Việt Nam còn thua kém rất nhiều so với một số nước Châu Á vàcàng xa hơn so với các quốc gia Châu Âu Bằng một phép so sánh đơn giản ta có thể thấyrằng chiều cao trung bình của Việt Nam so với Thế Giới là rất thấp, chiều cao trung bìnhcủa nam thanh niên Việt Nam chỉ đạt 163,7cm, thấp hơn so với chuẩn của WHO 13,1cm;của nữ là 153cm, thấp hơn chuẩn 10,7cm
Mặc dù theo điều tra của các cơ quan chức năng, trong những năm gần đây, thể lực vàtầm vóc của người Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể, trong vòng 35 năm chiều caotrung bình của người Việt cao thêm 4m, tuy nhiên, sự cải thiện này so với sự phát triểncủa các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, là quá chậm
Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn ở mức thấp so với nhiềunước trong khu vực và trên thế và điều này ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tái sản xuấtcủa người lao động
Tất nhiên, thể lực không phải là yếu tố chính quyết định chất lượng nguồn nhân lực; song,cũng không thể phủ nhận một thực tế là, nếu con người không được nâng cao thể lực thìcũng khó có thể phát triển được trí tuệ, khả năng sáng tạo trong học tập và lao động
Trí lực
Nhìn một cách khái quát, ta có thể thấy trí lực của lực lượng lao động Việt Nam hiện nayđang có những bước thay đổi theo hướng tích cực hơn, đội ngũ lực lượng lao động cũngđược quan tâm nhiều hơn, việc tiếp cận với khoa học cộng nghệ hiện đại ngày càng tănglên Người Việt Nam được đánh giá là có nhiều tư chất thông minh và sáng tạo, nhạy béntrong tiếp thu và tiếp cận tri thức Đây là điểm nổi trội của nguồn nhân lực nước ta TheoBáo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) củaViệt Nam có sự tăng nhanh và liên tục “Năm 1995 Việt Nam mới chỉ đứng thứ 7/10
Trang 13trong khu vực Đông Nam Á, 35/50 ở châu Á và 122/175 nước trên thế giới được xếp hạngtheo chỉ số HDI, thì đến năm 2001, đã vượt lên thứ 6/7 ở khu vực Đông Nam Á, 28/36 ởchâu Á và 109/130 trên thế giới” Tuy nhiên trí lực ở nước ta vẫn còn thấp hơn nhiều sovới các quốc gia trong khu vực và toàn Thế Giới
Trí lực của nguồn nhân lực nước ta còn nhiều điểm hạn chế Biểu hiện ở những khía cạnh,như phần lớn lực lượng lao động là lao động phổ thông, số lao động được đào tạo chuyênmôn còn thấp, thợ lành nghề ít… Do vậy, năng lực thực hành và làm việc độc lập củangười lao động chưa cao
Tâm lực
Phẩm chất nghề nghiệp của người lao động Việt Nam đi vào truyền thống lịch sử của dântộc, kế thừa và phát huy qua các thế hệ Đó là lòng nhân ái, tình yêu và say mê nghềnghiệp với tư duy, nếp nghĩ “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” , “một nghề cho chín hơnchín mười nghề”, làm việc có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp Đó là truyền thống quýbáu cần được gìn giữ và phát huy Tuy nhiên, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thịtrường và nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lao động nước ta cũng bộc lộ những nhượcđiểm rất cơ bản Tác phong công nghiệp chưa trở thành phổ biến, nên tính tự do, ý thứcchấp hành luật pháp, kỷ luật trong lao động còn yếu , khả năng làm việc theo nhóm, làmviệc theo trong môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc còn hạn chế, đặc biệt là những rào cản
về văn hóa, về ngôn ngữ khi có yếu tố lao động nước ngoài hoặc làm việc ở nước ngoài
Có thể nói văn hóa nghề nghiệp của người lao động nước ta trong một nền công nghiệphiện đại chưa hình thành Do đó phẩm chất nghề nghiệp này của người lao động còn yếu,cần phải mất nhiều thời gian và kiên trì mới có thể xây dựng được Khi mà quá trình hộinhập, mở cửa hợp tác với quốc gia khác thì việc di chuyển lao động hay xuất khẩu laođộng ngày càng gia tăng Tuy nhiên, tình trạng Lực lượng lao động xuất khẩu lao động,phá vỡ hợp đồng lao động xảy ra rất nhiều Ngoài ra việc vi phạm kỷ luật rất hay xảy ra.Lực lượng lao động Việt Nam thường xuyên gặp phải những vấn đề về vi phạm nội quy,quy định nơi làm việc : đi làm muộn, không làm hết thời gian quy định, luôn tranh thủ
Trang 14làm việc riêng trong giờ làm việc, Tình trạng này được xuất hiện nhiều nhất gắn vớicông chức, viên chức làm việc trong khu vực nhà nước.
2.2.2 Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp VN giai đoạn 2011-2016
Bảng 2.4 Bảng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (đvt:%)
Bảng 2.5 Chỉ số sản xuất nội bộ ngành công nghiệp (Đvt: %)
2011 2012 2013 2014 2015 2016Khai khoáng 99.9 105,0 99,4 102,4 107,1 94,1
Công nghiệp chế biến, chế
Sản xuất và phân phối điện 110.0 111,5 108,4 112,5 111,4 111,5
Cung cấp nước; hoạt động
quản lý và xử lý rác thải, 106.8 108,2 109,5 106,3 106,9 107,2
Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy ngành công nghiệp có xu hướng tốc độ tăng trưởngdương theo các năm Từ năm 2011 đến năm 2015 có tốc độ tăng trưởng tăng từ 5,8% lênđến 9.8% Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2015 tăng 9,8% so với năm 2014, trong đóngành khai khoáng tăng 7,1%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%; ngành sản xuất vàphân phối điện tăng 11,4%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 6,9% Tăng trưởng cao của ngành công nghiệp đã giúp nền kinh tế thoát đáy 2012 và vượt dốc
đi lên.Tuy nhiên năm 2016 mức tăng thấp hơn so với năm 2015, trong khu vực công
Trang 15nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chỉ tăng 7,06% so với năm trước, sản xuất côngnghiệp mặc dù có mức tăng trưởng khá nhưng vẫn thấp hơn nhiều mức tăng 9,8% củanăm 2015 và 7,6% của năm 2014 do ngành khai khoáng giảm sút mạnh (giảm 5,9%).Trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao 11,2% Ngành khai khoáng nămnay giảm tới 4,00%, đã làm giảm 0,33 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung, đây làmức giảm sâu nhất từ năm 2011 trở lại đây Nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thế giớigiảm khiến lượng dầu thô khai thác giảm hơn 1,67 triệu tấn so với năm trước; sản lượngkhai thác than cũng chỉ đạt 39,6 triệu tấn, giảm 1,26 triệu tấn Xu hướng ngành côngnghiệp chuyển dịch sang lĩnh vực chế biến, chế tạo, giảm sự phụ thuộc vào ngành khaikhoáng là điều cần thiết vì Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững hơn.Nhìn vào bảng, ta có thể thấy ngành công nghiêp chế biến chế tạo có xu hướng tăngtheo các năm, tuy nhiên mức tăng vẫn đang chậm Nhìn chung về tốc độ tăng ngành này
