1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình bệnh mạn tính thường gặp, khả năng và kết quả can thiệp nâng cao năng lực tự chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi tại thành phố tây ninh, tỉnh tây ninh năm

119 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tình hình bệnh mạn tính thường gặp, khả năng và kết quả can thiệp nâng cao năng lực tự chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi tại thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh năm 2019 - 2020
Tác giả Phan Thanh Tâm
Người hướng dẫn TS. Lê Minh Lý, PGS.TS. Nguyễn Trung Kiên
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản Lý Y Tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Khái quát về người cao tuổi (12)
    • 1.2. Bệnh tật và quá trình lão hóa ở người cao tuổi (14)
    • 1.3. Khả năng tự chăm sóc của người cao tuổi (29)
    • 1.4. Tình hình người cao tuổi trên Thế giới và Việt Nam (30)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (36)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (37)
    • 2.3. Đạo đức trong nghiên cứu (50)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 3.1. Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (0)
    • 3.2. Bệnh mạn tính và khả năng tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi thông qua kiến thức và thực hành (56)
    • 3.3. Kết quả can thiệp và đánh giá kết quả can thiệp (60)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (69)
    • 4.1. Một số đặc điểm cơ bản của dân số nghiên cứu (69)
    • 4.2. Bệnh mạn tính và khả năng tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 65 4.3. Kết quả can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp (74)
  • KẾT LUẬN (91)

Nội dung

Do đó mà các nhà khoa học đã và đang nỗ lực hết sức trong việc làm sáng tỏ các cơ chế phân tử của quá trình lão hóa, tìm kiếm các “dấu hiệu” có thể liên quan chắc chắn đến quá trình lão

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang và can thiệp

2.2.2 Cỡ mẫu Áp dụng công thức:

Trong đó: : xác suất sai lầm loại 1 ( = 0,05) Khoảng tin cậy 95

Z (1-/2) = 1,96 (tra từ bảng phân phối chuẩn) d: Sai số cho phép Chọn d = 0,05 p: tỷ lệ NCT được chăm sóc tại nhà chiếm 52% theo nghiên cứu của Phan Nhựt Thanh, dù tỉ lệ này chưa thật sự phù hợp để đưa vào tính cỡ mẫu cho nghiên cứu của tôi, nhưng tôi nghỉ tỉ lệ này đưa vào tính cỡ mẫu cũng đủ đại diện cho kích thước quần thể nghiên cứu, vì vậy chúng tôi chọn p=0,52 [14]

Thay vào công thức tính được n = 384 người cao tuổi Chúng tôi cũng dự trù hao phí 20% đối với những phiếu chưa hoàn thành, thiếu thông tin hoặc đối tượng từ chối/ vắng mặt để tham gia nghiên cứu Do đó, cỡ mẫu tối thiểu chúng tôi cần thu thập là 460 mẫu Thực tế số đối tượng thu vào là 501 mẫu

Thành phố Tây Ninh có 10 xã, phường có 12.618 người cao tuổi

(nguồn: Hội người cao tuổi tỉnh Tây Ninh), lập danh sách NCT theo từng hộ gia đình thông qua hội NCT và trạm y tế Mỗi xã, phường chọn 50 NCT bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên để thu thập số liệu

2.2.4.1 Đặc điểm người cao tuổi

 Giới tính: chia thành 2 nhóm

 Dân tộc: chia thành 2 nhóm là Kinh và khác

 Nghề nghiệp: được chia thành 6 nhóm

+ Nông dân: đối tượng tham gia sản xuất nông nghiệp và có thu nhập từ nông nghiệp chiếm chủ yếu

+ Công nhân: lao động cho các công ty, xí nghiệp và có thu nhập chính đến từ các hoạt động sản xuất công nghiệp

+ Nội trợ: người chịu trách nhiệm chính trong các hoạt động nội trợ trong gia đình

+ Kinh doanh: đối tượng tham gia hầu hết thời gian cho hoạt động kinh doanh và nguồn thu nhập chính đến từ hoạt động kinh doanh + Hưu: công chức, viên chức và người lao động quá tuổi lao động và được nhận lương hưu hằng tháng

+ Khác: ngoài các ngành nghề được liệt kê ở trên

 Trình độ học vấn: chia thành 7 nhóm là

 Tình trạng kinh tế gia đình: chia thành 2 nhóm nghèo và không nghèo, với các đối tượng định nghĩa là nghèo khi có sổ nghèo hoặc cận nghèo còn hiệu lực sử dụng

 Bảo hiểm y tế: chia thành 2 nhóm có và không có

 Người chịu trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi: gồm có 6 giá trị, chia thành các nhóm

+ Sống cùng vợ/chồng và con cháu,

+ Sống cùng vợ/chồng không có con cháu,

+ Sống cùng con cháu không có vợ/chồng,

+ Sống cùng người giúp việc,

 Quan hệ với người cao tuổi: gồm 2 giá trị:

 Số người cao tuổi đang chăm sóc: gồm 2 giá trị:

 Người chăm sóc đã tham gia lớp đào tạo về chăm sóc người cao tuổi: gồm 2 giá trị:

Thông tin về người chăm sóc được thu thập trực tiếp thông qua người cao tuổi tham gia vào nghiên cứu

2.2.4.2 Tỷ lệ một số bệnh mạn tính và khả năng chăm sóc sức khỏe tại nhà

* Tỷ lệ một số bệnh mạn tính ở người cao tuổi:

 Các bệnh mạn tính thường gặp: xác định dựa vào sổ khám sức khỏe, chẩn đoán vào viện hoặc các giấy tờ của cơ sở y tế có chẩn đoán xác định có kèm theo cận lâm sàng của người cao tuổi, chia thành các nhóm với 2 giá trị có và không, các bệnh khảo sát bao gồm:

+ Viêm phổi / viêm phế quản

 Số lượng bệnh phối hợp gồm các giá trị: 1 bệnh, 2 bệnh phối hợp, 3 bệnh phối hợp và 4 bệnh phối hợp Đánh giá kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu để tự chăm sóc các bệnh mạn tính

Trong số các bệnh mạn tính thường gặp, chọn 2 bệnh thường gặp nhất là tăng huyết áp và bệnh xương khớp để tiến hành đánh giá

 Tiến hành đánh giá về khả năng chăm sóc bản thân của người cao tuổi thông qua kiến thức và thực hành về các bệnh mạn tính mà họ đang mắc

 Can thiệp thông qua truyền thông giáo dục sức khỏe và đánh giá lại kết quả

* Đánh giá kiến thức, thực hành của người cao tuổi tự chăm sóc:

+ Huyết áp từ 140/90 mmHg trở lên;

+ Đo huyết áp nhiều lần thấy tăng;

+ Huyết áp trên bình thường;

Trả lời sai khi chọn Không

 Kiến thức về biến chứng bệnh THA:

+ Biến chứng trên tim, thận, não, mắt;

Trả lời sai khi chọn Không biết

 Kiến thức phát hiện THA:

Trả lời sai khi chọn Không biết

 Kiến thức về thói quen gây bệnh THA đúng bao gồm:

+ Ăn nhiều mỡ động vật;

Trả lời sai khi không chọn ít nhất 1 trong các đáp án trên

 Kiến thức về chế độ ăn có lợi cho bệnh THA

Trả lời sai khi chọn Ăn mỡ động vật hoặc Không biết

 NCT mắc THA nên uống rượu nhiều:

