Luận án tiến sĩ năm 2013 Đề tài: Đánh giá sự biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau MỞ ĐẦU Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, có ba mặt giáp biển và có hệ thống sông, rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 7000 km và tổng diện tích mặt nước gần 160 km 2 . Đây là vùng đất thấp, nên các sông, rạch đóng vai trò của những “kênh dẫn triều” đưa nước biển theo thuỷ triều xâm nhập ngược dòng làm nhiễm mặn gần toàn bộ sông, rạch ở nơi này. Đặc biệt, với những bãi triều rộng, nhiều cửa sông cùng với chế độ môi trường nước và thuỷ văn thuận lợi đã tạo nên một vùng sinh thái thuỷ sinh đặc trưng không phải nơi đâu cũng có và đã hấp dẫn nhiều loài động thực vật thủy sinh đến trú ẩn và sinh sản, như vùng bãi bồi Tây Ngọc Hiển - Vườn Quốc gia (VQG) mũi Cà Mau. Bãi bồi này lâu nay được xem như là bãi ương cung cấp, bổ sung nguồn lợi các loài tôm, cá, nhuyễn thể vv . vào các quần đàn trưởng thành sống trong vùng, cũng như khu vực biển Đông - Tây Nam Bộ. Trong những năm gần đây, do nhu cầu tiêu thụ tôm trong và ngoài nước tăng mạnh, nên ngư dân ven biển đã khai thác tận thu các loài tôm cá dẫn đến nguồn lợi nhiều loài tôm có giá trị kinh tế đang có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng. Ngư dân không chỉ khai thác tôm, cá con mà còn khai thác cả các cá thể đang mang trứng trong mùa sinh sản ở ngay cả những vùng cấm, mùa cấm đánh bắt vv . bằng nhiều phương tiện đánh bắt mang tính huỷ diệt, như nghề đáy sông, nghề te và nguy hiểm hơn là nghề te có sử dụng xung điện. Chính việc khai thác nguồn lợi bừa bãi không có quy hoạch, thiếu giải pháp hợp lý và thiếu ý thức bảo vệ, cùng với sự gia tăng dân số và áp lực phát triển kinh tế xã hội của địa phương ngày càng cao, vấn đề ô nhiễm môi trường vv . tất cả những yếu tố trên làm thay đổi thành phần loài, số lượng và trữ lượng các loài tôm ở đây. Hiện tại, các nhà khoa học và các nhà quản lý đang tìm kiếm các giải pháp hợp lý cho vấn đề nan giải này. Cho tới nay, đã có một số chương trình nghiên cứu ở Cà Mau, nhưng đa số đều tập trung về sinh thái, còn đa dạng sinh học ít được quan tâm hơn, nhất là đa dạng sinh học thủy sinh. Lược khảo tài liệu cho thấy, hầu hết tài liệu về đa dạng sinh học thủy sinh ở Cà Mau tập trung nghiên cứu các loài tôm, cá ở giai đoạn trưởng thành, còn giai đoạn ấu trùng, con giống ít được đề cập tới, nhất là về nguồn lợi tôm giống. Ở Cà Mau, có một số loài tôm được nuôi và khai thác phổ biến là Penaeus monodon, P. indicus và Metapenaeus ensis. Trong đó con giống loài Penaeus monodon chủ yếu được sản xuất nhân tạo, những loài tôm khác đượ c khai thác ngoài tự nhiên. Ước tính mỗi năm, chỉ riêng loài tôm sú Penaeus monodon người nuôi tôm ở Cà Mau sử dụng khoảng 10 tỷ con giống với số tiền chi phí lên tới hàng trăm tỷ đồng. Việc nghiên cứu, đánh giá hiện trạng cũng như biến động nguồn lợi tôm, nhất là nguồn lợi tôm giống và đánh giá hiện trạng và ảnh hưởng của một số loại nghề khai thác có tính hủy diệt là rất cần thiết để làm cơ sở đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi tôm ở Cà Mau góp phần quan trọng cho việc quy hoạch, định hướng và phát triển bền vững ngành Thủy sản ở đây. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Đánh giá sự biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891 vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau” được tiến hành. Mục đích nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng và tình hình biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm có giá trị kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891 vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau, làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp khả thi nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi tôm giống vùng ven biển Cà Mau nhất là vùng bãi bồi Tây Ngọc Hiển, thuộc Vườn Quốc Gia mũi Cà Mau. Nội dung nghiên cứu: 1. Nghiên cứu thành phần loài và tình hình biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891ở KVNC. 2. Điều tra hiện trạng và đánh giá sự ảnh hưởng của nghề te, nghề đáy sông đến nguồn lợi thủy sản ở VQG mũi Cà Mau. 3. Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở VQG mũi Cà Mau và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm quản lý bảo vệ và tái tạo nguồn lợi. Những đóng góp khoa học và điểm mới của luận án: 1. Ý nghĩa khoa học Là công trình nghiên cứu đầu tiên, chuyên về nguồn lợi tôm giống của 02 giống tôm kinh tế và được nghiên cứu không những ở vùng biển ven bờ , mà còn cả ở vùng cửa sông của cả vùng biển của một tỉnh, có điều kiện sinh thái và nguồn lợi tôm đặc thù nhất, phong phú nhất cả nước. Công trình đã đánh giá một cách khoa học thành phần và sự ảnh hưởng tôm giống bị hai ngư cụ không thích hợp khai thác. Công trình đã nghiên cứu tương đối tổng hợp, có cơ sở khoa học về các điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc ban hành các chính sách bảo vệ nguồn lợi. 2. Ý nghĩa thực tiễn Các kết quả nghiên cứu về thành phần loài, số lượng và sự biến động giống loài tôm phân bố tự nhiên theo thời gian, địa điểm; thành phần loài, số lượng bị khai thác bởi nghề te và nghề đáy sông, có ý nghĩa lớn trong việc đưa ra những biện pháp tích cực để bảo vệ nguồn lợi. Các đánh giá về hiện trạng khai thác, hiện trạng của các biện pháp bảo vệ nguồn lợi đang được thực hiện là cơ sở khoa học để các cơ quan chức năng nắm được tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp để đưa ra những quyết sách mới.Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Cà Mau, 2000, ịch s Đảng bộ Cà Mau. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2008), inh kế bền vững cho các khu bảo tồn biển iệt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp. 3. Bộ Thủy sản (1996), Nguồn lợi thủy sản Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp. 4. Bộ Thủy sản, Danida (1997), ổng quan ngành hủy sản t nh số liệu điều tra khung, giai đoạn I. 5. Khúc Ngọc Cẩm (1988), Biến động về mùa vụ theo số lượng tôm, cá giống tự nhiên vào đầm nước lợ qua cống lấy giống, Sinh học tôm và kĩ thuật nuôi tôm ở Việt Nam, Bộ Thủy sản, Các công trình nghiên cứu Khoa học kĩ thuật thủy sản, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Tạp chí Thủy sản, 1988. 6. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau (2004), áo cáo số liệu tàu thuyền tính đến năm 2004. 7. Chi cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2012), Ni n giám thống k t nh Cà Mau năm 2011, Nhà xuất bản Thống kê. 8. Chi cục Thuế huyện Năm Căn, huyện Phú Tân, huyện Ngọc Hiển (2008), ố liệu nghề te, đáy sông. 9. Nguyễn Văn Chiêm (2003), Thả tôm trở lại biển, Tạp chí thủy sản 7/2003. 10. Nguyễn Văn Chung, Phạm Thị Dự (1995), Danh mục tôm biển iệt Nam, Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật. 11. Nguyễn Công Con (1983), Điều tra thành phần tôm con trong sản lượng đánh bắt của các nghề xiệp, đáy sông, đáy biển khu vực sông Ông rang, huyện Năm Căn, t nh Minh Hải. 12. Cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản (1992), Các văn bản về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội. 13. Cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản (1995), ình hình nguồn lợi tôm và mực biển iệt Nam, hiện trạng và các biện pháp bảo vệ, Báo cáo đề tài KN.04.02. 14. Cục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản (2003), Hướng dẫn khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản iệt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp. 15. Mai Văn Cứ, Ngô Tự Trác, Nguyễn Trọng Hường (1980), Tình hình xuất hiện giống ở một số đầm nước lợ v ng Hải hòng. 16. Đại học Cần Thơ, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau (2004), Điều tra nguồn lợi tôm, cá, cua v ng ãi ồi tây Ngọc Hiển, t nh Cà Mau. 17. Phạm Ngọc Đ ng, Nguyễn Hải Đường (1977), ước đầu tìm hiểu một số đ c điểm sinh học của tôm bộp (Metapenaeus affinis Milne Edwwards) v ng gần bờ vịnh ắc ộ, Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu 1975-1977. 18. Phạm Ngọc Đ ng (1989), Điều tra sự phân bố, biến động nguồn lợi tôm giống v ng ven biển và c a sông t Hải hòng đến hanh Hóa, Báo cáo Khoa học kĩ thuật, Viện Nghiên cứu Hải sản. 19. Phạm Ngọc Đ ng (1994), Nguồn lợi tôm biển iệt Nam, Chuyên khảo