đã phục hồi dần sau năm 2012, từ 5,5% đến 10,5% năm 2015(cao hơn mức tăng trưởngchung toàn ngành CN là 9,8%) cho thấy tín hiệu tích cực trong sản xuất công nghiệp, đây
sẽ là yếu tố đóng góp vào tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành Riêng ngành khaikhoáng có tốc độ tăng năm 2015 là 6,5% tăng gần 3 lần so với năm 2014( là 2,4%)
Đánh giá cụ thể ở một số ngành như sau: Đối với ngành điện: Ngành điện tiếp tục
tăng trưởng khá so với cùng kỳ, ngành đã nỗ lực đảm bảo hệ thống điện quốc gia vậnhành an toàn, ổn định, đáp ứng đầy đủ nhu cầu điện cho các hoạt động văn hoá xã hội, sảnxuất kinh doanh và sinh hoạt của nhân dân trong mùa mưa bão. Ngành tiếp tục tập trungđẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện, đảm bảo đưa vào vận hành theo đúngtiến độ đề ra Sản lượng điện sản xuất tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, điện sảnxuất tháng 11 ước đạt 14,7 tỷ kWh, tăng 13,1% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng ướcđạt 161,3 tỷ kWh tăng 11,85% so với cùng kỳ ” đối với ngành thép“: Tính chung 11tháng đầu năm 2016, lượng sắt thép thô đạt 4.657,8 nghìn tấn, tăng 20,2% so với cùng kỳ;thép cán đạt 4.798,4 nghìn tấn, tăng 25,9% so với cùng kỳ; thép thanh, thép góc đạt4.255,9 nghìn tấn, tăng 9,4% so với cùng kỳ
Trang 16Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta chủ yêu theo 3 cách chính là cơ cấu ngành côngnghiệp chia theo nhóm ngành, cơ cấu ngành công nghiệp chia theo thành phần kinh tế và
cơ cấu công nghiệp chia theo vùng lãnh thổ Trong quá trình công nghiệp hoá , hiện đạihoá hiện này, ngành công nghiệp nước ta đã và đang có những chuyển biến lớn và tíchcực trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Hiện nay nước ta bao gồm các nhóm ngành công nghiệp sau : Nhóm ngành thủ công mỹnghệ truyền thống, nhóm ngành khai thác (khai thác khoáng sản, than, đá và dầu khí, );nhóm ngành chế biến - lắp ráp (chế biến thực phẩm và chế tạo gỗ; sản xuất và phân phốiđiện) và nhóm ngành chế tạo sản phẩm kỹ thuật cao
Cơ cấu ngành công nghiệp có sự chuyển dịch đúng định hướng, tuy nhiên vẫn còn chậm
so với yêu cầu phát triển Hàm lượng giá trị gia tăng trong công nghiệp còn thấp, tỷ lệ giacông cao Sản xuất công nghiệp nhìn chung vẫn phụ thuộc rất lớn vào các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 60% tổng giá trị toàn ngành
Ngành công nghiệp chế biến tăng trưởng nhanh, tuy nhiên phần lớn vẫn là các ngành có giá trị gia tăng thấp
Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp có sự dịch chuyển cùng với sự xuất hiện ngành côngnghiệp chế biến, chế tạo, trong một số phân ngành phát triển với tốc độ cao Tốc độ tăngtrưởng ngành chế biến chế tạo năm 2011- 2014 đạt 7,22% trong khi mức tăng trưởngchung toàn ngành là CN – 6,24% và đóng góp đến 69,55% trong GDP của ngành côngnghiệp năm 2014 Năm 2015, tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp chế biến tăng lêntới 76,53% trong khi đó, tỷ trọng đóng góp của ngành khai khoáng giảm Tuy nhiên đónggóp chủ yếu của các ngành công nghiệp vào tăng trưởng GDP là công nghiệp chế tạo, chếbiến có giá trị gia tăng thấp và trung bình, năng lực canh tranh công nghệ rất thấp điểnhình như ngành dệt may là ngành có chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn trong nhóm ngành côngnghiệp chế biến chế tạo tuy nhiên lợi nhuận thu lại không được cao Bên cạnh đó, trong
cơ cấu công nghiệp còn thiếu vắng hay kém phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ mớiphần lớn là các ngành công nghiệp theo hướng gia công
Cơ cấu công nghiệp theo trình độ công nghiệp vẫn phản ánh một trình độ phát triển thấp.
Trang 17Giai đoạn 2005-2012 ở Việt Nam ngành công nghiệp dựa vào tài nguyên vẫn chiếm tỷ lệcao trên 40%, ngành công nghiệp sử dụng công nghệ thấp chiếm tỷ trọng từ 40-42%,ngành công nghệ trung bình và cao chỉ chiểm tỷ trọng khoảng 15% so với mức 50-60%của các nước Thái Lan, Trung Quốc và Malaysia Trong những năm gần đây xu hướngnâng cao trình độ công nghệ đã có nhiều thay đổi.
Cơ cấu công nghệ trong sản xuất công nghiệp đã có nhiều thay đổi theo hướng tiếp cậncông nghệ tiên tiến, hiện đại đã hình thành một cơ cấu công nghệ đa dạng về trình độ vàxuất xứ, đan xen trong từng doanh nghiệp và từng chuyên ngành sản xuất công nghiệp.Quy mô và tốc độ chuyển giao phát triển khá mạnh, nhiều công nghệ mới cũng đượcchuyển giao từ nhiều nước công nghiệp phát triển và được áp dụng trong các lĩnh vực sảnxuất công nghiệp thông qua quá trình hội nhập và thu hút vốn đầu tư FDI của nước ta giaiđoạn vừa qua Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả chuyển giao công nghệ còn hạn chế dothiếu lựa chọn công nghệ thối ưu, trình độ công nghệ không phù hợp và đặc biệt là giá trịchuyển giao phần mềm về bí quyết công nghệ còn rất thấp
Phân tầng trình độ công nghệ khá rõ ràng trong từng ngành và trong các loại hình doanhnghiệp Tốc độ đổi mới công nghệ còn thấp, không đồng đều và không theo một địnhhướng phát triển rõ rệt
Ví dụ điển hình như ngành cơ nước ta: Cơ khí có vai trò rất quan trọng là cơ sở, động lựccho các ngành công nghiệp khác phát triển Ngành cơ khí có nhiệm vụ cung cấp toàn bộnhững trang thiết bị cho các ngành công nghiệp chế biến nông sản, giao thông vận tải vàcác trang thiết bị cho bảo vệ an ninh quốc phòng
Tuy nhiên thực trạng hiện nay sản phẩm của ngành cơ khí có sức cạnh tranh thấp, đầu tưcủa các DN trong nước chắp vá, dàn trải, công nghệ sản xuất khép kín, lạc hậu, thiết bịchậm được đổi mới, hiệu quả chưa cao, thậm chí chưa đủ sức chiếm được thị phần ngaytrong nước
Trong giai đoạn 2011-2015, ngành cơ khí nước ta gặp rất nhiều khó khăn Tiêu biểu làsức mua rất thấp, và bị cạnh tranh từ sản phẩm của Trung Quốc
Đã có sự dịch chuyển trong cơ cấu nhóm 10 ngành công nghiệp chủ lực, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các ngành có giá trị gia tăng không cao
Trang 18Bảng 2.6 10 ngành công nghiệp có tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 -2011 (giá hiện hành)
mỏ 5.33% phi kim khácSản xuất sản phẩm từ khoáng 7,81%
Sản phẩm kim loại 5.18% Sản phẩm kim loại 5,90%
Thiết bị giao thông 5.04% Sản phẩm cao su và nhựa 4,92%
Sản phẩm hoá học 4.79% Sản xuất da và các sản phẩm
Kim loại cơ bản 4.33% Sản xuất trang phục 4,33%
Sản xuất trang phục 4.26% Sản phẩm hóa học 4,04%
Cao su và nhựa 4.09% Máy tính, sản phẩm điện từ 3,93%
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013)