Trả lời sai khi chọn Có hoặc Không biết

 NCT mắc bệnh THA nên hút thuốc lá:

Trả lời sai khi chọn Có hoặc Không biết

 Có thể phòng được biến chứng của THA:

 NCT mắc THA nên uống thuốc thường xuyên: 1 Có, 2 Không

 Kiến thức về kiểm soát cân nặng theo bảng phân loại BMI

 NCT mắc THA cần tắm nước ấm: 1 Có, 2 Không

 Kiến thức về các yếu tố nguy cơ bệnh tăng huyết áp, bao gồm 4 giá trị là

Trả lời đúng khi chọn 1 trong các đáp án trên

 Thực hành sử dụng máy đo huyết áp đúng khi đo huyết áp tuân thủ quy trình đo huyết áp trong Quyết định số 3192/QĐ-BYT ngày 31/08/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế

 Thực hành về tần suất đo huyết áp cho người lớn tối thiểu mỗi tháng 01 lần, người tăng huyết áp nên đo hằng ngày nếu có máy đo huyết áp tại nhà

 Thực hành đúng về sử dụng dầu mỡ ở bệnh nhân THA là giảm sử dụng mỡ động vật trừ mỡ cá, tăng cường sử dụng dầu thực thực

 Thực hành đúng về tuân thủ điều trị là sử dụng thuốc liên tục, đúng giờ và không ngưng thuốc trong suốt liệu trình điều trị

 Thực hành đúng loại bỏ yếu tố nguy cơ THA là thuốc lá, thực hành đúng khi giảm hoặc bỏ thuốc

 Thực hành đúng về chế độ vận động đúng khi vận động nhẹ ít nhất 30 phút mỗi ngày

 Sử dụng sữa để bổ sung dinh dưỡng và vi chất trong các bữa phụ

Thông tin kiến thức và thực hành tự chăm sóc sức khỏe NCT trước và sau khi can thiệp đối với bệnh xương khớp:

 Khái niệm về bệnh xương khớp:

+ Hạn chế vận động teo cơ;

+ Đau toàn thân, nhức đầu, mệt mõi;

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về biến chứng của bệnh xương khớp gồm 3 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về mức độ nguy hiểm của bệnh xương khớp, gồm có 3 giá trị:

+ Có (vì có thể gây tàn phế)

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về điều trị bệnh xương khớp, gồm 3 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về thực phẩm tốt cho người mắc bệnh xương khớp, gồm 2 giá trị:

+ Ăn nhiều thực phẩm có hàm lượng canxi cao (tôm, cua, )

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về sự cần thiết của các bài tập vận động cho người cao tuổi mắc bệnh xương khớp, gồm 3 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về giữ ấm chi ở bệnh nhân mắc bệnh xương khớp, gồm 3 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Kiến thức về tắm nước ấm ở người mắc bệnh xương khớp, gồm 2 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không

 Thực hành điều trị khi xuất hiện các cơn đau nhức xương khớp, gồm 3 giá trị:

+ Đi khám bác sĩ chuyên khoa

+ Đau nhức thì uống thuốc

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không biết

 Thực hành vận động của bệnh nhân mắc bệnh xương khớp, gồm 2 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không

 Thực hành tập thể dục của người mắc bệnh xương khớp, gồm 2 giá trị: + Có

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không

 Thực hành sử dụng sữa ở người cao tuổi mắc bệnh xương khớp, gồm 2 giá trị:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không

 Thực hành tắm nước nóng ở người cao tuổi, gồm 2 giá tri:

Kiến thức sai khi đối tượng chọn Không

2.2.4.3 Đánh giá kết quả mô hình can thiệp nâng cao năng lực tự chăm sóc sức khỏe tại nhà

Nội dung và hình thức truyền thông giáo dục sức khỏe

 Đối tượng nghiên cứu sau khi được đánh giá kiến thức sẽ được cung cấp thư mời tham dự truyền thông giáo dục sức khỏe có xác nhận của trạm y tế nơi đối tượng cư trú

 Mục tiêu buổi truyền thông là cung cấp kiến thức và hướng dẫn thực hành cho đối tượng nghiên cứu, đảm bảo sau buổi truyền thông có trên

85 đối tượng tham gia có kiến thức và thực hành đúng về chế độ chăm sóc đối với người cao tuổi mắc các bệnh mạn tính

 Hình thức can thiệp là buổi truyền thông giáo sục sức khỏe, được thực hiện tập trung tại trạm y tế với số lượng 50 đối tượng/ buổi/ trạm

+ Báo cáo viên cung cấp kiến thức cơ bản về bệnh tăng huyết áp và bệnh xương khớp thông qua trình bày bằng phần mềm trình chiếu powerpoint, thảo luận và giải đáp thắc mắc

+ Báo cáo viên và cộng tác viên hướng dẫn về thực hành chế độ chăm sóc đối với bệnh tăng huyết áp và bệnh xương khớp cho đối tượng, kiểm tra cuổi buổi và thảo luận, đánh giá rút kinh nghiệm

+ Đánh giá sau can thiệp được thực hiện bằng bộ câu hỏi lúc đầu bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp từng đối tượng theo quy trình thu thập trước đó

+ Tổng hợp số liệu và đánh giá kết quả

 Hình thức can thiệp: truyền thông giáo dục sức khỏe thông qua hội thảo hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm, tờ rơi, các phương tiện truyền thông công cộng, sinh hoạt hội người cao tuổi, cộng tác viên

 Nội dung can thiệp: cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực hành về tự chăm sóc sức khỏe tại nhà theo các nhu cầu đã khảo sát

 Đối tượng can thiệp: tất cả người cao tuổi được chọn trong nghiên cứu

 Thời gian can thiệp: 3 tháng

 Đánh giá kết quả can thiệp: đánh giá kiến thức và thực hành tự chăm sóc sức khỏe tại nhà sau can thiệp so sánh với trước can thiệp

* Các tiêu chí đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành của NCT với các bệnh thường gặp sau quá trình can thiệp

Các nội dung chính bao gồm

2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi phỏng vấn tự điền được soạn sẵn

2.2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành theo các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học như sau:

Là phương pháp nghiên cứu không dùng các thủ thuật hay các biện pháp xâm lấn, các thông tin của người tham gia nghiên cứu được giữ kín

Nghiên cứu không ảnh hưởng sức khỏe, không làm tổn thương đến tâm lý, không tạo sự phiền toái hay lo lắng cho người tham gia, không ảnh hưởng đến vấn đề tôn giáo hay phân biệt chủng tộc.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bệnh mạn tính và khả năng tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi thông qua kiến thức và thực hành

3.2.1 Tình hình bệnh mạn tính ở người cao tuổi

Bảng 3.10 Tình hình bệnh mạn tính ở người cao tuổi

Bệnh mạn tính (n = 501) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Tăng huyết áp 302 60,3 Đái tháo đường 107 21,4

Viêm phổi/ viêm phế quản 18 3,6

Rối loạn tiền đình 86 17,2 Đục thủy tinh thể 33 6,6

Nhận xét: Trong các bệnh mạn tính được khảo sát, tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,3% đối tượng, kế đến là viêm khớp chiếm 43,9% Đái tháo đường và viêm dạ dày chiếm tỷ lệ gần bằng nhau và xấp xỉ 20% mỗi bệnh, các bệnh khác chiếm tỷ lệ thấp dưới 20,0%