Trang 1VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
NGUYỄN HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG NGUỒN LỢI TÔM GIỐNG CỦA MỘT SỐ LOÀI
TÔM KINH TẾ THUỘC GIỐNG PENAEUS FABRICIUS, 1798 VÀ METAPENAEUS WOOD-MASON ET ALCOCK, 1891 VÙNG CỬA SÔNG BÃI
BỒI TÂY NGỌC HIỂN VÀ VÙNG BIỂN VEN BỜ CÀ MAU
CHUYÊN NGÀNH : THỦY SINH VẬT HỌC
Trang 2MỞ ĐẦU
Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, có ba mặt giáp biển và có hệ thống sông, rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 7000 km và tổng diện tích mặt nước gần 160 km2 Đây là vùng đất thấp, nên các sông, rạch đóng vai trò của những “kênh dẫn triều” đưa nước biển theo thuỷ triều xâm nhập ngược dòng làm nhiễm mặn gần toàn bộ sông, rạch ở nơi này Đặc biệt, với những bãi triều rộng, nhiều cửa sông cùng với chế độ môi trường nước và thuỷ văn thuận lợi đã tạo nên một vùng sinh thái thuỷ sinh đặc trưng không phải nơi đâu cũng có và đã hấp dẫn nhiều loài động thực vật thủy sinh đến trú
ẩn và sinh sản, như vùng bãi bồi Tây Ngọc Hiển - Vườn Quốc gia (VQG) mũi
Cà Mau Bãi bồi này lâu nay được xem như là bãi ương cung cấp, bổ sung nguồn lợi các loài tôm, cá, nhuyễn thể vv vào các quần đàn trưởng thành sống trong vùng, cũng như khu vực biển Đông - Tây Nam Bộ
Trong những năm gần đây, do nhu cầu tiêu thụ tôm trong và ngoài nước tăng mạnh, nên ngư dân ven biển đã khai thác tận thu các loài tôm cá dẫn đến nguồn lợi nhiều loài tôm có giá trị kinh tế đang có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng Ngư dân không chỉ khai thác tôm, cá con mà còn khai thác cả các cá thể đang mang trứng trong mùa sinh sản ở ngay cả những vùng cấm, mùa cấm đánh bắt vv bằng nhiều phương tiện đánh bắt mang tính huỷ diệt, như nghề đáy sông, nghề te và nguy hiểm hơn là nghề te có sử dụng xung điện Chính việc khai thác nguồn lợi bừa bãi không có quy hoạch, thiếu giải pháp hợp lý và thiếu ý thức bảo vệ, cùng với sự gia tăng dân số và áp lực phát triển kinh tế xã hội của địa phương ngày càng cao, vấn đề ô nhiễm môi trường vv tất cả những yếu tố trên làm thay đổi thành phần loài, số lượng và trữ lượng các loài tôm ở đây Hiện tại, các nhà khoa học và các nhà quản lý đang tìm kiếm các giải pháp hợp lý cho vấn đề nan giải này
Trang 3Cho tới nay, đã có một số chương trình nghiên cứu ở Cà Mau, nhưng
đa số đều tập trung về sinh thái, còn đa dạng sinh học ít được quan tâm hơn, nhất là đa dạng sinh học thủy sinh Lược khảo tài liệu cho thấy, hầu hết tài liệu về đa dạng sinh học thủy sinh ở Cà Mau tập trung nghiên cứu các loài tôm, cá ở giai đoạn trưởng thành, còn giai đoạn ấu trùng, con giống ít được đề cập tới, nhất là về nguồn lợi tôm giống
Ở Cà Mau, có một số loài tôm được nuôi và khai thác phổ biến là
Penaeus monodon, P indicus và Metapenaeus ensis Trong đó con giống loài Penaeus monodon chủ yếu được sản xuất nhân tạo, những loài tôm khác được
khai thác ngoài tự nhiên Ước tính mỗi năm, chỉ riêng loài tôm sú Penaeus
monodon người nuôi tôm ở Cà Mau sử dụng khoảng 10 tỷ con giống với số
tiền chi phí lên tới hàng trăm tỷ đồng Việc nghiên cứu, đánh giá hiện trạng cũng như biến động nguồn lợi tôm, nhất là nguồn lợi tôm giống và đánh giá hiện trạng và ảnh hưởng của một số loại nghề khai thác có tính hủy diệt là rất cần thiết để làm cơ sở đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm quản lý, bảo vệ
và tái tạo nguồn lợi tôm ở Cà Mau góp phần quan trọng cho việc quy hoạch, định hướng và phát triển bền vững ngành Thủy sản ở đây
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Đánh giá sự biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius,
1798 và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891 vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau” được tiến hành
Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá hiện trạng và tình hình biến động nguồn lợi tôm giống của một số loài tôm có giá trị kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891 vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển và vùng biển ven bờ Cà Mau, làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp khả thi nhằm quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi tôm
Trang 4Nội dung nghiên cứu:
1 Nghiên cứu thành phần loài và tình hình biến động nguồn lợi tôm giống
của một số loài tôm kinh tế thuộc giống Penaeus Fabricius, 1798 và
Metapenaeus Wood - Mason et Alcock, 1891ở KVNC
2 Điều tra hiện trạng và đánh giá sự ảnh hưởng của nghề te, nghề đáy sông đến nguồn lợi thủy sản ở VQG mũi Cà Mau
3 Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ở VQG mũi Cà Mau
và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm quản lý bảo vệ và tái tạo nguồn lợi
Những đóng góp khoa học và điểm mới của luận án:
1 Ý nghĩa khoa học
Là công trình nghiên cứu đầu tiên, chuyên về nguồn lợi tôm giống của
02 giống tôm kinh tế và được nghiên cứu không những ở vùng biển ven bờ,
mà còn cả ở vùng cửa sông của cả vùng biển của một tỉnh, có điều kiện sinh thái và nguồn lợi tôm đặc thù nhất, phong phú nhất cả nước
Công trình đã đánh giá một cách khoa học thành phần và sự ảnh hưởng tôm giống bị hai ngư cụ không thích hợp khai thác
Công trình đã nghiên cứu tương đối tổng hợp, có cơ sở khoa học về các điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc ban hành các chính sách bảo vệ nguồn lợi
2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu về thành phần loài, số lượng và sự biến động giống loài tôm phân bố tự nhiên theo thời gian, địa điểm; thành phần loài, số lượng bị khai thác bởi nghề te và nghề đáy sông, có ý nghĩa lớn trong việc đưa ra những biện pháp tích cực để bảo vệ nguồn lợi
Các đánh giá về hiện trạng khai thác, hiện trạng của các biện pháp bảo
vệ nguồn lợi đang được thực hiện là cơ sở khoa học để các cơ quan chức năng nắm được tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp để đưa ra những quyết sách mới
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 5Tôm là loài giáp xác được con người sử dụng làm thực phẩm từ thời xa xưa và ngày nay nó đã trở thành đối tượng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tôm trên nhiều lĩnh vực từ đa dạng loài, phân bố, tình hình nguồn lợi, đặc điểm sinh học (tuổi, sinh trưởng, sinh sản, dinh dưỡng vv ), di cư, cấu trúc quần thể, mối quan hệ giữa chúng với môi trường sống vv đã được công bố Tuy nhiên, trong bản luận án này, chúng tôi chỉ điểm qua những tài liệu liên quan đến các loài tôm có giá trị kinh tế sống ở vùng cửa sông, ven biển nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất về tình hình nghiên cứu tôm trên thế giới, ở Việt Nam nói chung và ở khu vực Cà Mau nói riêng, còn những lĩnh vực khác chúng tôi cũng quan tâm và đề cập nhưng không nhiều