Nếu như năm 2007, tỷ trọng 10 ngành lớn nhất chiểm 66,39% thì sang năm 2011, top 10ngành lớn nhất chiếm tới 63,12% tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Ngoài một
số ngành duy trì được tỷ trọng cao như da và các sản phẩm liên quan (4.59%), Sản phẩnkim loại (5.9%) So với năm 2007 thì bắt đầu năm 2011 đã xuất hiện ngành công nghiệpmới trong top 10 là máy tính và điện tử (3,93%) Tuy nhiên, đây đều là những ngành thâmdụng lao động hoặc gia công lắp ráp nên có giá trị gia tăng thấp Năng lực cạnh tranh củacác sản phẩm này chủ yếu dựa trên giá nhân công rẻ hoặc các ưu đãi về thuế, tiền sử dụngđất
So với các nền kinh tế trong khu vực, Việt Nam đang dần mất lợi thế phát triển công nghiệp thượng nguồn ( cuối của chuỗi giá trị )
Trang 19Hiện nay nước ta đang gặp phải vấn đề đó là chủ yếu hấp dẫn đối với phát triển côngnghiệp hạ nguồn, ở các công đoạn gia công lắp ráp do thiếu công nghiệp hỗ trợ Mối quan
hệ giữa công nghiệp hạ nguồn, trung nguồn và thượng nguồn còn quá rời rạc và khôngđược cải thiện theo cả ngược chiều, xuôi chiều và nâng cấp chuỗi giá trị Ngành côngnghiệp phụ trợ Việt Nam đã có những tiến bộ nhất định, đạt được một số kết quả tronglĩnh vực sản xuất xe máy, điện gia dụng, trong đó ngành điện gia dụng đạt tỷ lệ nội địahóa khá cao đến 70-80% và cũng đã có nhiều tập đoàn lớn của Nhật, Đài Loan đầu tư gópvốn liên doanh xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện, phụ tùng tại Việt Nam Tuynhiên, công nghiệp phụ trợ Việt Nam vẫn còn chậm phát triển do quy mô công nghiệpphụ trợ trong nước còn đơn giản, nhỏ, lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết giản đơn,giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực đối với các yêu cầu của các hãng sảnxuất toàn cầu Hiện nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của VN như điện tử, dệtmay, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy… hầu như chưa có công nghiệp phụ trợ đi kèm Cácnguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất chủ yếu vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.Điển hinh như ngành may mặc và da giầy ở nước ta Phần lớn lượng chỉ và vải chúng tađểu phải nhập khẩu từ Trung Quốc, hay đống giày chỉ dừng lại ở công đoạn gia công.Điều này khiến sản xuất nhiều khi còn manh mún, bị động, chi phí sản xuất cao, phụthuộc nhiều vào thị trường ngoài nước trong điều kiện như hiện nay, việc quá tập trungvào phát triển các ngành công nghiệp hạ nguồn khiến cho nền công nghiệp nước ta sẽ bịảnh hưởng lớn khi bị cắt đứt đầu vào nguyên liệu
Như vậy có thể nhận thấy , trong giai đoạn 2011-2016 chuyển dịch cơ cấu sản xuất côngnghiệp ngày càng rõ nét theo hướng các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong khi tỷtrọng công nghiệp ngành khai khoáng tiếp tục giảm Tuy nhiên, các ngành công nghiệpnước ta còn có giá trị gia tăng thấp tình trạng thiếu ở thượng nguồn thừa ở hạ nguồn đang
là một vấn đề mà ngành công nghiệp cần giải quyết
2.3 Đóng góp của ngành công nghiệp tới phát triển nền kinh tế.
Phát triển công nghiệp tới đô thị hóa và phát triển đô thị Việt Nam
Việt Nam đang trong tiến trình phát triển thành một nước công nghiệp hiện đại Các
Trang 20phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấuGDP cả nước, khẳng định vai trò của hệ thống đô thị động lực chủ đạo của Việt Nam Tỷ
lệ % GRDP của 05 thành phố trực thuộc Trung ương/tổng DRDP cả nước, chiếm trên50% GDP của cả nước (trong khi dân số đô thị chiếm trên 1/3 dân số cả nước) Tổng thungân sách khu vực đô thị chiếm trên 70% tổng thu ngân sách toàn quốc
Đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn đang tạo hiệu ứng thúc đẩy đô thị hóa nhanh lan toảdiện rộng trên phạm vi các tỉnh, các vùng và cả nước Nhiều đô thị mới, khu đô thị mớiđược hình thành phát triển; nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở: đường
xá, điện nước, cơ sở giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường…Các đô thị Việt Nam đang nỗ lựcphát triển, nâng tầm cao với kiến trúc hiện đại
Các đô thị lớn như ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng đã có nền tảng phát triểnkinh tế vững chắc, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại cũngtăng mạnh hơn Tại đây, các động lực phát triển mới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang cáclĩnh vực giáo dục, dịch vụ tài chính – ngân hàng, bất động sản, viễn thông và truyềnthông… Các nơi có điều kiện tự nhiên đặc biệt như Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Sa Pa,Phú Quốc… hay các đô thị có di sản văn hóa - lịch sử tầm cỡ quốc gia và quốc tế nhưHuế, Hội An, Hạ Long, Côn Đảo,…thì du lịch đã trở thành động lực phát triển chính Hạtầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật các đô thị loại II trở lên đã được tăng cường, đô thị loại IVtrở lên đã được nâng cấp, cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở (điện đường, trường trạm, môitrường nước, rác…) nhờ các khoản đầu tư trong và ngoài nước
Các khu kinh tế cấp quốc gia như: Khu kinh tế Vân Đồn (Quản Ninh), Đình Vũ – Cát Hải(Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nghệ An (Bắc TP Vinh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn
La (Quảng Bình), Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Chu Lai (Quảng Nam),Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Văn Phong (Khánh Hòa), Nam PhúYên (Phú Yên), đảo Phú Quốc (Kiên Giang), là các khu kinh tế tổng hợp đa ngành có quy
mô sản xuất lớn, có hạ tầng quan trọng là cảng biển có diện tích đất đai rất lớn là nền tảng
để hình thành và phát triển các đô thị mới
Các khu công nghiệp Trung ương và địa phương thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phíaNam có tỷ lệ lấp đầy tương đối cao, thu hút nhiều ngành công nghiệp và nhân công, mức
độ đô thị hóa ở đây cũng gia tăng rất nhanh Đây là các tiền đề quan trọng để hình thành
và phát triển các vùng đô thị lớn, vùng kinh tế trọng điểm có khả năng cạnh tranh với cáctrung tâm kinh tế lớn trong khu vực Đông Nam Á Bên cạnh đó, các khu công nghiệpTrung ương và địa phương ở các tỉnh có đóng góp đáng kể vào tiến trình chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, hình thành các đô thị mớihay khu đô thị mới Các cụm, điểm công nghiệp ở các tỉnh có tác động rất tích cực tới quá
Trang 21trình công nghiệp hóa nông thôn các Vùng nơi có mạng lưới công nghiệp địa phương, tiểuthủ công nghiệp và làng nghề phát triển khá dày đặc.