Biểu đồ 3.1 Số lượng bệnh phối hợp ở người cao tuổi

Nhận xét: Hầu hết người cao tuổi mắc nhiều hơn 1 bệnh mạn tính, chiếm đến hơn 80,0%, trong đó người mắc 2 bệnh chiếm tỷ lệ 55,3 , mắc 3 bệnh cùng lúc chiếm 28,5 và chỉ có 2,4 người cao tuổi mắc 4 bệnh cùng lúc

3.2.2 Tăng huyết áp – kiến thức và thực hành của người cao tuổi

Bảng 3.11 Kiến thức của NCT về bệnh tăng huyết áp trước can thiệp Kiến thức về THA ở NCT

Chế độ ăn có lợi 442 (88,2) 59 (11,7)

Chỉ mắc 1 bệnh 2 bệnh phối hợp

3 bệnh phối hợp 4 bệnh phối hợp

Hầu hết bệnh nhân đều biết thế nào là Tăng huyết áp, chiếm đến 93,8 Đối tượng nghiên cứu hầu hết không biết về các biến chứng của Tăng huyết áp và cách xác định có tăng huyết áp hay không

Các đặc điểm khác, đối tượng có sự hiểu biết nhưng tỷ lệ chưa cao, dao động từ 70-80 trả lời đúng

Bảng 3.12 Kiến thức của NCT về yếu tố nguy cơ bệnh tăng huyết áp trước can thiệp

Kiến thức về THA ở NCT

Uống rượu bia 68 (13,6) 433 (86,4) Ăn dầu mỡ 85 (17,0) 416 (83,0)

Nhận xét: Các yếu tố nguy cơ chỉ có ăn mặn là yếu tố nguy cơ được biết tới nhiều nhất với 64,7 đối tượng trả lời đúng, các yếu tố còn lại bao gồm uống rượu bia, ăn dầu mỡ và hút thuốc được biết đến liên quan đến tăng huyết áp chiếm tỷ lệ lần lượt là 13,6 , 17,0 và 8,4

Bảng 3.13.Thực hành của NCT về bệnh THA trước can thiệp

Thực hành về THA ở NCT

Sử dụng máy đo huyết áp 274 (54,7) 227 (45,3) Tần xuất đo huyết áp 274 (54,7) 227 (45,3)

Sử dụng dầu mỡ 448 (89,4) 53 (10,6) Điều trị 344 (68,7) 157 (31,3)

Tác hại của rượu bia 455 (90,8) 46 (9,2)

Nhận xét: Trong số các đối tượng nghiên cứu, thực hành đo huyết áp chỉ được thực hiện thường xuyên ở 54,7 bệnh nhân Hầu hết đối tượng có biết sử dụng chất béo không no, điều trị khi có triệu chứng bệnh, hạn chế thuốc lá và vận động chiếm 60 đến 80 Đặc biệt có đến 90,8 đối tượng biết về tác hại của rượu bia Chỉ có 47,9 đối tượng dùng thêm sữa để bồi dưỡng

3.2.3 Bệnh xương khớp – kiến thức và thực hành của người cao tuổi Bảng 3.14 Kiến thức của NCT về bệnh xương khớp trước can thiệp

Kiến thức về bệnh xương khớp (n = 501) Đúng (n, %)

Mức độ nguy hiểm 397 (79,2) 104 (20,8) Điều trị 456 (91,0) 45 (9,0)

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu hầu hết đều có kiến thức về hậu quả của các bệnh về xương khớp chiếm 94,6 và tầm quan trọng của việc điều trị chiếm 91,0%

Hiểu biết về mức độ nguy hiểm, chế độ ăn uống, vận động, giữa ấm và tắm nước ấm chiếm tỷ lệ trong khoảng từ 70 đến hơn 80

Bảng 3.15 Thực hành của NCT về bệnh xương khớp trước can thiệp Thực hành bệnh xương khớp (n = 501) Đúng (n, %) Sai (n, %)

Nhận xét: Trong thực hành chăm sóc bệnh xương khớp, tỷ lệ thực hành đúng chiếm tỷ lệ thấp dưới 80 , trong đó thực hành đúng nhiều nhất là về chế độ vận động Xử trí bệnh và tắm nước ấm có hơn 67 đối tượng thực hành đúng, tập thể dục có 63,1 bệnh nhân thực hành đúng, còn sử dụng sữa các đối tượng này chỉ chiếm chưa tới 50

Kết quả can thiệp và đánh giá kết quả can thiệp

3.3.1.1 Bệnh tăng huyết áp - kiến thức và thực hành của người cao tuổi

Bảng 3.16 Kiến thức của NCT về bệnh tăng huyết áp sau can thiệp

Kiến thức về THA ở NCT(n = 501) Đúng (n, %) Sai (n, %) Định nghĩa 495 (98,8) 6 (1,2)

Chế độ ăn có lợi 490 (97,8) 11 (2,2)

Sau can thiệp, hầu hết đối tượng đều biết về định nghĩa, biến chứng và cách chẩn đoán tăng huyết áp và đều chiếm trên 80 Các yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ hầu hết đều trên 80

Các đặc điểm về chế độ ăn uống, chế độ ăn có lợi, sử dụng rượu bia, sự phòng biến chứng, sử dụng thuốc có tỷ lệ cao trên 90 Kiểm soát cân nặng và tắm nước nóng chiếm tỷ lệ thấp hơn những vẫn trên 80%

Bảng 3.17 Kiến thức của NCT về yếu tố nguy cơ bệnh tăng huyết áp sau can thiệp

Kiến thức về THA ở NCT

Uống rượu bia 425 (84,8) 76 (15,2) Ăn dầu mỡ 392 (78,2) 109 (21,8)

Sau can thiệp, tất cả các kiến thức về yếu tố nguy cơ đều được hiểu biết với tỷ lệ trên 70 , trong đó uống rượu bia và ăn mặn chiếm tỷ lệ cao nhất và chiếm lần lượt là 84,8 và 84,2

Bảng 3.18 Thực hành của NCT về bệnh THA sau can thiệp

Thực hành về THA ở NCT

Sử dụng máy đo huyết áp 362 (72,3) 139 (27,7) Tần xuất đo huyết áp 370 (73,9) 131 (26,1)

Sử dụng dầu mỡ 488 (96,6) 17 (3,4) Điều trị 418 (83,4) 83 (16,6)

Tác hại của rượu bia 465 (92,8) 36 (7,2)

Nhận xét: Sau can thiệp, trên 70 đối tượng sử dụng đúng máy huyết áp Sử dụng dầu mỡ, thuốc lá và rượu bia được kiểm soát với hơn 90 đối tượng thực hành đúng Điều trị và chế độ vận động được thực hành đúng ở trên 80 bệnh nhân Sử dụng sữa ở bệnh nhân tăng huyết áp chiếm 74,3

3.3.1.2 Bệnh xương khớp – kiến thức và thực hành của người cao tuổi

Bảng 3.19 Kiến thức của NCT về bệnh xương khớp sau can thiệp

Kiến thức về bệnh xương khớp (n = 501) Đúng (n, %)

Mức độ nguy hiểm 443 (88,4) 58 (11,6) Điều trị 464 (92,6) 37 (7,4)