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến ấu trùng tôm-tôm con (ATT-TC) đã và đang được quan tâm thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới Các công trình tiêu biểu được điểm theo mốc thời gian cụ thể như sau:
1.1.1 Về định loại
Năm 1949, Kubo đã công bố kết quả nghiên cứu về thành phần tôm Penaeid ở vùng biển Nhật Bản và các thủy vực lân cận, tác giả đã đưa ra nhiều dẫn liệu về phân loại và mô tả các loài tôm họ Penaeidae, đặc biệt là hình thái phân loại ATT-TC Đây là một trong những công trình nghiên cứu tiêu biểu
về tôm ở thế kỷ XX, đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị, rất hữu ích cho công tác tham khảo [89]
Năm 1985, Baez P đã xây dựng khóa phân loại cho một số họ giáp xác mười chân thu thập được ở phía nam Chile Khóa phân loại của Baez P có
Trang 6hình ảnh màu minh họa khá r n t, giúp việc định loại tôm được nhanh chóng, chính xác [71]
Năm 1989, Leis J.M và Trnski đã nghiên cứu sự biến động thành phần loài và số lượng tôm con ở vùng biển ven bờ Indonexia - Thái Bình Dương Kết quả cho thấy mùa mưa thành phần loài tôm phong phú hơn mùa khô, số lượng tôm con thu được nhiều nhất vào tháng 6-7 [91]
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu của Cook H.L (1996) đã xây dựng khóa định loại chung cho ấu trùng và hậu ấu trùng Penaeidae ở vùng triều Mexico [75] Công trình nghiên cứu của Lindley.J.A (2001) đã tiến hành định loại bộ Decapoda ở giai đoạn còn non của một số họ tôm Aristeidae, Penaeidae, Solenoceridae, Sicyoniidae, Sergestidae, Luciferidae [92]
1.1.2 Nghiên cứu về sự phân bố và biến động thành phần loài của
ATT-TC theo sự biến đổi của các yếu tố môi trường
Tại các vùng cửa sông ở Nam Phi, Whitfield A.K (1989) đã nghiên cứu sự biến động về số lượng của tôm con theo độ cao mực thuỷ triều của kỳ con nước Kết quả cho thấy: sự biến động số lượng tôm con liên quan chặt chẽ tới sự biến đổi của độ cao thuỷ triều, tốc độ dòng chảy, nhiệt độ và độ muối của khối nước triều Không những thế số lượng tôm con thu được còn phụ thuộc vào thời gian ngày - đêm và mùa [98]
Vùng nước ven bờ biển Andaman của Thái Lan cũng đã được Janekarn Vudhichai nghiên cứu (1993) Tác giả đã thu được gần 10.000 cá thể và xác định chúng thuộc 62 họ Sự phong phú về số lượng tôm con ở vùng biển này tương tự với các vùng nhiệt đới khác Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành phần loài tôm con của nhóm tầng sát đáy đa dạng hơn nhóm tầng mặt và tầng giữa [83]
Trang 7Kết quả nghiên cứu tôm Penaeus monodon của Kenyon R.A et al (1997) cho thấy Penaeus monodon con thích nghi sống tại vùng nước lợ cửa sông, nơi giàu có thức ăn nên mật độ của chúng ở đây thường dày hơn các khu vực khác [88]
Đối với hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển và rừng ngập mặn (RNM): Chương trình nghiên cứu thí điểm về tôm trong RNM và khu vực lân cận của Chaitiamvong
S 1983 cho thấy mật độ tôm trong RNM nhiều và đa dạng hơn ngoài RNM [74]
Năm 1995, Singh H.R và cộng sự ở Trường Đại học Tổng hợp Malaya, Malaixia đã chứng minh: RNM ven bờ là nơi ẩn trú thuận lợi và có vai trò như một vườn ương cho nhiều loài sinh vật thủy sinh sinh trưởng, sinh sản [94]
Theo nghiên cứu của Laegdsgaard (1995) và Kenyon, R.A (1997) ở vùng biển phía đông của Australian cho thấy số lượng ATT-TC tại các vị trí
có cỏ biển cao gấp từ 2 đến 3 lần nơi không có cỏ biển Kết quả thí nghiệm về
số lượng ATT-TC cư trú tại các thảm cỏ nhân tạo và không có thảm cỏ của tác giả cũng cho thấy sự chênh lệch mật độ từ 5 -10 lần [90] Theo M.D.E Haywood và cộng sự (1998) thảm cỏ biển có vai trò quan trọng giúp cho ATT-TC tránh khỏi sự tấn công của các loài cá dữ [85]
Năm 1999, tại Hội thảo Quốc tế về RNM ở Hongkong, trong báo cáo
“Mối quan hệ giữa mật độ tôm con và cá con với RNM ở Maipo, Hongkong”
Vance chỉ ra rằng: số lượng tôm con thu được vào ban đêm trong RNM, ven RNM và đáy bùn cao gấp từ 2 đến 10 lần so với mẫu thu vào ban ngày [96]
1.1.3 C t giảm các loại nghề khai thác thủy sản có ảnh hưởng đến nguồn lợi tôm giống và một số giải pháp bảo vệ
Hiện nay, tình trạng khai thác hải sản ven bờ ở nhiều nước trên thế giới cũng như khu vực Đông Nam Á đều đã quá mức cho ph p, nguồn lợi
Trang 8nhận thấy tầm quan trọng của việc quản lý và phát triển nghề cá ven bờ theo hướng bền vững, nên đã đưa ra nhiều chính sách như hạn chế số lượng tàu thuyền, kiểm soát và cấm các phương pháp khai thác có hại, đồng thời tìm các giải pháp hiệu quả để giải quyết việc làm cho số lao động dư thừa trong quá trình thực thi chính sách
Năm 1995, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) đã đưa ra Bộ Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm Năm 1997, trên
cơ sở Bộ Quy tắc này, Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết về nghề cá có trách nhiệm (Code of Conduct for Responsible Fisheries) phù hợp với điều kiện
nghề cá ở các nước Đông Nam Á, trong đó mục 7.6.4 có ghi “các hình thức
đang tồn tại của các ngư cụ, phương pháp và hoạt động thực tế phải được kiểm tra và phải có các biện pháp đảm bảo rằng nếu ngư cụ, phương pháp và hoạt động đó không theo đúng việc đánh bắt có trách nhiệm thì cần phải loại
bỏ và thay thế bởi các biện pháp được chấp nhận khác” và mục 8.4.2 ghi rõ
“các quốc gia phải cấm sử dụng chất nổ, chất độc và các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt khác” [77]
Theo Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNPF), hiện có hơn 2/3 tổng nguồn lợi hải sản trên thế giới đã bị khai thác quá mức, do quy mô hoạt động nghề cá ngày càng lớn và việc sử dụng ngư cụ hủy diệt ngày càng gia tăng, nhằm khai thác triệt để nguồn lợi Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), các phương pháp khai thác hủy diệt là mối đe dọa lớn nhất, vì nó không những làm cho nguồn lợi hải sản suy giảm nhanh, mà còn tàn phá môi trường và các hệ sinh thái, đặc biệt nguy hiểm và điển hình là lưới k o đáy, te, thuốc nổ, chất độc Cyanua [49]
Theo thống kê của FAO, nhiều vùng biển “giàu có” của thế giới nay đã trở nên nghèo nàn, 12/16 vùng biển được nghiên cứu, cho thấy ít nhất có
Trang 9khoảng 70% trữ lượng cá đã bị khai thác hoàn toàn hoặc khai thác quá mức Nguồn lợi thủy sản có 590 đối tượng kinh tế thì có 47% bị khai thác hoàn toàn, 18% bị khai thác quá mức và 9% bị cạn kiệt hoàn toàn Nguyên nhân,
do sự phát triển bừa bãi của các nghề lưới k o, te xiệp, lưới rùng vv [80]
Trước nguy cơ nguồn lợi hải sản và các hệ sinh thái bị tàn phá nghiêm trọng, một số giải pháp cơ bản nhằm bảo vệ chúng được áp dụng và đã có hiệu quả ở nhiều nước trên thế giới, xin được điển hình như sau [86]:
1) Giảm số lượng tàu thuyền và chuyển đổi nghề nghiệp
Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Mỹ giảm sản lượng khai thác thủy sản bằng cách loại bỏ tàu cũ và các nghề gây xâm hại nguồn lợi, hỗ trợ vốn đóng tàu làm các nghề không hủy diệt nguồn lợi [48]