Trong nhiều năm qua thương mại quốc tế thông qua các cảng biển đã thúc đẩy các đô thịven biển có tiềm năng cảng phát triển mạnh Trong những năm gần đây, khối lượngthương mại quốc tế trên đất liền thông qua các cửa khẩu đã được tăng cường đáng kể,thúc đẩy phát triển nhanh các đô thị cửa khẩu quốc gia, quốc tế đã có từ trước như LạngSơn, Lào Cai hay mới được hình thành như Cầu Treo (Hà Tĩnh), Bờ Y (Kon Tum), BuPhơ Răng (Đắc Nông), Mộc Bài (Tây Ninh), Xà Xía (Kiên Giang)… Một số đô thị cửakhẩu kinh tế thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở như Lào Cai trên các hành lang CônMinh (Trung Quốc) -Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lao Bảo trên hành lang kinh tế Đông
- Tây nối Mukdahan (Đông - Bắc Thái Lan) - Savanakhet (Trung - Nam Lào) - Quảng Trị
Huế Đà Nẵng; Bờ Y trên tuyến Đông Bắc Campuchia Pakse (Nam Lào) Kon Tum Quy Nhơn; hay Mộc Bài trên hành lang Đông - Nam Campuchia - Tây Ninh - TP.HCM -Vũng Tàu Các đô thị cửa khẩu là các điểm tựa đô thị hóa quan trọng đối với các khu vựcbiên giới miền núi vốn chậm phát triển ở nước ta và cũng là những mốc giới quan trọngđảm bảo an ninh biên giới tổ quốc
-Về du lịch, kể cả du lịch quốc tế và du lịch trong nước, đã nổi lên như một trong các độnglực chính phát triển đô thị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Các giá trị truyền thống vàbản sắc của một nền văn hóa lịch sử lâu đời, cảnh quan thiên nhiên đa dạng, bờ biển dài
và ấm quanh năm là các yếu tố chính hấp dẫn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Thêmvào đó, du lịch là một ngành công nghiệp có nhiều ưu điểm nổi trội, khá phù hợp với khảnăng phát triển của Việt Nam và các yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm phát triển bềnvững Trong các năm qua lượng khách du lịch quốc tế và nội địa ở Việt Nam tăng chậmhơn, giữ mức độ trung bình mức 15-20%/năm, phụ thuộc ít vào các biến động thất thườngcủa kinh tế, nhưng đang chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi các vấn đề an ninh quốc phòngtrên không và trên biển Có thể thấy, ngoài các điều kiện tự nhiên các khu vực có điềukiện cơ sở hạ tầng đô thị và cơ sở dịch vụ tốt hấp dẫn được khách du lịch
Đánh giá chung phát triển đô thị hóa Việt Nam trong giai đoạn vừa qua có nhiều chuyểnbiến số lượng Năm 1999 cả nước có 629 đô thị đến nay có 772 đô thị, trong đó có 2 đôthị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 14 đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 64 đô thị loại IV và 630 đôthị loại V Trong 6 tháng đầu năm, có TP Thanh Hóa nâng lên đô thị loại I, các TP RạchGiá, TP Bạc Liêu, TP Ninh Bình, TP Thái Bình nâng lên loại II, 3 đô thị loại V hìnhthành mới và 1 đô thị (thị trấn Cầu Diễn thuộc huyện Từ Liêm cũ sát nhập vào quận mới)
Về dân số thành thị (gồm dân số nội thành, nội thị và thị trấn) đạt khoảng 30,4 triệungười, tập trung tại 2 đô thị loại đặc biệt và 15 đô thị loại I khoảng 14,8 triệu người chiếm
Trang 2234%, tăng trung bình 1% năm Đô thị hóa tập trung cao nhất tại vùng Đông Nam Bộ(64,15%), thấp nhất tại vùng Trung Du miền núi phía Bắc (21,72%) Các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương có tỷ lệ dân số thành thị cao, cao nhất cả nước là TP HCM 83%,Bình Dương 71,6%, Quảng Ninh 68,86%,…
Liên kết ngành
Công nghiệp là ngành kinh tế có sự ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển lực lượng sảnxuất của các ngành, đồng thời có khả năng tạo ra những động lực và định hướng pháttriển các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân Đây là ngành duy nhất có sản phẩm làmchức năng tư liệu lao động trong các ngành khác, tạo ra và trang bị cơ sở vật chất kĩ thuậtcho tất cả các ngành, đồng thời là cơ sở tái mở rộng cho toàn bộ nền kinh tế
Công nghiệp thúc đẩy đa dạng hóa các loại hàng hóa sản phẩm phục vụ cho tiêu dùngtrong nước và xuất khẩu Sản xuất công nghiệp thúc đẩy thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạnghóa sản phẩm, sản xuất ra nhiều loại hàng hóa mới có chất lượng cao, nâng cao khả năngbảo quản lâu dài cho các sản phẩm nông nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngày càngcao và nâng cao giá trị các mặt hàng xuất khẩu
Điền hình như các ngành công nghiệp phụ trợ đã góp phần thúc đẩy ngành nông nghiệpphát triển Ngành phân bón Việt Nam đang có những bước tiến đáng kể với việc có thể tựmình sản xuất và cung cấp nhu cầu phân bón trong nước, đáp ứng được trên 80% nhu cầuphân bón vô cơ vào năm 2015 Chi phí sản xuất phân bón do tác động của thuế xuất khẩu,giá dầu khí giảm cũng giảm theo cùng với việc tăng nguồn cung do việc vận hành tốt cácnhà máy sản xuất phân bón làm cho giá phân bón cũng sẽ có xu hướng giảm Đó là mộttác động tích cực đối với ngành nông sản nói chung trong việc giảm thiểu chi phí sản xuất
và giảm giá thành sản phẩm Ngành giống cũng đã được áp dụng khoa học kĩ thuật caovào việc phát hiện và tìm ra nhiều loại giống cây, vật nuôi mới có nhiều ưu việt hơn, chonăng suất và chất lượng cao hơn…
Ngành công nghiệp thực phẩm Việt Nam vẫn đang rất hứa hẹn có nhiều triển vọng vàphát triển mạnh trong điều kiện rất khó khăn của nền kinh tế hiện nay
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì vấn đề cạnh tranh
về chất lượng và giá cả hàng hóa càng trở nên gay gắt Sản phẩm của các công ty nướcngoài hay các công ty liên doanh chiếm một ưu thế nhất định Hiện nay nước ta đã vàđang chú trong đến việc đào tạo những kỹ sư, những cử nhân, những người lao động cótrình độ chuyên môn, trình độ tay nghề vững vàng về các lĩnh vực như: Công nghệ sảnxuất rượu bia – nước giải khát, Công nghệ chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa, Côngnghệ chế biến thịt và các sản phẩm từ thịt, Bảo quản và chế biến thủy sản, Bảo quản vàchế biến rau quả, Bảo quản và chế biến lương thực, Sản xuất mía đường – Bánh kẹo, Chếbiến trà - cà phê, Đồ hộp thịt, cá, rau quả,
Trang 23Công nghiệp phát triển kéo theo sự gia tăng lượng hàng hóa trong nền kinh tế, từ đó màthương mại và dịch vụ phát triển kéo theo Công nhiệp phát triển đòi hỏi các chủ thểkinh doanh luôn phải năng động, sáng tạo, kể cả nghệ thuật để không ngừng nâng caokhả năng cạnh tranh hàng hóa dịch vụ trên thị trường, góp phần thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển nhanh chóng và điều này sẽ làm nền tảng vững chắc giúp các doanhnghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay Dịch vụ - thươngmại chính là cầu nối giữa các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất hànghóa, tiêu thụ sản phẩm Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, thương mại và dịch vụ
đã trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất là bởi vì nhu cầu về dịch vụ xuấtphát từ chính các nhà sản xuất khi họ nhận thấy rằng, để có thể tồn tại trong sự cạnhtranh khốc liệt ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài, phải đưa nhiều hơn cácyếu tố dịch vụ vào trong quá trình sản xuất để hạ giá thành và nâng cao chất lượng nhưdịch vụ khoa học, kỹ thuật công nghệ
Chiếm tỷ trọng gần 80% cơ cấu hàng xuất khẩu (XK) của Việt Nam, sản phẩm côngnghiệp đang giữ vị trí quan trọng trong rổ hàng hóa xuất khẩu của nước ta Để đạt mụctiêu nâng kim ngạch XK lên 300 tỷ USD vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng bình quânhàng năm từ 11-12%/năm, việc nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm công nghiệp XK cũngnhư thúc đẩy, mở rộng thị trường để phát triển bền vững là việc cần sớm được triển khai.Thông tin từ Bộ Công Thương cho thấy, 10 tháng đầu năm 2015, kim ngạch XK cả nướcước đạt 134,62 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, XK của nhómhàng công nghiệp chế biến vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần vào tăng trưởng kimngạch XK chung Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Công Thương, ông Nguyễn Tiến Vỵ chohay, kim ngạch XK của nhóm hàng công nghiệp tăng trưởng tới 17,6% so với cùng kỳnăm 2015, chiếm tỷ trọng 78,8% tổng kim ngạch XK Đây là nhóm hàng có tốc độ tăngtrưởng XK rất cao, đạt kim ngạch 106,1 tỷ USD sau 10 tháng Mặc dù có sự sụt giảm vềgiá ở một số thị trường nhưng những mặt hàng XK chủ lực của nhóm này vẫn giữ mứctăng trưởng khá Đơn cử như điện thoại các loại và linh kiện tăng 32,7%, nguyên phụ liệudệt may, da giày tăng 31,8%, vải các loại tăng 27,1%