Nhận xét: Sau can thiệp, chỉ có 0,2 đối tượng chưa biết rõ các biến chứng của bệnh xương khớp, các đặc điểm về kiến thức khác như chế độ điều trị, ăn uống, vận động và giữ ấm có tỷ lệ kiến thức đúng trên 90 Có 89,4 đối tượng biết về nên tắm bằng nước ấm và 88,6 bệnh nhân nhận thức đúng về độ nguy hiểm

Bảng 3.20 Thực hành của NCT về bệnh xương khớp sau can thiệp

Thực hành về bệnh xương khớp (n = 501) Đúng (n, %)

 Sau can thiệp, có đến 91,4 đối tượng thực hành đúng về chế độ vận động

 Các đặc điểm về xử trí, tập thể dục và tắm nước nóng được thực hành đúng trên 80 đối tượng

 Sử dụng sữa ở đối tượng nghiên cứu thực hành đúng chiếm 74,8

3.3.2 Đánh giá kết quả điều trị

3.3.2.1 Bệnh tăng huyết áp - kiến thức và thực hành của người cao tuổi

Bảng 3.21 Kiến thức của NCT về tăng huyết áp trước và sau can thiệp Kiến thức THA (n = 501) Trước CT (n, %) Sau CT (n, %) p Định nghĩa Đúng 470 (93,8) 495 (98,8)

Chế độ ăn uống Đúng 471 (94,0) 480 (95,8)

Chế độ ăn có lợi Đúng 442 (88,2) 490 (97,8)

Sử dụng rượu bia Đúng 402 (80,2) 471 (94,0)

Dự phòng biến chứng Đúng 399 (79,6) 472 (94,2)

Kiểm soát cân nặng Đúng 395 (78,8) 440 (87,8)

Nhận xét: Sau quá trình can thiệp ở đối tượng nghiên cứu, tất cả các đặc điểm đều có sự thay đổi theo hướng tích cực Hiểu biết đúng về bệnh tăng từ 93,8 lên 99,6 Hiểu biết về biến chứng và chẩn đoán đều tăng lên hơn 80 Sau can thiệp Các yếu tố nguy cơ tăng đáng kể đều trên 70 Ngoài ra tất cả các đặc điểm khác đều có sự khác biệt sau khi can thiệp và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Riêng chế độ ăn uống, không có sự khác biệt về hiểu biết từ trước và sau can thiệp

Bảng 3.22 Kiến thức của NCT về yếu tố nguy cơ của bệnh tăng huyết áp trước và sau can thiệp

Kiến thức về THA (n = 501) Trước CT

Sai 433 (86,4) 76 (15,2) Ăn dầu mỡ Đúng 85 (17,0) 392 (78,2)

Sau quá trình can thiệp, kiến thức về các yếu tố nguy cơ tăng đáng kể, kiến thức về tác hại uống rượu bia đối tăng huyết áp tăng từ 13,6 lên 84,8 Kiến thức đúng về ăn dầu mỡ tăng từ 17,0 lên 78,2 Các yếu tố như hút thuốc và ăn mặn chiếm tỷ lệ lần lượt là từ 8,4 và 64,7 lên 72,9 và 84,2%

Bảng 3.23 Thực hành của NCT về bệnh THA trước và sau can thiệp

Thực hành về THA (n = 501) Trước CT

Sử dụng máy đo huyết áp Đúng 274 (54,7) 362 (72,3)

Sai 227 (45,3) 139 (27,7) Tần xuất đo huyết áp Đúng 274 (54,7) 370 (73,9)

Sử dụng dầu mỡ Đúng 448 (89,4) 484 (96,6)

Tác hại của rượu bia Đúng 455 (90,8) 465 (92,98)

Chế độ vận động Đúng 319 (63,7) 447 (89,2)

Nhận xét: Thực hành của đối tượng nghiên cứu về tăng huyết áp trước và sau can thiệp có sự cải thiện đáng kể Biết và sử dụng máy đo huyết áp tăng lên gần 20 sau can thiệp Sử dụng dầu mỡ, điều trị, chế độ vận động và sử dụng sữa cải thiện sau can thiệp và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Riêng thực hành về kiểm soát tác hại của thuốc lá và rượu bia tăng không đáng kể và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm trước và sau can thiệp

3.3.2.1 Bệnh xương khớp – kiến thức và thực hành của người cao tuổi

Bảng 3.24 Kiến thức của NCT về bệnh xương khớp trước và sau can thiệp

Kiến thức về bệnh xương khớp (n = 501)

Mức độ nguy hiểm Đúng 397 (79,2) 443 (88,4)

Chế độ ăn uống Đúng 435 (86,8) 469 (93,6)

Chế độ vận động Đúng 386 (77,0) 457 (91,2)

Nhận xét: Kiến thức đúng của đối tượng nghiên cứu có sự cải thiện đáng kể sau can thiệp, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, dù vậy kiến thức về điều trị trước và sau can thiệp có sự khác biệt không đáng kể và sự khác biệt về kiến thức điều trị không có ý nghĩa thống kê

Bảng 3.25 Thực hành của NCT về bệnh xương khớp trước và sau can thiệp

Thực hành về bệnh xương khớp (n = 501)

Chế độ vận động Đúng 367 (73,3) 458 (91,4)

Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu sau khi can thiệp có sự cải thiện về thực hành chăm sóc người cao tuổi mắc bệnh xương khớp Ngoài sử dụng sữa chiếm tỷ lệ thấp nhất đạt 74,9 , còn lại các đặc điểm khác đều tăng trên 80 tổng số đối tượng, sự gia tăng này có sự khác biệt trước và sau can thiệp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

BÀN LUẬN

Một số đặc điểm cơ bản của dân số nghiên cứu

Tuổi trung vị cuả bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 77 tuổi, dao động từ 60 đến 96 tuổi Theo nhóm tuổi cho thấy nhóm trên 80 tuổi có tỷ lệ cao nhất chiếm 47,8 kế đến là nhóm 60 – 69 tuổi chiếm 37,4 Nhóm tuổi từ 70 – 79 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất với 14,8 Tuổi trong nghiên cứu này có sự khác biệt lớn so với nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đồng thực hiện tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long cho thấy tỷ lệ chủ yếu thuộc nhóm bệnh nhân từ

60 – 69 tuổi chiếm đến hơn 54 , kế đến là nhóm 70 – 79 tuổi chiếm 26,5 và các nhóm tuổi còn lại chiếm trên 18 Sự khác biệt này có thể là do đặc điểm về địa dư của đối tượng nghiên cứu, ở Mang Thít có tỷ lệ dân cư nông thôn, tỷ lệ sinh cao và dân số tương đối trẻ hóa hơn so thành phố Tây Ninh, thành phố trực thuộc tỉnh có dân số tương đối già hóa hơn so với các vùng khác [6] Nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đồng cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Minh Thắng khi tỷ lệ các nhóm tuổi giảm dần từ 60 tuổi đến trên

80 tuổi, cụ thể nhóm tuổi từ 60 – 69 chiếm tỷ lệ đến hơn 50 và nhóm 70 –

79 chiếm hơn 35 còn lại nhóm trên 80 tuổi chỉ chiếm 13,4 [13] Nghiên cứu của Trần Thanh Tú về tỷ lệ Tăng huyết áp người cao tuổi tại Trâu Qùy, Gia Lâm, Hà Nội năm 2011 cũng cho kết quả tương tự như 2 nghiên cứu trên