Trung Quốc loại bỏ hoàn toàn các tàu nhỏ cũ nát khai thác ven bờ, k m hiệu quả như lưới k o, te xiệp và tăng cường tập huấn cho ngư dân về các nghề khai thác hiệu quả và nghề nuôi trồng thủy sản [78]
Nhật Bản và châu Âu thực hiện chương trình cắt giảm cường lực khai thác và chuyển đổi lực lượng khai thác ven bờ sang nuôi trồng thủy sản [61, 77]
Từ năm 2000, Chi Lê cấm mọi hoạt động khai thác hải sản từ 5 hải lý trở vào bờ, chuyển ngư dân sang nuôi cá hồi xuất khẩu [82]
Liên minh châu Âu cắt giảm 2% tàu khai thác hàng năm Số lượng tàu
cá giảm từ 96.000 chiếc (2000) xuống 88.701 chiếc (2003) Trong đó, 13% tàu lưới k o, 6% tàu lưới rùng, 3% tàu lưới rê, 16% tàu câu và 62% tàu te xiệp, vó mành và các nghề khác [79]
Từ năm 1983 - 1998, Hà Lan cắt giảm 32% số lượng tàu thuyền các nghề khai thác ven bờ như lưới k o, te xiệp, lưới rùng và 7% cường lực khai
Trang 10thác Kết quả là ngành khai thác Hà Lan không giảm mà đã tăng lợi nhuận vào năm 1998 [81]
Phát triển nghề nuôi hải sản để bù đắp hải sản thiếu hụt, giải quyết sinh kế cho ngư dân thất nghiệp do cắt giảm tàu thuyền đánh cá hoặc các nghề cấm khai thác là giải pháp được nhiều nước áp dụng [46] Đây là giải pháp quan trọng mang lại hiệu quả nhanh chóng trong việc giảm áp lực cho nghề khai thác ven bờ
Nhật Bản, Nauy, Anh, Chi Lê, Hy Lạp, Indonesia, Philippin vv đã chủ động sản xuất con giống nhân tạo, phát triển nghề nuôi biển thay thế cho nghề khai thác các loài này ngoài tự nhiên, vì nguồn lợi đã cạn kiệt, đồng thời tạo việc làm cho một số ngư dân bị cấm khai thác [48]
2) Xây dựng các khu bảo tồn biển và rạn nhân tạo
Tại Tanzania, Chính phủ đã tổ chức thiết lập các khu bảo tồn tự nguyện
ở các ngư trường trọng điểm để hạn chế tình trạng đánh cá hủy diệt tràn lan Sau một thời gian triển khai, việc sử dụng các phương pháp khai thác hủy diệt
đã giảm đáng kể và nguồn lợi hải sản được phục hồi r rệt [93]
Tại Malaysia từ năm 1994, vùng nước từ 2 hải lý trở vào bờ của 38 hòn đảo đã trở thành khu bảo tồn biển, duy trì đa dạng sinh học [76]
Thái Lan xây dựng 6 km rạn san hô nhân tạo tại vùng biển ven bờ thuộc tỉnh Nakhomsithammarat [72]
Đài Loan thiết lập các khu bảo tồn biển, các rạn nhân tạo và nhiều khu vực cấm khai thác dọc theo bờ biển, thả giống ra biển để tăng nguồn lợi hải sản [61]
3) Cấm có thời hạn một số loại nghề
Trang 11Trung Quốc từ 1995 - 2001 cấm đánh bắt cá bằng lưới k o đáy, đăng chắn, te xiệp từ 1/7 - 16/9 ở Bắc Hoàng Hải, từ 16/6 - 16/9 ở Nam Hoàng Hải Trên biển Đông cấm tất cả các loại nghề trừ lưới rê và câu từ 1/6 - 1/8 [46]
Từ năm 1983 Malaysia cấm mọi hoạt động khai thác từ 8 km vào bờ [94]
4) Cấm hẳn các nghề khai thác mang tính tàn phá nguồn lợi
Trung Quốc cấm nghề lưới k o, te xiệp hoạt động trong vùng từ 12 hải
lý trở vào bờ; Thái Lan, từ năm 1972 cấm nghề lưới k o và te đẩy hoạt động ở vùng cách bờ 3 km; Philippine cấm tất cả các dạng đánh bắt cá bất hợp pháp
và phương pháp khai thác huỷ diệt như lưới k o, te xiệp, chất nổ, chất độc và kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định; Malaysia cấm tất cả các ngư cụ và phương pháp khai thác có hại như te xiệp, lưới k o, xung điện, chất nổ và chất độc; Indonesia cấm nghề lưới k o, te xiệp trong toàn bộ vùng biển của mình
từ năm 1985: từ bờ đến 3 hải lý cấm loại tàu trên 10 CV, từ 3 - 7 hải lý cấm loại tàu trên 50 CV và từ 7 - 12 hải lý cấm loại tàu trên 200 CV [49]
5) Có chính sách phát triển bền vững nghề cá [49]
Trung Quốc: Cấp giấy ph p đánh cá theo vùng và ngư trường; đưa ra trần hạn mức mã lực cho mỗi vùng biển; cấm các ngư cụ và phương pháp đánh bắt hủy diệt
Thái Lan: Cấp giấy ph p cho các tàu đánh cá; thiết lập chương trình quản lý nghề cá ven bờ với sự tham gia của cộng đồng ngư dân ven biển
Malaysia giảm cường lực khai thác thông qua việc cấp giấy ph p cho tàu cá; phân chia ngư trường cho nghề cá qui mô nhỏ và nghề cá công nghiệp Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng ngư dân trong quản lý nghề cá
Indonesia phát triển nghề nuôi để giảm áp lực khai thác ven bờ; phân chia vùng đánh bắt; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý nghề cá
Trang 12Theo Jeanette Fitzsimons (2002), để bảo vệ tốt hệ sinh thái và khai thác bền vững nguồn lợi ven bờ, các quốc gia cần thực hiện các công việc như: Cần có những biện pháp quản lý ngư cụ và khai thác hợp lý; nghiêm cấm các loại ngư cụ phá hoại hệ sinh thái và ảnh hưởng đến các loài khác như lưới
k o, te xiệp vv…; hạn chế tối đa sử dụng các loại ngư cụ gây ảnh hưởng xấu đến sinh cảnh, đặc biệt là những vùng nhạy cảm như bãi đẻ và nơi cư trú của
cá con; loại bỏ các loại ngư cụ hủy diệt cũng như chất độc, thuốc nổ vv…; Chính phủ phải loại bỏ những tàu khai thác quá cũ và không hiệu quả; cần phải có kinh phí hỗ trợ cho ngư dân chuyển đổi sang những hoạt động khác; nhằm bảo vệ tài nguyên chung của xã hội, cần duy trì việc cấp giấy ph p khai thác cho ngư dân; ngoài ra, phải có những quy định xử phạt cụ thể cho những trường hợp làm nguy hại đến môi trường và sinh cảnh [84]
6) Các giải pháp tạo sinh kế cho ngư dân chuyển đổi nghề [49]
Trong thực tiễn, các văn bản pháp luật cấm đánh bắt hoặc cắt giảm số tàu đánh cá nói chung và nghề te nói riêng sẽ khó trở thành hiện thực khi không giải quyết được vấn đề sinh kế cho ngư dân Vì mưu sinh, họ sẽ tìm mọi cách để đánh bắt cá, bất chấp cả lệnh cấm Nhận thức được điều này, mỗi nước có cách giải quyết riêng phù hợp với điều kiện của họ, cụ thể:
Nauy mua lại số tàu thuyền đánh cá bị cắt giảm hoặc cấm hoạt động để ngư dân có tiền chuyển đổi nghề
Canada mua lại tàu thuyền bị cấm đánh bắt rồi đánh đắm làm rạn nhân tạo, sau đó trợ cấp cho những ngư dân bị thất nghiệp
Trung Quốc hỗ trợ cho ngư dân nghèo làm nghề khai thác hải sản ven
bờ chuyển đổi nghề nghiệp
Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc mua lại tàu thuyền cũ của ngư dân, cấp tiền đào tạo nghề cho những ngư dân chấp nhận chuyển sang nghề khác vv
Trang 131.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Ở Việt Nam cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tôm được tiến hành, các nội dung nghiên cứu chính tập trung vào: thành phần loài, mùa
vụ sinh sản, bãi đẻ, dinh dưỡng và biến động số lượng đàn bổ sung; môi trường sống và ảnh hưởng của chúng tới sự phát triển của tôm; ảnh hưởng của một số loại nghề đến nguồn lợi thủy sản và các biện pháp bảo vệ chúng
1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản
Những năm đầu thế kỷ 20, công tác nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển chủ yếu do người Pháp tiến hành, được đánh dấu bằng mốc ra đời của Viện Hải dương học Đông Dương ở Nha Trang Tàu De Lanessan đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu, các công trình này đã được công bố hàng năm từ
1925 - 1947, tuy nhiên không thấy có công trình nghiên cứu nào mang tính quy mô về tôm biển Trong thời kỳ này, các công trình nghiên cứu còn bị hạn chế ở chỗ chỉ giới hạn nghiên cứu về mặt phân loại học, các đối tượng nghiên cứu là những nhóm loài tôm có kích thước lớn, dễ thu thập và định loại Những nhóm loài tôm có kích thước nhỏ hầu như chưa được đề cập đến Các tác giả nghiên cứu trong thời gian này đa số là người nước ngoài, thậm chí những người thu mẫu chỉ là những người yêu thích thiên nhiên, nhà nghiên cứu nghiệp dư Phải đến đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, Viện Nghiên cứu Hải sản (Hải Phòng) mới tiến hành tổ chức khảo sát tôm ở vùng biển Quảng Ninh