Điều đáng nói là đến hết quý III/2015 đã có 24 mặt hàng đạt kim ngạch XK từ 1 tỷ USDtrở lên,trong đó chiếm đa số là hàng thuộc nhóm công nghiệp Điển hình là sản phẩm chấtdẻo, túi sách - va li - mũ - ô dù, gỗ và sản phẩm gỗ, sản phẩm gỗ, hàng dệt và may mặc,
xơ sợi các loại, giày dép các loại, nguyên phụ liệu dệt may - da giày, sắt thép các loại, sảnphẩm từ sắt thép, máy vi tính - sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại các loại và linhkiện, máy ảnh - máy quay phim và linh kiện, máy móc - thiết bị - phụ tùng phương tiệnvận tải Trong số này có điện thoại và các loại linh kiện ước đạt 23,2 tỷ USD, dệt may ướcđạt 17,1 tỷ USD, máy vi tính, linh kiện điện tử đạt 11,4 tỷ USD, tăng 52,7%; da giày cókim ngạch 8,8 tỷ USD
Trang 24Sản phẩm công nghiệp XK của Việt Nam đã có mặt ở hàng chục quốc gia trên thế giới và
có sự tăng trưởng đáng kể qua các năm Đến hết quý 3 năm nay, thị trường XK của một
số nước tại khu vực châu Á có sự tăng trưởng mạnh, tập trung vào các nước nhưIndonexia, Lào, Myanmar, Singapore, Hàn Quốc… với các mặt hàng có thế mạnh củaViệt Nam như sợi dệt các loại, hàng dệt may, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện,điện thoại các loại, sắt thép, giày dép… Ngoài ra, 9 tháng đầu năm nay cũng ghi nhận sựtăng trưởng mạnh của hàng công nghiệp XK Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ và Canada,tập trung ở các mặt hàng: dệt may, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác
Công nghiệp tạo ra mẫu hình ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất:
Để bắt nhịp với những dây chuyền sản xuất hiện đại và ứng dụng khoa học, công nghệvào sản xuất, công nghiệp có đội ngũ lao động có tính tổ chức, kỷ luật cao, có tác phonglao động công nghiệp do đó đội ngũ lao động trong công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiếntrong cộng đồng dân cư Cũng do đặc điểm về sản xuất, lao động trong công nghiệp ngàycàng có trình độ chuyên môn hóa cao tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn củangười lao động và chất lượng của sản phẩm Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, còn
có các điều kiện tăng nhanh trình độ công nghệ của sản xuất áp dụng những thành tựukhoa học càng cao của sản xuất
Tất cả những đặc điểm trên đây làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển và theo
đó quan hệ sản xuất ngày càng hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện về các mô hình tổ chức sảnxuất làm cho sản xuất công nghiệp trở thành hình mẫu về kỹ thuật sản xuất hiện đại,phương pháp quản lý tiên tiến, người lao động có ý thức tổ chức kỷ luật cao
2.4 Đánh giá chung
2.4.1.Đánh giá chung về những kết quả đạt được
Thứ nhất, sản xuất công nghiệp liên tục được mở rộng Tốc độ tăng trưởng hàng năm của
ngành luôn có xu hương gia tăng Tỷ trọng đóng góp và tăng trưởng kinh tế khá lớn
Thứ hai, cơ cấu các thành phần doanh nghiệp đã chuyển biến tích cực Khu vực công
nghiệp ngoài nhà nước và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng khá nhanh.Kết quả là cơ cấu lao động giảm dần trong khu vực nhà nước (giảm 2,6%) và tăng dầnkhu vực ngoài nhà nước (1,8%) và FDI (4,9%)
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu sản xuất công nghiệp ngày càng rõ nét theo hướng các ngành
công nghiệp chế biến, chế tạo, trong khi tỷ trọng công nghiệp ngành khai khoáng tiếp tục
Trang 25Thứ tư, số lượng doanh nghiệp trong ngành ngày càng gia tăng và tạo ra nhiều việc làm.
Năm 2016 cũng ghi nhận sự gia tăng của số lượng doanh nghiệp công nghiệp, với gần1.000 doanh nghiệp mới, tập trung chủ yếu trong các ngành chế biến, chế tạo, qua đó đãgóp phần tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng 2,9% so với năm 2015
2.4.2.Một số hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, sản xuất công nghiệp mặc dù có mức tăng trưởng khá nhưng vẫn thấp hơn
nhiều mức tăng 9,8% của năm 2015 và 7,6% của năm 2014 do ngành khai khoáng giảmsút mạnh (giảm 5,9%)
Nguyên nhân là do giá dầu thô giảm dẫn đến sản lượng dầu thô khai thác giảm mạnh sovới cùng kỳ Sản xuất than giảm do gặp nhiều khó khăn trong khai thác và tiêu thụ sảnBên cạnh đó, giá của nhiều loại khoáng sản khác cũng suy giảm khiến cho nhiều doanhnghiệp phải cắt giảm sản xuất Ngoài ra cầu tiêu dùng trong và ngoài nước tăng trưởngchậm
Thứ hai, Các ngành công nghiệp nước ta giá trị gia tăng còn thấp, chỉ số sản xuất sản
phẩm trung gian thấp hơn so với chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ sử dụng cuối cùng chothấy, sản phẩm trung gian trong sản xuất công nghiệp của nước ta còn phụ thuộc khánhiều vào nguồn nhập khẩu và tỷ lệ nội địa hóa thấp Qua đây cũng cho thấy rõ hơnngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp dệtmay, da giày, sản xuất ô tô, tivi và máy vi tính
Thứ ba, tăng trưởng sản xuất công nghiệp tiếp tục dựa vào bề rộng khi các chỉ số tăng
trưởng chủ yếu là do tăng số doanh nghiệp, tăng vốn đầu tư và lao động Trong khi năngsuất lao động, giá trị gia tăng vẫn còn thấp, do đó, năng lực cạnh tranh công nghiệp vẫncòn ở mức thấp so với thế giới
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp mặc dù đã đúng hướng nhưng chậm và
chưa bền vững Sản xuất công nghiệp vẫn chưa tham gia được nhiều vào mạng sản xuất
và chuỗi giá trị toàn cầu, đặc biệt là trong các ngành sản xuất cho xuất khẩu như dệt may,
da giày Việt Nam cơ bản mới chỉ có thể tham gia vào khâu gia công với giá trị gia tăng
Trang 26thấp, trong khi vẫn tiếp tục nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, do đó không ổn định đượcnguồn cung lẫn nguồn cầu
Chương 3 Giải pháp thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp trong giai đoạn tới
Các giải pháp thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp Việt nam giai đoạn tới
Việt Nam đã đưa ra mục tiêu đến năm 2020 sẽ trên căn bản trở thành một nước côngnghiệp hiện đại Nhưng dù nhìn từ tiêu chí nào thì cũng thấy mục tiêu đó còn rất xa Hiệnnay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao Do đó mộtnước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD VN hiện nay mới gần 2.000USD và đang rơi vào bẫy thu nhập Để có thể thúc đẩy ngành công nghiệp Việt nam giaiđoạn tới theo đúng mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá nhóm đưa ra các giải pháp:
Thứ nhất: Xây dựng chiến lược quy hoạch, và ban hành đồng bộ hệ thống luật pháp, chính sách thương mại hoàn chỉnh
Tham gia thị trường chung của thế giới , hội nhập và tuân theo các luật chơi chung dovậy, để nâng cao được ngành công nghiệp trong nước trước hết cần tiếp tục nghiên cứuhoàn thiện các văn bản pháp luật, các chính sách liên quan đến thương mại, tài chính,khoa học công nghệ và chính sách đào tạo nguồn nhân lực một cách đồng bộ và phùhợp với thông lệ quốc tế để các thành phần kinh tế có thể tham gia vào phát triển khu vựccông nghiệp Sớm hình thành một mạng lưới công nghiệp trong cả nước trên cơ sở đadạng hóa về quy mô và chế độ sở hữu Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụmđiểm công nghiệp trên phạm vi cả nước, hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm Ưutiên ngân sách và huy động các nguồn lực khác, theo kinh nghiệm của các quốc gia pháttriển, để đẩy nhanh việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng trong từng vùng và trên phạm
Trang 27vi cả nước - đây được coi là một trong những khâu đột phá trong phát triển và chuyểndịch cơ cấu kinh tế ở nước ta.