[15] Đối tượng nghiên cứu chủ yếu thuộc giới nữ, chiếm 61,5 , nam giới chiếm tỷ lệ thấp hơn với 38,5 Điều này tương đối phù hợp với thành phần cơ cấu dân số nước ta theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 khi người cao tuổi là nữ chiếm tỷ trọng tương đối cao hơn so với nam giới [2], kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đồng khi tỷ lệ nam giới trong nghiên cứu này chiếm 43,4 trong khi tỷ lệ nữ giới chiếm 56,6 trong nghiên cứu tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long [6] Nghiên cứu của Phan Nhựt Thanh năm 2014 tại huyện Phong Điền cũng cho kết quả tương tự khi tỷ lệ nam giới là 41,4 và nữ giới là 58,6 Không chỉ các nghiên cứu trong nước, nghiên cứu của Pugie Tawanda Chimberengwa và cộng sự tại Zimbawe cũng cho tỷ lệ tương tự khi nữ chiếm 65,4 và nam giới chiếm 34,6 [26] Tỷ lệ này cho thấy sự đồng nhất về quần thể nghiên cứu khu vực Thành phố Cần Thơ và các vùng lân cận và các đặc điểm dịch tễ học khi nữ giới có tuổi thọ trung bình cao hơn so với năm giới ở nhóm người cao tuổi

Trong số 501 bệnh nhân được đánh giá về dân tộc, đại đa số là dân tộc kinh chiếm 95,8 , còn lại 4,2 là các dân tộc khác Thành phần dân cư trong nghiên cứu này cho thấy dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ rất tương đồng so với thành phần dân tộc chung của vùng Miền Đông Nam Bộ theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 với tỷ lệ dân tộc Kinh chỉ chiếm 94,2 và dân tộc khác chiếm 5,8 [2] Ngoài dân tộc Kinh, người Hoa và Khmer là những dân tộc chiếm tỷ lệ cao trong số các dân tộc thiểu số của Đồng Bằng Sông Cửu Long cúng được đưa vào nghiên cứu nhưng tỷ lệ riêng rẽ từng nhóm không đáng kể

Trong số 501 bệnh nhân thu thập, được khảo sát về nghề nghiệp Nội trợ chiếm tỷ lệ cao nhất với 28,5 , nông dân, công nhân và cán bộ hưu trí chiếm lần lượt là 18,6 , 15,4 và 14,2 Người kinh doanh chiếm 8,6 trong tổng số đối tượng và còn lại 14,8 bệnh nhân tham gia vào các ngành nghề khác Thành phần cơ cấu nghề nghiệp có sự tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Nhựt Thanh khi nông dân là ngành nghề có tỷ lệ cao nhất chiếm đến 36,7 , cao hơn so với trong nghiên cứu của chúng tôi, nội trợ chiếm 25,0 , công nhân viên chức chiếm 15,3 và hưu trí chiếm 2,8 [14] Tỷ lệ người dân làm nông nghiệp chiếm tỷ trọng chưa cao do dân cư sinh sống thuộc khu vực thành thị, có tỷ trọng cơ cấu nông nghiệp hạn chế, phần khác do đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi, đó ít khả năng để tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất nặng như nông nghiệp mà chủ yếu tham gia các hoạt động nhẹ như nội trợ, buôn bán nhỏ hoặc không tham gia bất kì hoạt động lao động sản xuất nào

Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu chủ yếu đã học xong tiểu học, chiếm 53,9 Trình độ trung học cơ sở, trung học phổ thông lần lượt chiệm 17,8 và 13,0 Trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ không đáng kể Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu mù chữ chiếm 9,6 trong tổng số đối tượng thu thập Các tỷ lệ về trình độ học vấn này phù hợp với các nghiên cứu khác khi đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi, sống hầu hết trong giai đoạn của chế độ trước và không thuộc vùng thành phố lớn do đó học vấn chưa được quan tâm và tỷ lệ học lên cao sau trung học là rất thấp, kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Minh Thắng, Phan Nhựt Thanh và Nguyễn Tấn Đồng

[6], [14], [13] Điều này rất phù hợp với thực tế, NCT có trình độ học vấn càng cao, kiến thức và thực hành về bệnh tật tốt hơn so với người cao tuổi có trình độ học vấn thấp hơn Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi cũng nêu lên vấn đề về mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức và nhu cầu chăm sóc, kiến thức cao thì phát hiện tầm soát bệnh tật, dự phòng biến cố tốt hơn so với các trường hợp không được tiếp cận với các nguồn kiến thức sức khỏe để có thể tự chăm sóc sức khỏe cho mình [6]

Có 31,9 bệnh nhân có sổ hộ nghèo, còn lại 60,1 không thuộc diện hộ nghèo, có 8,0 bệnh nhân không xác định mình có thuộc hộ nghèo hay không Theo Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tỉnh Tây Ninh, năm 2019 toàn tỉnh còn 7.609 hộ nghèo, hộ cận nghèo, chiếm 2,54 tổng số hộ trong tỉnh; trong đó có 2.976 hộ nghèo và 4.633 hộ cận nghèo [5] Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều chung cả nước năm 2018 là 6,8 , giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017 Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều ở nông thôn là 9,6 , cao hơn nhiều ở khu vực thành thị là 1,5 Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều có sự khác biệt giữa các vùng Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều cao nhất (18,4 ), tiếp đến là các vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (13,9 và 8,7 ) Vùng có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều thấp nhất là Đông Nam

Trong số các đối tượng nghiên cứu, người cao tuổi được chăm sóc chủ yếu bởi cả vợ/chồng và con/cháu chiếm tỷ lệ cao nhất với 88,6 Có 7,4 đối tượng chỉ được vợ/chồng chăm sóc, 1,4 được con/cháu chăm sóc, 0,4 được người giúp việc chăm sóc và 2,2 đối tượng sống một mình Kết quả này có sự tương đồng với nghiên cứu của Phan Nhựt Thanh khi đôi tượng nghiên cứu chủ yếu được chăm sóc bởi con ruột/dâu/rễ chiếm đến 85,0%, được vợ hoặc chồng chăm sóc chiếm tỷ lệ 7,8% còn lại đối tượng nghiên cứu sống với cháu chiếm 7,3% cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi [14] Cũng theo nghiên kết quả trên, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là nữ, do đó nam giới thường có tỷ lệ tử vong cao hơn dẫn đến tỷ lệ người cao tuổi mà thường là nữ sẽ sống chung chủ yếu với con ruột/dâu/rễ của họ, một số khác sống với cháu hoặc thậm chí sống một mình