- Hải Phòng trong hai năm 1971 - 1972 Kết quả đã xác định được một số loài tôm kinh tế là đối tượng khai thác ở vùng ven bờ và các đối tượng này có thể trở thành giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển Các tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu một số yếu tố môi trường liên quan như: nhiệt độ, độ mặn, dòng chảy… tới ATT-TC [3]
Nguồn giống tôm, cá vào đầm nước lợ Tràng Cát (Hải Phòng) đã được
Trang 14Kết quả cho thấy trong những ngày đầu con nước, số lượng con giống vào đầm phong phú hơn những ngày sau nhiều lần [31] Cùng lĩnh vực nghiên cứu
về nguồn giống thủy sản, năm 1980 Mai Văn Cứ, Ngô Tự Trác và Nguyễn Trọng Hường đã có thông báo về tình hình xuất hiện tôm giống ở một số đầm nước lợ ở Hải Phòng [15] Năm 1988, Khúc Ngọc Cẩm đã có công trình về
“Sự biến động theo mùa vụ của sản lượng tôm, cá giống tự nhiên vào đầm nước lợ qua cống lấy giống ở khu vực Thái Bình [5]
Nguồn giống tôm, cá trong các hệ sinh thái RNM, các đầm nuôi nước
lợ ven bờ Hải Phòng Quảng Ninh đã được nghiên cứu từ những năm 1980
-1985, được tổng kết bằng các báo cáo của Phạm Đình Trọng, Nguyễn Thị Thu và Trần Quốc Hoà Kết quả cho thấy, ở vùng xung quanh RNM và các bãi có RNM, số lượng nguồn giống tôm, cá cao gấp từ 3-5 lần nơi không có hoặc xa RNM [62]
Năm 1983, trong báo cáo của Trung Tong Tiến về “Vài biện pháp nâng cao giá trị kinh tế đầm nuôi thủy sản nước lợ” đã đề cập đến việc theo d i mùa vụ xuất hiện tôm giống vào đầm nuôi, thấy rằng vào các tháng 3 - tháng
6, mật độ tôm giống vào đầm nhiều hơn các tháng khác [57]
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học loài Metapenaeus affinis thuộc giống Metapenaeus trong tự nhiên bước đầu được thực hiện bởi Phạm Ngọc Đ ng trong 3 năm (1975-1977) Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu tập tính sinh sản của một loài tôm khá phổ biến trong tự nhiên ở vùng gần bờ của vịnh Bắc Bộ Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học và tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về các loài tôm của giống Metapenaeus [17]
Nghiên cứu về ngư trường khai thác tôm, Vũ Như Phức (1985) đã đề
cập đến các bãi tôm Penaeus merguiensis giao vĩ, đẻ trứng ở ven bờ biển Tây
Nam Bộ như bãi tôm khu vực tây bắc Phú Quốc (Kiên Giang), Hòn Chuối
Trang 15(Cà Mau) Tác giả nhận định, do tập tính sống đàn, nên chúng ta có thể khai thác đánh bắt tôm bố mẹ với số lượng lớn [41]
Năm 1978-1980, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp cùng Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện Đề tài “Điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải” trong đó có thu mẫu ATT-TC Bước đầu các tác giả đã xác định thành phần loài, bãi đẻ và mùa vụ sinh sản của một số loài hải sản Với
số lượng mẫu thu được rất lớn, nhưng tiếc là các tác giả không phân chia theo các giai đoạn phát triển của cá thể, chỉ miêu tả sơ lược một số cá thể bắt gặp, đặc biệt hiện nay mẫu không còn lưu giữ, nên giá trị tham khảo không cao [4]
Năm 1982 tàu “Viện sĩ Alecxander Nesmeyanov” đã điều tra tại 47 trạm, từ cửa sông Cửu Long đến Thuận Hải, cách bờ từ 5 đến 190 hải lý (độ sâu từ 19m đến 1.935m) với hai loại lưới k o tầng mặt và tầng th ng đứng ở
độ sâu từ 50m đến 500m, cũng đã thu được một số lượng mẫu trứng cá cá con
và ATT-TC, hiện số mẫu này đang được lưu giữ và bảo quản khá tốt tại Viện Hải dương học (Nha Trang) [3]
Từ năm 1987 đến năm 1989, để xác định phân bố, biến động nguồn lợi tôm giống vùng ven biển và cửa sông từ Hải Phòng đến Thanh Hóa được Phạm Ngọc Đ ng thực hiện Kết quả cho thấy mật độ tôm giống vùng cửa sông cao hơn vùng ven biển, đó cũng chính là nguồn giống chủ yếu và trở thành của các giống nuôi trong các đầm nước lợ ven biển Tác giả cũng đã nêu sự liên quan của các điều kiện môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, dòng hải lưu… tới đối tượng nghiên cứu [18]
Nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng khu bảo tồn biển, các khu vực bảo tồn đa dạng sinh học, đã có một số đề tài ở một số khu vực được Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì thực hiện, như: Năm 1993, điều tra
Trang 16Nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi hải sản ở vùng biển Tây Nam Bộ [53]; năm
2007, Cơ sở khoa học của việc bảo tồn đa dạng sinh học vùng biển Tây Nam
Bộ [55]
Một số tài liệu có thể tham khảo trong quá trình định danh phải kể tới:
Phạm Ngọc Đ ng (1994), Nguồn lợi tôm biển iệt Nam [19] Đặng Ngọc
Thanh, Nguyễn Văn Chung, Phạm Ngọc Đ ng, Nguyễn Công Con (1996) với
đề tài hu hệ tôm biển iệt Nam - hành phần loài, phân bố, phân loại Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Văn Chung (2001), giáp xác v ng biển
iệt Nam [29] vv Đây là tài liệu hữu ích trong việc tham khảo để xác định
30 họ tôm và 90 loài đã được xác định Thành phần các loài tôm bắt gặp phong phú nhất ở tầng đáy, tiếp theo là tầng mặt và thấp nhất ở tầng th ng đứng Khu vực có mật độ tôm cao tập trung ở khu vực ven biển từ Bình Thuận đến Vũng Tàu, ven biển Bến Tre, xung quanh hòn Trứng Lớn, hòn Trứng Nhỏ, quanh quần đảo Nam Du, hòn Rái và quần đảo Bà Lụa [25]
Với những công trình nghiên cứu tiêu biểu theo dấu mốc thời gian, địa danh trên đây, chúng tôi thấy rằng việc nghiên cứu về thành phần loài, phân
bố và mùa vụ sinh sản ATT-TC ở Việt Nam có được quan tâm, tuy nhiên chưa được thường xuyên, liên tục, phủ rộng các khu hệ trên toàn quốc Cà Mau là một ví dụ, tuy là tỉnh có thế mạnh về thủy sản, nhưng việc nghiên cứu
về hiện trạng của ATT-TC và tiềm năng nguồn giống tôm chưa nhiều, ở vườn Quốc gia Cà Mau thì hầu như không có
Trang 171.2.2 Nghiên cứu về hiện trạng khai thác tôm con của một số loại nghề và giải pháp bảo vệ
Trước thực trạng nguồn lợi thủy sản ngày một bị cạn kiệt, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường chức năng quản lý, bảo vệ ngành Thủy sản Việt Nam: Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã được Nhà nước ban hành năm 1989 [12], Sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản, kết quả ch ng mấy khả quan [46] Chính phủ và Bộ Thủy sản đã có thông tư hướng dẫn thực hiện, Luật thủy sản có hiệu lực từ năm 2004 [33], Chính phủ, Bộ thủy sản, Ủy ban nhân dân một số địa phương ven biển đã ban hành nhiều quyết định, thông tư, chỉ thị để triển khai
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, hiện cường độ khai thác ở vùng biển ven bờ tiếp tục gia tăng, tình trạng phá hoại nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản ven bờ đã và đang diễn ra hết sức nghiêm trọng trên diện rộng trong đó có sự “đóng góp” không nhỏ của nghề te (theo Quyết định số 10/QĐ - CP ngày 11/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020) [43]
Theo Cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản (2003), sản lượng khai thác ở vùng nước có độ sâu < 50m chiếm tới 82% tổng sản lượng [14] Vùng biển ven bờ đã bị khai thác quá mức cho ph p kể từ năm 1991 Hiện tại sức p khai thác ở vùng nước ven bờ vẫn đang gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của nghề cá Hầu hết các bãi tôm tự nhiên đã bị khai thác quá mức cho ph p và tại một số bãi tôm truyền thống năng suất khai thác đã giảm sút r rệt, cụ thể: bãi tôm Mỹ Miều (Quảng Ninh) mật độ sản lượng năm