Thứ hai: Tiếp tục phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu để từng bước tạo ra những sản phẩm có thương hiệu quốc gia và có sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu
Trong bối cảnh nước ta đang mất dần lợi thế so sánh về giá công nhân cũng như điều kiệnsản xuất thì việc phát triển công nghiệp theo chiều rộng quá mức đang gây ra việc nước tamất sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu Cần phải tập trung phát triển các ngànhcông nghiệp theo chiều sâu từng bước thực hiện các giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng các ngành chế biến, chế tạo và giảm tỷtrọng gia công, lắp ráp đối với các sản phẩm công nghiệp được sản xuất ở Việt Nam
Thứ ba: Thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, tận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghiệp mới.
Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá, việc đón đầu và tận dụng các công nghệmới sẽ giúp nước ta không bị đi lùi so với các nước khác và trở thành bãi rác công nghiệp.Tận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mọt cách triệt để thôngqua việc mở cửa tiếp nhận các nghiên cứu phát minh mới một cách chọn lọc
Thứ tư: Tăng cường phát triển công nghiệp hỗ trợ, đẩy mạnh nội địa hoá các sản phẩm đáp ứng yêu cầu về phụ tùng, thiết bị tại chỗ cho doanh nghiệp
Bài học kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển cho thấy công nghiệp hỗ trợ giữvai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp Phát triển công nghiệp hỗ trợ thuộc cácngành trọng điểm của nền kinh tế không chỉ giúp các doanh nghiệp chủ động trong sảnxuất, giảm giá thành sản phẩm; mà còn giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vựcnày đẩy mạnh hợp tác, góp phần thực hiện mục tiêu tăng tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm
Vì vậy, cần xem xét giải quyết những khó khăn vướng mắc trong xây dựng và phát triểncác ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta hiện nay Đồng thời, để nâng cao khả năng cung
Trang 28đầu mối (có thể đặt tập trung tại các khu công nghiệp ) đóng vai trò trung tâm tổ chứcnhập khẩu và cung ứng nguyên, phụ liệu trong một số lĩnh vực như sản xuất hàng dệtmay, giầy dép, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuấtkhẩu trong nước Từng bước xây dựng và tiến tới chuyên nghiệp hóa các dịch vụ hỗ trợcho ngành công nghiệp như thiết kế tạo mẫu, họat động quản trị sản xuất, marketing đểcung ứng đầu vào và phát triển đầu ra.
Thứ năm: tạo sân chơi bình đẳng cho các đối tượng tham gia vào ngành công nghiệp, môi trường lành mạnh nhằm gia tăng tính cạnh tranh trong nội bộ ngành giúp gia tăng tăng trưởng của cả ngành.
Vốn đầu tư
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1.1 Lý thuyết về vốn đầu tư phát triển
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đầu tư phát triển.
1.1.1.1 Khái niệm đầu tư
Thuật ngữ “đầu tư” được hiểu với nghĩa chung nhất là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì
đó ở hiện tại (tiền, của cải vật chất, sức lao động, trí tuệ ) nhằm đạt được các kết quả
có lợi cho người đầu tư trong tương lai Đó có thể là các mục tiêu kinh tế, xã hội, vănhoá chính trị
Đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra tài sảnmới cho nền kinh tế Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện códữa các cá nhân, các tổ chức, không phải là đầu tư với nền kinh tế
Còn trong hoạt động kinh doanh, đầu tư là sự bỏ vốn (tiền, nhân lực, nguyên liệu, côngnghệ vào các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận Đâyđược xem như bản chất cơ bản của các hoạt động đầu tư Kinh doanh cần nghiên cứu
Trang 29đầy đủ các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tư như : bản chất, đặc điểm, phânloại, vai trò để có những đối sách thích hợp đối với các đối tác đầu tư khác nhau.
Mặt khác, có thể hiểu đầu tư là việc đưa ra một khối lượng lớn vốn nhất định vào qúatrình hoạt động kinh tế nhằm thu được một khối lượng lớn hơn sau một khoảng thờigian nhất định
Khái niệm đầu tư còn được hiểu theo quan niệm tái sản xuất mở rộng, đầu tư thực tế làquá trình chuyển hoá vốn thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra năng lực tái sảnxuất, tạo ra những yếu tố cơ bản, tiên quyết cho quá trình sản xuất Đây là hoạt độngmang tính chất thường xuyên của nền kinh tế
Với đầu tư phát triển thì đây là hình thức đầu tư quan trọng và chủ yếu Loại đầu tư này,người có tiền bỏ tiền ra để xây dựng , sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắmtrang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện chi phíthường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này Hoạt động đầu tư này nhằmnâng cao năng lực hiện có của các cơ sở sản xuất hiện có cả về số lượng và chất lượng,tạo ra năng lực sản xuất mới Đây là hình thức tái sản xuất mở rộng Hình thức đầu tưnày tạo việc làm mới, sản phẩm mới và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Tóm lại, hoạt động đầu tư vốn là quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụsản xuất kinh doanh nhằm tạo ra sản phẩm cung cấp dich vụ đáp ứng nhu cầu cá nhân
và xã hội
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển có những điểm khác biệt so với đầu tư tài chính và đầu tư thương mại
ở các điểm sau:
Thứ nhất : Tiền, vật tư, lao động cần cho công cuộc đầu tư là rất lớn.
Thứ hai: Thời gian cần thiết cho công cuộc đầu tư dài, do đó vốn ( tiền, vật tư, lao động )
đầu tư phải nằm khê đọng, không tham gia vào quá trình chu chuyển kinh tế và vì vậy,trong suốt thời gian này không sinh lời cho nền kinh tế
Trang 30Thứ ba: Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi đủ lượng vốn đã bỏ
ra hoặc thanh lý tài sản do vốn tạo ra cần và có thể thường là vài năm, có khi hàng chụcnăm và có nhiều trường hợp là hoạt động vĩnh viễn
Thứ tư: Nếu thành quả đầu tư là các công trình xây dựng thì nó sẽ được sử dụng ngay
tại nơi nó tạo ra
Thứ năm: Các kết quả là hiệu quả hoạt động đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
không ổn định trong tự nhiên, trong hoạt động kinh tế xã hội như các điều kiện địa lý,khí hậu, chính sách, nghiên cứu thị trường và quan hệ quốc tế Vì vậy, độ mạo hiểm củaloại hình này cao
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư phát triển đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao, trướckhi tiến hành đầu tư phải làm tốt công tác chuẩn bị Sự chuẩn bị này thể hiện trong việcsoạn thảo các dự án đầu tư và mọi công cuộc đầu tư phải tiến hành theo dự án
1.1.1.3 Vai trò của đầu tư phát triển:
Lý thuyết kế hoạch hoá tập trung và lý thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu tư pháttriển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng Nó thểhiện các mặt sau:
Trên giác độ nền kinh tế:
Đầu tư vừa có tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu: Đầu tư là yếu tốchiếm tỷ trong lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Đối với tổng cầu tác độngcủa đầu tư là ngắn hạn, tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm chotổng cầu tăng Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vàohoạt động thì tổng cung dài hạn tăng lên
Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định và phát triển kinh tế : Sự tác động khôngđồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tếlàm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là
Trang 31yếu duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mỗi quốcgia Chẳng hạn, khi đầu tư tăng, cần các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giá trị cáchàng hoá liên quan tăng đến mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát Đến lượtmình lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống người lao động khó khăn Mặtkhác, tăng đầu tư làm cho cầu các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngànhnày phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tệ nạn xã hội Còn khi giảm đầu tư thìtác động ngược lại với hai chiều hướng trên.