Trong số 501 đối tượng được thu thập thông tin, chỉ có 6,8 đối tương không tham gia bảo hiểm y tế, còn lại đại đa số đối tượng đều có bảo hiểm y tế, chiếm đến 93,2 Để bảo đảm tốt nhất việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, việc mở rộng, sớm hoàn thành tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đến 100 đối tượng này có ý nghĩa quan trọng Hiện người cao tuổi đang tham gia bảo hiểm y tế theo các đối tượng: Người cao tuổi là người trên 60 tuổi, vẫn đang làm việc tại các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp: người lao động và người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm y tế cho người cao tuổi; Người cao tuổi thuộc hộ gia đình cận nghèo, hộ gia đình nông lâm ngư diêm nghiệp có mức sống trung bình tham gia bảo hiểm y tế theo nhóm đối tượng hộ gia đình; Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên được ngân sách nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế Tại một số địa phương đã cấp ngân sách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi từ 75 đến dưới 80 tuổi Thời gian tới, để tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi cần có giải pháp huy động sự hỗ trợ từ các nguồn khác hoặc có lộ trình giảm dần độ tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người cao tuổi… người cao tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi đa phần thuộc diện được hưởng bảo hiểm y tế người cao tuổi, một số tự mua và số còn lại không có điều kiện mua bảo hiểm Để thuận tiện khi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và được chăm sóc sức khỏe tốt hơn đối với người cao tuổi, hiện đối tượng này được đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám, chữa bệnh tuyến xã, tuyến huyện thuận tiện với nơi cư trú và khả năng đáp ứng của cơ sở khám, chữa bệnh

Người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chăm sóc cho người cao tuổi thường là vợ/chồng của người đó, chiếm tỷ lệ 69,7 , còn lại 30,3 người cao tuổi được chăm sóc bởi con/dâu/rể Người chăm sóc chủ yếu chỉ phải chăm lo cho 1 người cao tuổi chiếm 18,0 , 6,2 phải chăm lo cho 2 người cao tuổi

Trong số 501 người chăm sóc NCT, chỉ có 3,8 người chăm sóc NCT được đào tạo trước đó Còn lại hầu hết không được tập huấn về các kỹ năng chăm sóc người cao tuổi, chiếm 96,2%

Về tình trạng bệnh tật của NCT, hai bệnh thường gặp trong nghiên cứu của chúng tôi là tăng huyết áp và xương khớp Điều này phù hợp với việc chuyển từ mô hình các bệnh lây nhiễm sang mô hình các bệnh không lây nhiễm diễn ra nhanh nhất ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây, trong đó có Việt Nam Kết quả của tác giả Phan Nhựt Thanh trong nghiên cứu NCT thuộc huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ là tăng huyết áp chiếm 41,5 , bệnh xương khớp 21,7 [14] Cùng với sự cải thiện kinh tế, tỷ lệ mắc các bệnh có mức sống cao như tim mạch, huyết áp cũng tăng lên đáng kể, áp lực công việc thời hội nhập cùng thói quen của địa phương như ăn mặn, hút thuốc lá và sự phối hợp các yếu tố nguy cơ như tăng cân, béo phì đã làm gia tăng tỷ lệ các bệnh về huyết áp Số bệnh nhân tăng huyết áp ngày càng gia tăng ở người cao tuổi Bệnh xương khớp đứng thứ hai trong số các bệnh mãn tính gặp ở người cao tuổi Bệnh xương khớp cao phù hợp với đặc điểm sinh lí người già đặc biệt là những người tuổi từ 80 trở lên dễ bị loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp So với kết quả của Phạm Thị Tâm, Lê Minh Hữu và cộng sự cho thấy cao nhất là tăng huyết áp 36,2 và xương khớp 14,9 thì nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn phù hợp [12].

Bệnh mạn tính và khả năng tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi 65 4.3 Kết quả can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp

4.2.1 Tình hình bệnh mạn tính ở người cao tuổi

Trong số 501 người cao tuổi được đưa vào nghiên cứu, tăng huyết áp là bệnh có tỷ lệ xuất hiện cao nhất với tỷ lệ chiếm đến 60,3 , kế đến là viêm khớp với 220/501 người mắc, chiếm tỷ lệ 43,9 Đái tháo đường được ghi nhận với tỷ lệ chỉ bằng một phần ba so với tăng huyết áp, chiếm tỷ lệ 21,4 , tỷ lệ này xấp xỉ với bệnh viêm dạ dày chiếm 20,6 tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu Các bệnh còn lại được ghi nhận với tỷ lệ thấp, bao gồm viêm gan siêu vi B, suy nhược cơ thể do tuổi già, rối loạn tiền đình chiếm tỷ lệ lần lượt là 10,4 , 16,0 và 17,2 Các bệnh chiếm tỷ lệ dưới 10,0 bao gồm viêm phổi hoặc viêm phế quản, suy tim, suy thận, và đục thủy tinh thể Ngoài ra còn một số bệnh khác với tỷ lệ không đáng kể cũng được ghi nhận như: dị ứng, thoái hóa cột sống thắt lưng/cột sống cổ, hở van 2 lá, loãng xương, sỏi đường mật, viêm túi mật, viêm đường hô hấp, và viêm xoang So với nghiên cứu của Nguyễn Minh Thắng thực hiện tại Huyện Phong Điền năm 2013, tỷ lệ bệnh mạn tính của nghiên cứu chúng tôi cao hơn đáng kể Cụ thể tỷ lệ tăng huyết áp của Nguyễn Minh Thắng, trong tổng số đối tượng nghiên cứu, tăng huyết áp chiếm 41,5%, bệnh xương khớp chiếm 21,7%, viêm dạ dày chiếm 10,4% và lão suy chiếm 6,9%, trong khi trong nghiên cứu của chúng tôi, các tỷ lệ này chiếm lần lượt là 60,3%, 43,9%, 20,6% và 16,0% [13] Tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đồng thực hiện tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long với tỷ lệ tăng huyết áp chiếm 39,8%, bệnh xương khớp chiếm 29,7% [6] Có thể thấy tỷ lệ mắc bệnh trong hai nghiên cứu trên khá tương đồng nhau, điều này có thể là do các đặc điểm về dân cư và dịch tễ tương đối giống nhau giữa Vĩnh Long và Cần Thơ khi hai tỉnh này nằm cạnh nhau Mặc khác độ tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu thuộc nhóm từ trên 80 tuổi, do đó tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao là điều có thể giải thích được

Về tỷ trọng các bệnh mạn tính trong nhóm đối tượng nghiên cứu, tăng huyết áp là bệnh có tỷ trọng cao nhất chiếm hơn 25 trong tổng số các bệnh được nghiên cứu, viêm khớp chiếm một phân năm trong số đó, các bệnh còn lại chiếm dưới 10 mỗi loại

Hầu hết người cao tuổi tại Thành phố Tây Ninh đều mắc ít nhất một bệnh mạn tính, dù vậy tỷ lệ người chỉ mắc 1 bệnh mạn tính chỉ chiếm tỷ lệ 13,8 Chiếm cao nhất là người cao tuổi mắc đồng thời 2 bệnh mạn tính, tỷ lệ này chiếm đến hơn 55 Còn lại mắc đồng thời 3 bệnh chiếm 28,5 và mắc đến 4 bệnh chiếm 2,4 Tỷ lệ này có sự khác biệt với kết quả của Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2007 với hầu hết người cao tuổi từ

60 tuổi trở lên chỉ mắc 1 bệnh chiếm trên 75,5 , trong khi nghiên cứu của chúng tôi là 13,8 Ngược lại, người cao tuổi mắc 2 bệnh, 3 bệnh và 4 bệnh trong điều tra này lần lượt là 14,14 , 1,08 và 0,03 trong khi nghiên cứu của chúng tôi là 55,0 , 28,5 và 2,4 Nguyên nhân của sự khác biệt này tương tự như sự chênh lệch tỷ lệ của các bệnh mạn tính được ghi nhận, đó là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là người trên 80 tuổi, do đó tình hình mắc bệnh mạn tính trầm trọng hơn và phức tạp hơn so với Tổng điều tra quốc gia về người cao tuổi với số liệu dàn trải và mang tính đại diện cao hơn bằng tỷ lệ trung bình trong cả nước