1993 chỉ bằng 45% của năm 1975; ở vùng biển Tây Nam Bộ trữ lượng tôm giảm tới 25% [13]
Theo kết quả điều tra của Dự án Đánh giá Nguồn lợi Sinh vật Biển Việt
Trang 18lệ cá tạp trong thành phần sản lượng của nghề te, xiệp chiếm 90 - 93%, trong
đó tôm chì, tôm thẻ, tôm sắt chưa trưởng thành chiếm từ 70 - 90% sản lượng tôm đánh bắt được Trọng lượng cá thể tôm đánh bắt được còn quá nhỏ: tôm thẻ 7
- 15g/con; tôm chì 2,6 - 9,6g/con R ràng sự hoạt động của nghề te xiệp đã gây ra tác hại rất lớn đối với nguồn lợi tôm Trong khi đó, thu nhập của người dân nghề
te xiệp thấp, do phần lớn sản lượng đánh bắt được là tôm và cá con [69]
Báo cáo Khoa học Kĩ thuật của Đỗ Văn Khoan (1985) về Nguồn lợi
và công cụ đánh bắt tôm giống v ng c a sông huyện hái hụy, t nh hái ình cho thấy mật độ tôm giống vùng cửa sông huyện Thái Thụy phụ thuộc
vào biên độ thủy triều rất lớn, việc quản lý hoạt động của các nghề khai thác thủy sản ở đây ít được cơ quan quản lý quan tâm, nghề te, nhủi hoạt động phổ biến vv…[28]
Đặc điểm về nguồn lợi và tính chất nghề cá ở Thuận Hải đã được Trần Trọng Thương (1991) nêu lên với những hiện tượng vi phạm Pháp lệnh Bảo
vệ Nguồn lợi Thuỷ sản thông qua hoạt động của một số nghề khai thác bằng chất nổ, te, xiệp và những hậu quả của việc vi phạm trên gây ra [56]
Trần Hoàng Phúc (1996) đã nêu hiện trạng nguồn lợi thuỷ sản ở Trà Vinh, tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi ở vùng biển này Những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm chất lượng môi trường, nguồn lợi thuỷ sản và một số giải pháp bảo vệ, phát triển và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên ở Trà Vinh [40]
Đánh giá về Hoạt động thủy sản và thực trạng nguồn giống ở đầm am
- hanh am, huyện hú ang, t nh h a hi n Huế được Lê Văn Miên công
bố trên Tạp chí Thông tin Khoa học Kĩ thuật, Đại học Khoa học Huế (1999) Hoạt động tự do của nhiều loại nghề khai thác thủy sản, mỗi năm có hàng tỷ
cá thể chưa trưởng thành bị sát hại [34]
Trang 19Nguyễn Long (1998) đã khuyến cáo các nhà chức trách ngành Thủy sản bằng việc đưa ra chỉ số về kích thước mắt lưới của một số loại ngư cụ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tái tạo nguồn lợi, đó là các nghề te đẩy với kích thước mắt lưới 2a = 4-8mm, lưới chụp mực với kích thước mắt lưới ở chóp 2a = 20mm Đặc biệt là hoạt động của lưới k o đáy đã tàn phá nơi sinh cư, ương ấp và bãi đẻ của nhiều loài thủy sinh Kết quả nghiên cứu còn cho thấy tỉ lệ tôm, cá con trong mẻ lưới k o đáy thường chiếm từ 50-70% sản lượng [32]
Khi phân tích các thông số kỹ thuật của lưới vây, Nguyễn Phi Toàn (2000) cho rằng bên cạnh việc sử dụng mắt lưới phù hợp với đối tượng đánh bắt và độ thô chỉ lưới thích hợp đảm bảo độ bền cho quá trình hoạt động của lưới, còn phải hạn chế tối đa việc đánh bắt lẫn tôm, cá con làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ Theo tác giả, kích thước mắt lưới hợp lý ở tùng của lưới vây ở vùng biển Đông Nam Bộ là 2a = 20-50mm [58]
Để hạn chế số lượng cá con bị đánh bắt, Nguyễn Văn Kháng (2005) đã
công bố kết quả đề tài Nghi n cứu, thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho
một số loại nghề khai thác hải sản, trong đó có nghề lưới k o đáy [26] Cũng
chính tác giả Nguyễn Văn Kháng cùng Nguyễn Phi Toàn, Bùi Văn Tùng và Đoàn Văn Phụ (2005) đã tiến hành áp dụng thử nghiệm thiết bị thoát cá con cho nghề lưới k o đáy Kết quả đạt được rất khả quan: Số lượng cá và các loài hải sản khác thoát ra khỏi đụt lưới từ các thiết bị khung sắt đều khá tốt, đạt từ 24-87% tổng số cá thể có trong mẻ lưới, cá thoát ra ngoài có khối lượng rất nhỏ từ 0,7 đến 7,3g/ cá thể, số lượng cá và các loài hải sản khác thoát ra khỏi đụt lưới qua thiết bị tấm lưới mắt vuông đạt từ 53-80% số lượng cá thể có trong mẻ lưới, với khối lượng trung bình là 2,2g/ cá thể [27]
Tỷ lệ nhóm cá tạp ở các đội tàu lưới k o đôi đã được Đào Mạnh Sơn,
Trang 20khoảng 70%, trong khi ở Đông Nam Bộ vào khoảng từ 21% - 42% tổng sản lượng khai thác Kết quả phân tích hiệu quả hoạt động của đội tàu lưới k o đáy ở khu vực Tây Nam Bộ cho thấy, tỷ lệ nhóm cá tạp trong tổng sản lượng đánh bắt là khá cao và có xu hướng tăng lên trong những năm vừa qua Điều
đó đồng nghĩa với số lượng cá và tôm con bị khai thác bằng lưới k o đôi ngày càng tăng [69]
Năm 2006, đề tài Nghi n cứu các giải pháp k thuật và kinh tế để
chuyển đổi nghề te xiệp sang nghề khác không xâm hại nguồn lợi thủy sản
do Nguyễn Chu Hồi làm chủ nhiệm được thực hiện Kết quả chứng minh nghề te xiệp là loại hình nghề có tính sát hại nguồn lợi rất cao, cần phải thay thế bằng loại hình nghề khác ít xâm hại nguồn lợi thủy sản, phù hợp với trình độ của ngư dân [23]
Trước nguy cơ nguồn lợi hải sản, hệ sinh thái bị tàn phá nghiêm trọng bởi các nghề khai thác có tính chọn lọc thấp như te xiệp, lưới k o, lưới rùng
và các phương pháp khai thác hủy diệt khác như xung điện, chất nổ, chất độc Một số giải pháp về khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi hải sản được áp dụng trên thế giới cũng được vận dụng ở Việt Nam như:
a Giảm số lượng tàu thuyền khai thác và chuyển đổi nghề nghiệp:
Không cho đóng mới tàu thuyền đánh cá có công suất nhỏ hơn 20 CV
Sở thủy sản Khánh Hòa chỉ thị nghiêm cấm các nghề lưới k o, te xiệp điện trong đầm Nha Phu và khuyến khích ngư dân chuyển đổi sang nghề nuôi các đối tượng đầu tư ít vốn, có đầu ra ổn định hoặc chuyển sang nghề lưới
rê và nghề lặn kết hợp lưới mành bắt tôm Hùm giống phục vụ nghề nuôi tôm Hùm lồng [47]
Hỗ trợ vốn để chuyển đổi nghề nghiệp từ đánh bắt ven bờ sang đánh bắt xa bờ, chuyển nghề te xiệp sang làm nghề lưới rê ít sát hại nguồn lợi hơn
Trang 21và mô hình này đã được thử nghiệm ở Nghệ An, Quảng Bình, Cà Mau; chuyển sang nuôi trồng thủy sản vv…[70]
b Xây dựng các khu bảo tồn biển và rạn nhân tạo:
Chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây Việt Nam đã thiết lập thêm nhiều khu bảo tồn biển và vườn quốc gia nhằm duy trì đa dạng sinh học như: Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau (2003), khu bảo tồn biển Hòn Mun - Nha Trang, khu bảo tồn biển Rạn Trào nằm trong vịnh Văn Phong - Khánh Hòa (2000) và khu bảo tồn biển Phú Quốc - Kiên Giang (2008) vv [2]
Để bổ sung nguồn tôm giống, trong thời gian gần đây một số địa phương đã thả tôm giống ra biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận vv Tuy nhiên do hạn chế về nhiều mặt nên hiện tại vẫn chưa có căn cứ đánh giá hiệu quả của việc thả giống [9]
c Cấm có thời hạn và cấm hoàn toàn một số loại nghề:
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài “ Điều tra đánh giá nguồn lợi hải sản gần bờ, tiếp tục nghiên cứu khu vực cấm và hạn chế đánh bắt để bảo vệ nguồn lợi hải sản”, Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn) đã ban hành Thông tư số 01/2002/TT-BTS ngày 28/4/2000 để sửa đổi, bổ sung một số điểm trong Thông tư số 04 - TS/TT ngày 30/8/1990 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh ngày 25/4/1989 của HĐNN
và Nghị định 195 - HĐBT ngày 2/6/1990 của HĐBT về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Trong Thông tư này có quy định cấm đánh bắt có thời hạn tại 8 vùng biển của nước ta [12]