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứucủa các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình thì tỷ lệ đầu tưphải đạt được tù 15-25% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước
ICOR = Vốn đầu tư / Mức tăng
GDP Từ đó suy ra :
Mức tăng GDP = Vốn đầu tư / ICOR
Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tưnhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Vì các ngành nông,lâm, ngư nghiệp bị hạn chế về đất đai và khả năng sinh học Do đó chính sách đầu tưquyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độtăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
Trang 32Bên cạnh đó đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa cácvùng, lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, pháthuy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, kinh tế, chính trị
Đầu tư tác động tới việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ đất nước: Côngnghệ là trung tâm của công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước.Đầu tư là điều kiệntiên quyết của sự phát triển và tăng cường công nghệ của nước ta hiện nay.Nhưchúng ta đã biết có 2 con đường cơ bản để công nghệ là nghiên cứu phát minh racông nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù tự nghiên cứu hay nhập từ nướcngoài vào cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ:
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở Chẳng hạn, để tạodựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xâydựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị và thực hiện chi phíkhác với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất, kỹ thuật vừa tạo ra.Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanhdịch vụ đang tồn tại: sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các
cơ sở này hao mòn hư hỏng Để duy trì hoặc đổi mới cũng có nghĩa là đầu tư
Như vậy, đầu tư có vai trò rất lớn không chỉ với nền kinh tế mà còn đối với các cơ sởsản xuất kinh doanh và dịch vụ Tuy nhiên, khi đầu tư ta thường đặt câu hỏi: vốn đầu tưlấy từ đâu ra và sử dụng vốn như thế nào? Có rất nhiều cách và con đường để có vốn và
sử dụng vốn
1.2 Vốn và nguồn vốn đầu tư:
Trang 331.2.1 Nguồn vốn đầu tư:
Trong nền kinh tế mở nguồn vốn đầu tư được hình thành từ 2 nguồn đó là nguồn vốntrong nước và nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn trong nước: đó là nguồn vốn được hình thành và huy động trong nước nó
bao gồm 3 bộ phận: tiết kiệm của nhà nước (Sg), tiết kiệm của các tổ chức doanh nghiệp( Sc), tiết kiệm của khu vực dân cư ( Sh)
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Đó là phần còn lại của thu ngân sách sau khi đãtrừ đi các khoản chi thường xuyên củ nhà nước:
Sg= T - G
Trong đó: Sg là tiết kiệm của nhà
nước
T là ng thu ngân sách nhànước
G là các khoản chi thường xuyên của nhà nước
Nguồn vốn từ các tổ chức doanh nghiệp: Đó là nguồn vốn được tạo ra từ các tổ chứcdoanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Nó bao gồm lợi nhuận
để lại doanh nghiệp (lợi nhuận sau khi đã trừ đi các khoản thuế và các khoản phảinộp khác) và quỹ khấu hao của doanh nghiệp Sc = Dp + Pr
Trong đó: Sc: là tiết kiệm của các doanh nghiệp
Dp: là quỹ khấu hao của doanh nghiệp
Pr: là lợi nhuận để lại doanh nghiệp
Nguồn vốn từ khu vực dân cư: Đó là nguồn vốn được hình thành từ thu nhập sau thuếcủa dân cư sau khi đã trừ đi các khoản chi phí thường xuyên
Trang 34Sh = DI - C.
Trong đó: Sh: là tiết kiệm từ khu vực dân cư
DI: là thu nhập sau thuế của khu vực dân cư
C: là chi thường xuyên của khu vực dân cư
Nguồn vốn nước ngoài: Bao gồm 2 hình thức chính là vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư
gián tiếp
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đó là nguồn vốn đầu tư của các tổ chức, cánhân nước ngoài vào Việt Nam trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là mộtchủ thể Hình thức này hình thành các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiêp 100%vốn nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh
Vốn đầu tư gián tiếp (Ví dụ: ODA): Đó là nguồn viện trợ phát triển chính thức, lànguồn tài chính mang tính chất hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của các nước hiện naycác tổ chức tài chính quốc tế cho các nước thuộc thế giới thứ ba Trong đó các tổ chức,các quốc gia bỏ vốn không trực tiếp sử dụng vốn đầu tư Các hình thức của đầu tư giántiếp nước ngoài là viện trợ kinh tế không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất ưuđãi
1.2.2 Vốn và vai trò của vốn đối với sự phát triển kinh tế.
1.2.2.1 Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, làtiền tiết kiệm của dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quátrình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sảnxuất xãhội Vốn đầu tư tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹthuật mới hoặc được đổi mới, nâng cấp hiện đại hoá đồng thời tạo ra các tài sản lưu độnglần đầu tiên gắn liền với các tài sản cố định mới tạo ra hoặc được đổi mới
Trang 35Vai trò của vốn đầu tư với sự phát triển kinh tế:
Vốn là yếu tố quan trọng nhất trong qúa trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Ở
Việt nam, để đảm bảo cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và phát triển đạt 7-8% tronggia đoạn tới, vốn đầu tư là một trong các yếu tố hết sức quan trọng Theo tính toán củacác nhà kinh tế, nguồn vốn cho đầu tư phát triển gia đoạn 2001-2005 phải đạt ít nhất 58-
59 tỷ USD: trong đó nguồn vốn trong nước chiếm tỷ trọng 60%, cơ cấu nguồn vốn chođầu tư phát triển bao gồm vốn đầu tư từ ngân sách, vốn đầu tư tín dụng, vốn đầu tư củadoanh nghiệp, vốn đầu tư dân cư và vốn đầu tư nước ngoài Dự tính trong vòng 5 nămtới vốn của các doanh nghiệp tự đầu tư chiếm tỷ trọng 14-15% tổng số vốn đầu tư xã hội,chủ yếu đầu tư vào đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài
ra theo tính toán của các nhà kinh tế trong giai đoạn 2001-2005, đòi hỏi tỷ lệ tiết kiệmnội địa phải đạt đến 25-26% GDP, trong đó tiết kiệm từ khu vực ngân sách khoảng 6%,tiết kiệm từ khu vực dân cư và doanh nghiệp là 19-20% GDP.Nguồn vốn huy động từtiết kiệm trong nước để cho đầu tư đạt 75% tổng tiết kiệm Theo kinh nghiệm phát triểncủa thế giới, các nước có đạt mức tăng trưởng kinh tế cao đều có mức huy động vốn đầu
tư so với GDP khá lớn Nói cách khác là đều có tỷ lệ đầu tư phát triển trong GDP lớnhơn những nước có tốc độ phát triển bình thường và chậm biểu sau đây có thể minh hoạ
ý kiến trên
Quốc gia Thời kỳ Mức tăng GDP bình
quân năm %
Tỷ lệ đầu tư pháttriển /GDP%
Trang 36Theo lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Harrad và Domar thì sự phụ thuộc giữa mức tăngtrưởng kinh tế và tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP và hiệu quả và sử dụng vốn được hiểu theocông thức sau:
G x K= I/K trong đó:
G - Tốc độ tăng trưởng / năm
K - Hệ số ICOR (vốn tăng thêm, hiệu quả vốn đầu tư) I/K - Tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP.Như vậy, vốn đầu tư là một nhân tố quan trọng thiết yếu trong quá trình phát triển kinh
tế và nhiệm vụ đặt ra đối với các ngân hàng, các tổ chức tín dụng là làm thế nào để cóthể huy động và sử dụng có hiệu quả được các nguồn vốn, phục vụ cho đầu tư phát triểnkinh tế Đối với Ngân hàng đầu tư nhiệm vụ này càng quan trọng và khó khăn hơn vìhoạt động chính của Ngân hàng là huy động và cho vay các nguồn trung, dài hạn là chủyếu trong khi ngân hàng vẫn phải đảm bảo giữa hiệu quả hoạt động kinh doanh củamình và hoạt động đầu tư phát triển