4.2.2 Tăng huyết áp – kiến thức và thực hành của người cao tuổi

Hầu hết bệnh nhân điều biết thế nào là Tăng huyết áp, chiếm đến 93,8 Đối tượng nghiên cứu hầu hết không biết về các biến chứng của tăng huyết áp và cách xác định có tăng huyết áp hay không Các đặc điểm khác đối tượng có sự hiểu biết nhưng tỷ lệ chưa cao, dao động từ 70-80 trả lời đúng Theo nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đồng, trước can thiệp cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức đúng đã chiếm tỷ lệ cao, hầu hết trên 90 , sau can thiệp, các đánh giá cho thấy tỷ lệ này chiếm gần như tuyệt đối với tỷ lệ trả lời đúng hầu hết ở 100 đối tượng nghiên cứu [6] Tỷ lệ này tương đối cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh với tỷ lệ 63,6 [8] Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), chẩn đoán tăng huyết áp khi trị số trung bình qua ít nhất hai lần đo của huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc trị số trung bình của huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, trong ít nhất hai lần thăm khám liên tiếp Hiện nay, việc sử dụng máy đo huyết áp tại nhà rất phổ biển và tiện lợi cho người bệnh để theo dõi bệnh tình Trong khi chờ đợi để khẳng định tăng huyết áp, cần tiến hành các thăm dò để phát hiện tổn thương cơ quan đích (như phì đại thất trái, thận mạn tính và bệnh đáy mắt do tăng huyết áp) và đánh giá nguy cơ tim mạch Người có huyết áp bình thường, cần đo lại huyết áp sau mỗi 2 năm và người tiền tăng huyết áp nên thực hiện việc thay đổi lối sống và kiểm tra lại sau 1 năm Trong nghiên cứu của chúng tôi, kiến thức được điều tra những hiểu biết cơ bản về bệnh tăng huyết áp, định nghĩa tăng huyết áp hầu hết mọi đối tượng đều biết và tỷ lệ này chiếm đến 93,8 , chỉ có 6,2 đối tượng trả lời sai Các đặc điểm về biến chứng và chẩn đoán chưa được người dân quan tâm, chỉ có 24,6 đối tượng trả lời đúng về các biến chứng của tăng huyết áp, tương tự vậy, chưa đến một nữa số đối tượng hiểu biết về các biện pháp để chẩn đoán tăng huyết áp, chiếm 49,5 tổng số đối tượng nghiên cứu Các đặc điểm về chế độ ăn uống hầu như tất cả đối tượng đều có kiến thức, có hơn

80 đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về chế độ ăn có lợi cho người tăng huyết áp mà cụ thể là hạn chế ăn mặn như muối và các loại gia vị hay nước chấm khác, sử dụng rượu bia cũng được cho là nên hạn chế ở người cao tuổi bị tăng huyết áp Theo đó tỷ lệ người dân có kiến thức về chế độ ăn dành cho người tăng huyết áp đúng đến 4,0 Có đến 87 đối tượng có kiến thức đúng về nguyên tắc dùng thuốc ở những bệnh nhân tăng huyết áp Kiến thức đúng về các yếu tố liên quan khác chiếm tỷ lệ thấp hơn, dù vậy vẫn trên 70,0 Cụ thể kiến thức đúng về dự phòng tăng huyết áp chiếm 79,6 đối tượng được hỏi, kiểm soát cân nặng và tắm nước ấm ở người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp được trả lời đúng lần lượt là 78,8 và 70,5 đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố nguy cơ chỉ có ăn mặn là yếu tố nguy cơ được biết tới nhiều nhất với 64,7 đối tượng trả lời đúng, các yếu tố còn lại bao gồm uống rượu bia, ăn dầu mỡ và hút thuốc được biết đến liên quan đến tăng huyết áp chiếm tỷ lệ lần lượt là 13,6 , 17,0 và 8,4 Tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu Nguyễn Cao Sạ với kiến thức về rượu bia chiếm 53,2 , thuốc lá có đến 46,8 đối tượng có kiến thức đúng [11] Người dân chưa thấy được mối liên quan giữa tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ngoài ăn mặn, ăn dầu mỡ được quan tâm chủ yếu bởi những người mắc bệnh liên quan đến lipid và cholesterol trong khi thuốc lá chủ yếu được quan tâm bởi những bệnh nhân mắc bệnh về phổi Việc truyền thông giáo dục sức khỏe liên quan đến vấn đề này không chỉ cần thiết giúp người dân giảm các nguy cơ về tăng huyết áp mà cả các bệnh liên quan

Thực hành về chăm sóc người cao tuổi mắc tăng huyết áp được khảo sát chủ yếu về việc có chăm sóc hoặc thực hiện đúng các khuyến cáo về chế đô ăn uống, chăm sóc và tuân thủ điều trị ở người cao tuổi mắc tăng huyết áp Khi theo dõi về thực hành của các đối tượng nghiên cứu, chỉ hơn phân nữa các đối tượng biết cách đo huyết áp chính xác và thực hiện đo huyết áp thường xuyên cho người cao tuổi đang chăm sóc, các tỷ lệ này chiếm bằng nhau và bằng 54,7 Khoa học làm cơ sở cho việc phòng ngừa và điều trị bệnh cao huyết áp ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để đảm bảo rằng kiến thức này được chuyển cho cộng đồng để thực hiện tốt việc đo huyết áp Một nhu cầu cơ bản là cải thiện chất lượng của các phép đo HA được sử dụng để chẩn đoán và quản lý tăng huyết áp Việc ước tính HA rất dễ bị sai số ngẫu nhiên và hệ thống, nhưng các phương pháp tiếp cận đơn giản theo hướng dẫn được khuyến nghị [49] sẽ giảm thiểu những sai số này Thật không may, chất lượng đánh giá HA trong thực hành lâm sàng rất kém [38] Cải thiện chất lượng của các biện pháp này tại cộng đồng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ hoặc nhân viên y tế được chỉ định là cần thiết để dịch các khuyến nghị thực hành lâm sàng để phát hiện và quản lý tăng huyết áp Một biện pháp bổ sung hoặc thay thế quan trọng là huấn luyện bệnh nhân cách đo HA chính xác Các sáng kiến như Target BP [17] là những bước quan trọng để đạt được mục tiêu này

Người cao tuổi mắc tăng huyết áp thực hành đúng về sử dụng dầu mỡ trong bữa ăn tương đối tốt, chiếm đến 89,4 , bỏ thuốc lá chiếm 87,4 và hạn chế rượu bia chiếm 90,8 Việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân trong dùng thuốc chưa thật sự tốt với chỉ 68,7 bệnh nhân uống thuốc đều đặn, chế độ vận động cũng chưa được quan tâm đúng mức khi chỉ có 63,7 đối tượng có tham gia tập thể dục Việc bồi dưỡng cho người bệnh bằng sữa chưa được quan tâm, chỉ 47,9 đối tượng được thường xuyên cho dùng sữa để nâng cao thể trạng Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Cao Sạ với các đối tượng thực hành đúng bằng cách bỏ thuốc lá và rượu bia chiếm lần lượt là 23,4% và 21,7% [11]