Kiên Giang là tỉnh có đội tàu đánh cá và sản lượng khai thác hải sản lớn nhất cả nước Trên cơ sở kết quả khảo sát khu vực cấm khai thác thường xuyên và hạn chế khai thác [65], Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ra
Trang 22Quyết định 1236/QĐ-UB ngày 26/9/1999 cấm các loại nghề te, xiệp, bóng mực, lưới k o ven bờ hoạt động tại vùng biển Kiên Giang [67]
Ngày 1/6/1994 UBND tỉnh Khánh Hòa ra chỉ thị 26 CT-UB nghiêm cấm việc sử dụng các nghề lưới k o và xiệp điện trong đầm Nha Phu, đồng thời tạo sinh kế cho ngư dân làm nghề này chuyển sang nuôi sò huyết, vẹm xanh, ngao vv…[47]
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÀ MAU
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội
Đ c điểm đ a h nh, kh hậu, thủ v n [1]
Vị trí địa lý, diện tích: Cà Mau là một bán đảo, phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Tây giáp biển Tây (vịnh Thái Lan), phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông Diện tích toàn tỉnh rộng 5.208,8 km2, bằng khoảng 13,1% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và 1,57% diện tích cả nước VQG mũi Cà Mau nằm ở tọa độ 8032’ đến 8049’ vĩ
độ bắc và từ 104040’ đến 1040
55’ kinh độ đông với tổng diện tích 41.862 ha, trong đó đất liền là 15.262 ha (gồm đất rừng và đất trống) nằm trên địa phận hành chính của 3 xã: xã Đất Mũi, xã Viên An (huyện Ngọc Hiển), xã Đất Mới (huyện Năm Căn), phần bảo tồn ven biển là 26.600 ha - là bãi bồi Tây Ngọc Hiển (còn gọi là Bãi bồi) được tính từ m p biển phía tây ra biển
Địa hình: Cà Mau là vùng đất mới phù sa ven biển, đồng bằng thuần nhất, địa hình thấp, trũng được bao bọc và phân cách bởi mạng lưới kênh rạch chằng chịt, có bờ biển dài khoảng 225 km (bờ phía Đông 110 km, bờ phía Tây 115 km), bãi biển rộng cùng với các bãi ngang bị chia cắt bởi hàng chục sông, kênh rạch lớn nhỏ Bãi bồi, nơi có hai cửa sông lớn nhất Cà Mau đổ ra biển là cửa sông Cửa Lớn và cửa Bảy Háp, chúng có vai trò quan trọng trong giao thông, thương mại và đặc biệt trong nghề khai thác thủy hải sản
Trang 23Sông ngòi: Sông ngòi Cà Mau có mật độ dày đặc, nối với nhau thành mạng lưới chằng chịt, với tổng chiều dài khoảng 7000 km và tổng diện tích mặt nước là 15.756 ha, có các sông lớn đổ ra biển Đông và biển Tây như: sông Bảy Háp với chiều dài hơn 50 km nối sông Gành Hào với cửa Bảy Háp; sông Mương Điều từ Gành Hào chảy qua Đầm Dơi đổ vào sông Cửa Lớn với chiều dài 45 km vv
Khí hậu: Cà Mau nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Bắc bán cầu và gần xích đạo, mưa nhiều, độ ẩm cao, nhưng cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của biển
và rừng nên có pha một phần khí hậu Hải dương, với nền nhiệt độ cao tương đối ổn định Trong năm có 2 mùa r rệt là mùa mưa và mùa khô
Nhiệt độ: Cà Mau có nền nhiệt cao và ổn định Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm đạt 26,60C, giá trị trung bình của giới hạn cực đại là 31,20C và cực tiểu là 23,30C Tổng nhiệt độ cả năm khoảng 9.5000
C
Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình từ 73% đến 89% Trong các tháng mùa khô (tháng 12 đến tháng 4) độ ẩm tương đối của không khí thấp, đạt 75% Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11), độ ẩm tương đối của không khí
có khi vượt quá 89%
Nắng - bức xạ mặt trời: Tổng số giờ chiếu sáng trung bình/năm từ 2.200 - 2.600 giờ nắng Tháng có số giờ nắng nhiều nhất là vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau), số giờ chiếu sáng đạt trên 240 giờ nắng/tháng, thấp nhất vào tháng 9 là 58 giờ nắng Tổng lượng bức xạ trung bình >100kcal/cm2/năm và > 8 kcal/cm2
/tháng
Gió, bão: Cà Mau chịu ảnh hưởng chính bởi chế độ gió mùa và gió biển Hàng năm có 2 mùa gió chính là gió Đông Bắc và gió Tây Nam Mùa gió Đông Bắc xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau - tức trùng với mùa
Trang 24mưa Mùa mưa thường có gió xoáy và giông (hàng năm Cà Mau có từ 50 - 90 ngày có giông, thời gian hay có giông nhất là tháng 5 và tháng 8) Ngoài ra,
do có biển bao bọc nên gió địa phương ở đây mang tính chất gió biển - gió đất thổi theo chu kỳ ngày đêm với cường độ thấp
Cà Mau nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung là khu vực rất ít khi có bão Trong 55 năm quan sát chỉ có 9 cơn bão trực tiếp đổ vào biển Nam Bộ, trong đó Cà Mau bị ảnh hưởng trực tiếp là cơn bão số 5 năm 1997, còn lại chỉ ảnh hưởng mang tính chất gián tiếp Thời kỳ bão hoạt động trên biển Nam Bộ rất muộn, chủ yếu là vào tháng 11 và 12
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ nước biển trung bình vào mùa khô từ 25,40
C
- 26,50C và vào mùa mưa là 270
C - 280C Do có độ sâu nhỏ nên nhiệt độ khá đồng đều giữa tầng mặt và tầng đáy Vào cuối mùa khô, nhiệt độ tầng mặt dao động trong khoảng 290
C - 300C, cá biệt có nơi tới 310C và thấp nhất là 28,50
C
Độ mặn: Độ mặn nước biển vùng biển Cà Mau thay đổi khá phức tạp
Độ mặn thay đổi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước cửa sông, động lực là
Trang 25hoàn lưu nước biển Vùng ven bờ, độ mặn dao động từ 27 - 28‰, ở các khu vực càng gần bờ và gần các cửa sông độ muối giảm dần Vùng khơi, độ mặn
có thể lên tới 33,5‰ vào tháng 2 và tháng 3, thấp nhất vào tháng 8 và tháng 9
Dòng chảy: Dòng chảy vùng biển Đông Cà Mau luôn thay đổi cả hướng lẫn tốc độ, với 2 dòng hải lưu chính là dòng chảy mùa hè và dòng chảy mùa đông Tốc độ dòng chảy tương đối nhỏ (10 - 15cm/s) Ở vùng cửa sông, vào mùa mưa tốc độ dòng chảy tương đối mạnh (20 - 30m/s) Biển Tây, dòng chảy mang tính chất cục bộ và có tốc độ yếu hơn
Thủy triều: Sông ngòi thường đóng vai trò của những kênh dẫn triều đưa nước biển xâm nhập ngược dòng làm nhiễm mặn gần toàn bộ sông, rạch của tỉnh Dao động mực nước trên toàn bộ hệ thống sông, rạch tỉnh Cà Mau
kể cả những điểm nằm sâu trong nội địa chủ yếu do lan truyền từ biển Đông, biển Tây và sự tương tác giao thoa giữa chế độ bán nhật triều không đều biển Đông với chế độ nhật triều không đều biển Tây đã tạo nên tính đa dạng, phức tạp trong đặc điểm thủy triều Phía biển Đông có chế độ bán nhật triều với biên độ triều khá lớn, vào các ngày triều cường, biên độ triều đạt 3 - 3,5 m, vào các ngày triều k m biên độ triều cũng đạt từ 1,8 - 2,2 m Phía biển Tây,
có chế độ nhật triều không đều, biên độ triều thấp, cực đại chỉ đạt khoảng 1,2
m, vào kỳ triều k m biên độ chỉ còn 0,6 m
Tài ngu ên rừng [50]:
Rừng Cà Mau là rừng ngập mặn và rừng tràm nước ngọt, rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển các loài thuỷ sản nước lợ, nước mặn và nước ngọt Diện tích rừng chiếm khoảng 11.000 km2, riêng khu vực Bãi bồi - VQG mũi Cà Mau là rừng ngập mặn, chủng loại cây rừng chủ yếu là mắm và hỗn giao với diện tích khoảng 8.569 ha, trong đó rừng tự nhiên là 4.196 ha, rừng trồng là 4.373 ha Rừng mắm tự nhiên phân bố tập trung ven bờ biển Tây (khu
Trang 26cây/ha), cây sinh trưởng tốt, đa số có đường kính nhỏ hơn 3 cm, chúng tập trung thành từng giải với chiều rộng 5 - 50 m, vào sâu hơn, sau giải rừng mắm non là giải rừng mắm già tuổi hơn, có đường kính khoảng 4 - 10 cm, với độ tán che từ 0,6 - 0,8 m, chiều cao rừng 4 - 10 m Một vài nơi ở Bãi bồi có sự hỗn giao tạo nên rừng mắm - đước
Điều kiện xã hội [7]:
Đơn vị hành chính: Cà Mau có 09 đơn vị hành chính huyện, thành phố, bao gồm: Thành phố Cà Mau, huyện Cái Nước, huyện Đầm Dơi, huyện Ngọc Hiển, huyện Năm Căn, huyện Thới Bình, huyện U Minh, huyện Trần Văn Thời và huyện Phú Tân VQG mũi Cà Mau nằm trên địa phận hành chính của 03 xã: xã Đất Mới (huyện Năm Căn), xã Đất Mũi và