1.2.2.2 Vai trò hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn cho phát triển kinh tế.
Vai trò của hoạt động huy động vốn:
Như trên đã phân tích vốn đầu tư có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế, không những nótạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, mà còn đưa đất nước phát triển theo hướng ổnđịnh, cân đối giữa các ngành nghề Do vậyđể phát triển kinh tế ta phải có vốn đầu tư,vậy vốn đầu tư lấy ở đâu và lấy bằng cách nào? Câu hỏi này đã được trả lời một phần ởtrên (bao gồm vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài) Muốn có nguồn vốnnày, ta phải huy động Mặt khác mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khi thành lập, khôngphải lúc nào cũng có đủ vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh Trong những tình huốngthiếu vốn thì họ phải huy động để đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên, để có thể huy độngđược số vốn mong muốn thì các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế phải có các chiến lượchuy động phù hợp với từng tình huống cụ thể, từng thời kỳ
Tóm lại hoạt động huy động vốn là rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung vàđầu tư phát triển nói riêng, nó đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hoá -Hiện đại hoá đấtnước, phát triển kinh tế hoà nhập với kinh tế thế giới
Trang 37Trong hoạt động huy động này thì hệ thống ngân hàng đóng góp một phần quan trọngđặc biệt là ngân hàng đầu tư và phát triển ngân hàng với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấpvốn cho vay đầu tư phát triển.
Vai trò của hoạt động sử dụng vốn:
Như đã trình bày ở trên vốn và hoạt động huy động vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội đất nước là rất quan trọng Nhưng một phần cũng không kém phần quan trọng đó
là hoạt động sử dụng vốn huy động này sao cho có hiệu quả để đảm đem lại lợi ích vàhiệu quả cao nhất Nếu chúng ta sử dụng vốn hiệu quả thì các nguồn lực dành cho đầu
tư xẽ phát huy được tối đa lợi ích cho chủ đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung vàngược lại nếu chúng ta sử dụng vốn đầu tư không hiệu quả thì các kết quả của nhữngđồng vốn mà chúng ta bỏ ra sẽ không phát huy được tối đa cho nền kinh tế Để làmđược vấn này đòi hỏi chúng ta phải làm tốt các chiến lược sử dụng vốn cho đầu tư như:quản lý đầu tư, kế hoạch hoá đầu tư, cũng như các công tác thẩm định dự án và quản lý
dự án đầu tư
Trang 38CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016
2.1 Quy mô của vốn đầu tư phát triển
Bảng 1: Quy mô vốn đầu tư thực hiện giai đoạn 2010-2015 theo giá so sánh năm 2010
Đơn vị: Tỷ đồng
Tổng số Kinh tế nhà
nước
Kinh tế ngoài nhà nước
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Ngoại trừ năm 2011 giảm so với năm 2010 nhìn chung tổng vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội đã liên tục tăng từ 830.278 tỷ đồng năm 2010 lên 1.044.976 tỷ đồng năm 2015(tăng 1,26 lần) Trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng mạnh nhất 1,35 lần, vốnđầu tư của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định, biến động tăng giảmkhông đều qua cácc năm Vốn đầu tư khu vực kinh tế nhà nước tăng đều qua các năm,năm 2015 gấp 1,26 lần so với năm 2010
Nguồn vốn ngoài nhà nước lớn hiện có các vấn đề cần quan tâm Lượng vốn tồn đọnglớn trong dân dưới dạng vàng, ngoại tệ cần được thu hút vào đầu tư trực tiếp cho sản xuất
Trang 39- kinh doanh, vừa có vốn đầu tư phát triển, vừa hạn chế tình trạng vàng hóa, đô la hóa,vừa hạn chế các cơn sốt giá trên 2 thị trường này Người dân vẫn chưa trực tiếp đầu tưcho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, mà đầu tư gián tiếp qua việc gửi tiết kiệm.
2.2 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển
Bảng 2: Tỷ trọng vốn đầu tư theo khu vực kinh tế giai đoạn 2010-2015
Khu vực nhà nước Khu vực ngoài nhà
Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước có xu hướng dao động quanh mức 38%
Tỷ trọng vốn Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài liên tục giảm vào các năm
2011 và 2012 Năm 2015 tỷ trọng vốn khu vực này có dấu hiệu tăng trở lại nhưng vẫn nhỏ
Trang 40hơn so với năm 2010 Tỷ trọng vốn ở khu vực theo ý kiến của các chuyên gia tốt nhất là ởkhoảng 25%
2.2.1 Cơ cấu theo ngành
Cơ cấu đầu tư giai đoạn 2005-2013 theo ngành kinh tế cho thấy sự chuyển dịch từ khốingành nông lâm ngư nghiệp và thủy sản sang các nhóm ngành công nghiệp-xây dựng vàdịch vụ Tỷ trọng đầu tư cho nông lâm ngư nghiệp và thủy sản giảm từ 7,49% năm 2005xuống 6,15% năm 2010 và 5,59% năm 2013 Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là ngànhđược ưu tiên tập trung đầu tư giai đoạn, tỷ trọng đầu tư cho nhóm ngành này đã tăng từ19,2% năm 2005 lên 19,5% năm 2010 và 22,96% năm 2013 Sự tăng lên này, một phần là
do sự gia tăng mạnh đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm gầnđây Xét về đóng góp vào GDP và số việc làm được tạo ra trong nền kinh tế, cơ cấu đầu
tư thời gian qua dường như còn thể hiện nhiều bất cập, phần nào thể hiện đóng góp chonền kinh tế và cho xã hội còn chưa tương xứng với mức đầu tư trong nhiều ngành/lĩnhvực Ngành nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp khoảng 18,5%-20% vào GDP, tạo ra46%-55% việc làm trong nền kinh tế nhưng đầu tư cho ngành này đa phần chỉ ở mức5,5%-6,5% tổng đầu tư Xét ở khía cạnh tạo việc làm và đóng góp vào GDP, có thể nóiđầu tư cho lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và thủy sản thời gian qua là tương đối hiệu quả.Đầu tư cho công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỉ trọng lớn (trên 20% trong những nămgần đây), tuy nhiên mức đóng góp vào GDP và tạo việc làm còn hạn chế Năm 2013, đầu
tư cho công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 22,96% tổng đầu tư xã hội, tuy nhiên ngànhnày chỉ đóng góp 17,49% vào GDP (tương đương ngành nông lâm ngư nghiệp và thủysản), và tạo được 14% việc làm trong nền kinh tế Ngành vận tải, kho bãi có vốn đầu tưgần 11% năm 2013 nhưng đóng góp vào GDP chỉ 2,99% và tạo ra 2,9% việc làm cho nềnkinh tế Một lĩnh vực nữa là kinh doanh bất động sản năm 2013 cũng chiếm tới 5,75%vốn đầu tư (không kém nhiều so với đầu tư cho nông lâm ngư nghiệp và thủy sản) nhưng
chỉ đóng góp 5,38% vào GDP và tạo ra chỉ 0,3% việc làm trong nền kinh tế
Bảng 3 Đầu tư và đóng góp của một số ngành cho nền kinh tế