Theo Nguyễn Tấn Đồng, Dinh dưỡng ở người cao tuổi cần chú ý không giống như người trẻ Tình trạng dinh dưỡng của người già phụ thuộc vào trạng thái thể lực, tâm lý và xã hội Ngoài ra người cao tuổi thường gặp vấn đề về răng miệng, sức nhai kém nên khó nghiền nát thức ăn, đồng thời các men tiêu hóa giảm nên người cao tuổi thường hay bị rối loạn tiêu hóa Do vậy nếu không có chế độ ăn uống tốt, hợp lý sẽ xảy ra nhiều bệnh Người cao tuổi là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt về dinh dưỡng vì cơ thể người cao tuổi thường đã bị lão hóa Chức năng của các cơ quan, bộ phận đều bị suy giảm và thường hay mắc các bệnh mạn tính Vì vậy, chế độ ăn và cách ăn uống sao cho phù hợp với người cao tuổi là hết sức quan trọng [6]

Trong nghiên cứu của Bacha năm 2019 về kiến thức, thái độ và thực hành ở dân số nghiên cứu không chỉ người cao tuổi cho thấy nhiều phát hiện mới ở bệnh nhân tăng huyết áp Nam giới có kiến thức về tăng huyết áp cao hơn 2,5 lần so với nữ giới Tuổi tác cũng là một biến khác ảnh hưởng đến kiến thức của người tham gia về tăng huyết áp Nhóm tuổi từ 36–45 có kiến thức cao hơn 3,6 lần so với nhóm 76–85 tuổi (6,3–19,8 ở 95% CI, SE là 0,29) Trình độ học vấn liên quan trực tiếp đến kiến thức về tăng huyết áp của những người tham gia; người tham gia có trình độ tiểu học có kiến thức cao gấp 4,3 lần; những người tốt nghiệp trung học phổ thông có kiến thức cao hơn khoảng

12 lần và những người học cao đẳng / đại học có kiến thức cao hơn khoảng 16 lần so với những người không được học chính quy [22]

Việc phát hiện và cải thiện kiểm soát huyết áp đã phát hiện ra các rào cản đa yếu tố, bao gồm các chuẩn mực văn hóa, các bác sĩ chăm sóc sức khỏe không quan tâm đầy đủ đến giáo dục sức khỏe, thiếu kinh phí cho các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe, thiếu khả năng tiếp cận các địa điểm để tham gia hoạt động thể chất, khẩu phần ăn lớn hơn trong các nhà hàng, thiếu sự lựa chọn thực phẩm lành mạnh ở nhiều trường học, công sở và nhà hàng, thiếu các chương trình tập thể dục cho người cao tuổi ở cộng đồng, lượng lớn natri được thêm vào thực phẩm trong quá trình chế biến và chuẩn bị trong các nhà hàng ăn nhanh và đồ hộp [50] Những thách thức này đối với việc phòng ngừa, phát hiện, nâng cao nhận thức và quản lý bệnh tăng huyết áp sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận đa hướng không chỉ đến các nhóm dân số có nguy cơ cao mà còn cho cộng đồng, trường học, công sở và ngành công nghiệp thực phẩm Cho đến nay, hầu hết các can thiệp đều tập trung vào việc cải thiện các hành vi tự quản lý tăng huyết áp bao gồm tự theo dõi huyết áp, thay đổi lối sống (ví dụ: ăn uống, thói quen tập thể dục và tiết chế hoặc uống rượu điều độ) Những hành vi này thể hiện nền tảng của việc chăm sóc được khuyến nghị đối với bệnh tăng huyết áp và có liên quan đến những cải thiện đáng kể trong việc kiểm soát tăng huyết áp ở những bệnh nhân được điều trị [49], [36] Tuy nhiên, rất ít can thiệp có tác dụng tại nhiều vị trí khác nhau trong hệ thống y tế từ bệnh nhân, bác sỹ, các tổ chức chăm sóc sức khỏe và cả cộng đồng xã hội

Do đó, khi được áp dụng trong môi trường thực tế, các biện pháp can thiệp cuối cùng có thể thất bại nếu: chúng không thích ứng tốt với tổ chức nơi chúng sẽ được thực hiện; bác sĩ ở khu vực đó không hỗ trợ hoặc không đủ chuyên môn và nguồn lực đễ hỗ trợ; bệnh nhân và gia đình họ không tích cực tham gia; hoặc cộng đồng nơi bệnh nhân sống đặt ra rất nhiều thách thức để thực hiện thành công các can thiệp mà bệnh nhân không thể tuân thủ một cách nhất quán theo thời gian

4.2.3 Bệnh xương khớp – kiến thức và thực hành của người cao tuổi Đối tượng nghiên cứu hầu hết đều có kiến thức về hậu quả của các bệnh về xương khớp Là một trong những bệnh phổ biến ở người cao tuổi, do đó hầu hết các đối tượng đều có kiến thức đúng về những biến chứng của các bệnh xương khớp, chiếm đến 94,6 đối tượng nghiên cứu Kiến thức đúng về việc điều trị bệnh xương khớp cũng chiếm tỷ lệ cao trong dân số nghiên cứu, chiếm đến 91,0 Kiến thức đúng về chế độ điều trị và giữ ấm cơ thể chiếm tỷ lệ tương đối cao lần lượt là 86,6 và 83,4 Đối tượng chua có kiến thức tốt về chế độ vận động và tắm nước ấm ở những bệnh nhân mắc bệnh xương khớp chiếm tỷ lệ lần lượt là 77,0 và 72,3 Kiến thức đúng về điều trị bệnh xương khớp trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với tỷ lệ này trong nghiên cứu của Nguyễn Tấn Đồng khi tỷ lệ này chiếm 37,5 so với 90,1 như trong nghiên cứu của chúng tôi Tỷ lệ hiểu biết đúng về biến chứng của chúng tôi cũng cao hơn so với nghiên cứu Nguyễn Tấn Đồng chiếm 75,0 so với 4,6 Tương tự vậy các tỷ lệ về vận động cũng thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi, chỉ chiếm 68,8 Riêng kiến thức về tấm nước ấm cho người cao tuôi mắc bệnh xương khớp của Nguyễn Tấn Đồng lại chiếm tỷ lệ cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ này chiếm 90,6 [6]

Trong thực hành chăm sóc bệnh xương khớp, tỷ lệ thực hành đúng chiếm tỷ lệ thấp dưới 80 , trong đó thực hành đúng nhiều nhất là về chế độ vận động Xử trí đúng ở đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ thấp, chỉ 67,9 , tương tự vậy, tập thể dục chỉ được thực hiện ở 63,1 đối tượng nghiên cứu, vận động nhẹ thấy được ở 73,3 đối tượng, ở những bệnh nhân này, bệnh thường mạn tính và trường diễn nên khả năng vận động bị ảnh hưởng, gây hạn chế vận động ở bệnh nhân không chỉ ở các cơn đau thực thể mà còn bởi ảnh hưởng tâm lý, do đó đối tượng ngại vận động và tập thể dục Đối tượng chưa quan tâm thực hành về tắm nước nóng, tỷ lệ thực hành đúng chiếm

Ngày đăng: 18/03/2023, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w