xã Viên An (huyện Ngọc Hiển)
Dân số: Dân số Cà Mau năm 2008 ước đạt khoảng 1.200.000 người, mật độ trung bình là 230 người/km2 Tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên là 1,86% Dân cư sống rải rác ven sông, kênh, rạch; sống đông đúc ở các thị tứ, thị trấn và đông nhất ở thành phố Cà Mau (797 người/1km2
)
Diện tích và cư dân 03 xã nằm trong VQG mũi Cà Mau cụ thể như sau:
Xã Đất Mũi có diện tích 15.025 ha với 9 ấp, số hộ dân là 3.240 hộ; Xã Viên
An có diện tích 13.640 ha với 18 ấp, số hộ dân là 3.320 hộ; Xã Đất Mới có diện tích 9.575 ha với 11 ấp, số hộ dân là 2.058 hộ Dân cư của xã Nguyễn Việt Khái (là xã vùng ven VQG mũi Cà Mau) có diện tích 10.853 ha, số hộ dân là 3.836 hộ
Về thành phần dân tộc: Cư trú trên địa bàn Cà Mau có 20 dân tộc, người Kinh chiếm đa số với tỷ lệ khoảng 97,16%, người Khơ Me chiếm 1,86%, còn lại là người Hoa và các dân tộc khác
Đời sống kinh tế, văn hoá xã hội:
Trang 27Kinh tế: Thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau, hàng năm đóng góp ngân sách gần 40% GDP toàn tỉnh và đã tạo công ăn việc làm cho gần 400 nghìn lao động (khoảng 30% tổng dân số toàn tỉnh và 45,5% người trong độ tuổi lao động) bao gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến [22] Khảo sát ở VQG mũi Cà Mau, có khoảng 90% các hộ trong vùng sống dựa vào việc khai thác và nuôi trồng thủy hải sản Tuy nhiên cuộc sống của phần lớn các hộ dân ở VQG mũi Cà Mau còn nghèo, vì đây là khu vực cấm tất cả các hoạt động khai thác thủy sản, nguồn thu nhập hợp pháp là nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là tôm và cua) và đánh bắt xa bờ Tuy nhiên cùng chung tình trạng với ngư dân nuôi trồng thủy sản trong toàn tỉnh, việc nuôi tôm, cua không được thuận lợi, liên tục bị mất mùa, trong khi đánh bắt
xa bờ đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế để mua sắm tàu thuyền, ngư lưới cụ thì họ lại không có khả năng Để kiếm sống họ làm thêm một số nghề dù biết đó là những nghề cấm ở trong VQG, như: đốt than, đẩy te, đóng đáy, đăng, đặt lú, lưới ba màng vv…nhưng thu nhập cũng chỉ đạt khoảng 13,5-13,8 triệu đồng/hộ/năm, tức khoảng 2,7-3,0 triệu đồng/người/năm (bình quân thu nhập trên hai trăm ngàn đồng/tháng) [70]
Văn hóa xã hội: Dân trí Cà Mau nói chung còn thấp so với mặt bằng chung toàn quốc Hiện có 76,3% số người lao động ở Cà Mau chưa qua đào tạo, 23,7% được đào tạo, cán bộ có trình độ sau đại học rất ít (khoảng 200 người tập trung chủ yếu trong ngành giáo dục và y tế)
Dân trí của cư dân sống ở VQG mũi Cà Mau khá thấp, tỷ lệ người dân có trình độ trung học phổ thông trở lên rất ít Năm học 2010 - 2011 huyện Ngọc Hiển mới có 01 trường trung học phổ thông đi vào hoạt động
Vì thế từ trước đến nay con em người dân nơi đây muốn theo học trung học phổ thông đều phải qua học nhờ các huyện khác hay thành phố Cà Mau
Trang 28Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản cản trở sự nâng cao dân trí cho cư dân ở VQG mũi Cà Mau
Về y tế: Điều kiện Y tế trên thành phố Cà Mau khá tốt, tuy nhiên luôn trong tình trạng quá tải, do y tế ở cấp huyện, xã, ấp còn nhiều khó khăn về nhân lực, vật lực, tài lực vv…hầu hết các xã chưa có bác sĩ điều trị, nên một số bệnh thường gặp cũng không chữa trị được phải chuyển lên tuyến trên Về mặt chăm sóc sức khỏe, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2007 là 20,4%
Đường giao thông: 8/9 huyện có đường bộ liên huyện (trừ huyện Ngọc Hiển) Thành phố Cà Mau và trung tâm các huyện giao thông chủ yếu là đường bộ, còn từ huyện đến xã, ấp giao thông chủ yếu là đường thủy gây khó khăn về giao thương cho người dân sống ở đây
Điện lưới và các phương tiện thông tin truyền thông: Điện thắp sáng được k o đến từng hộ gia đình, mỗi xã có 01 bưu điện cung cấp cơ bản các dịch vụ Internet, báo chí, điện thoại (đa số người dân ở khu vực này sử dụng điện thoại di động)
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về tôm giống
Nghiên cứu về thành phần loài, phân bố và mùa vụ sinh sản của nguồn lợi tôm giống ở Cà Mau được bắt đầu từ thập niên 80, thế kỷ XX Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu tiêu biểu về tôm giống như sau:
Đoàn Văn Đẩu (1984) đã xác định trữ lượng bãi tôm giống ở cửa Ông Trang, Minh Hải (cũ) và kết luận hàng năm bãi tôm này đã bị khai thác phí
phạm 8 tỷ tôm giống các loại, trong đó khoảng 54% là tôm Penaeus
merguiensis và Penaeus indicus [20]
Năm 1985, theo chương trình điều tra 60.02 ở vùng biển Minh Hải còn khoảng 5 tỷ tôm giống (Báo cáo tổng kết của Đoàn Văn Đẩu, 1985) [21]
Trang 29Tôm giống thuộc họ Penaeidae xuất hiện nhiều ở vùng Bãi bồi đã được nhân dân thu vào đầm để nuôi thành tôm thịt, chủ yếu là hai loài tôm
Penaeus merguiensis và Penaeus indicus Tôm Sú Penaeus monodon cũng
có trong vùng nhưng số lượng ít Ấu thể tôm thu được bình quân mỗi lưới
là 31 con/lưới vào mùa mưa và 61 con/lưới vào mùa khô Ban đêm và lúc triều xuống vớt được nhiều hơn Mật độ ấu trùng tôm biến đổi theo không gian có quy luật, tại Bãi bồi có số lượng cao, 67 cá thể/lưới, giảm dần tại Ông Trang là 14 cá thể/lưới Từ số liệu ấu thể tôm trên đơn vị thể tích nước, ước tính trữ lượng tôm giống đạt khoảng 2 tỷ con (Lê Trọng Phấn & Nguyễn Tác An, 1994) [39]
Phạm Văn Miên, Vũ Ngọc Long (1995) nghiên cứu tôm giống đi vào trong các kênh rạch Đầm Dơi (Minh Hải) cho thấy mật độ tôm trung bình dao động từ 0,002 - 0,165 con/m3
nước [35]
Năm 1998, báo cáo khoa học đề tài Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lý
hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệ nguồn lợi và phát triển nuôi trồng thuỷ sản của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tùng, Trương Thanh Tuấn và Trần Quốc Bảo, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thuỷ sản II cho biết: thành phần loài tôm ở cửa sông Ông Đốc bắt gặp 18 loài thuộc 5 họ, trong đó họ Penaeidae chiếm 50% số loài; tại cửa sông Cửa lớn bắt gặp 13 loài thuộc 5 họ; sản lượng khai thác ở cửa sông Ông Đốc là 1,4 kg/ha, cửa sông Cửa Lớn là 0,5 kg/ha [64]
Năm 2004, khoa Thủy sản Đại học Cần Thơ phối hợp với Chi Cục Bảo
vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau đã thực hiện đề tài Điều tra nguồn lợi tôm, cua,
cá vùng bãi bồi Tây Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Kết quả xác định được 09 loài tôm giống và 01 loài cua giống Ước lượng tổng trữ lượng tôm, cua giống các loại đạt trung bình là 5.966,3 triệu cá thể Trữ lượng cao nhất là 11.684,4 triệu
Trang 30cá thể vào tháng 4, thấp nhất là 197,1 triệu cá thể vào tháng 9 Tiếc là số liệu không tách biệt giữa tôm và cua [16]
Trang 311.3.3 Ảnh hưởng của một số loại nghề khai thác đến tôm con và một số giải pháp bảo vệ
Việc nghiên cứu hiện trạng hoạt động của một số loại nghề khai thác thủy sản có ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản ở Cà Mau được tiến hành khá sớm Nhằm bảo vệ nguồn lợi tôm ở vùng biển Minh Hải và miền Nam nước
ta, Bùi Hữu Kỷ (1980) đã xác định kích thước mắt lưới tối ưu ở đụt lưới là 2a=16mm (thay vì 2a = 8mm như ngư dân thường dùng) [30]
Năm 1983, Nguyễn Công Con đã có thông báo về thành phần tôm con trong sản lượng đánh bắt của nghề xiệp, đáy sông, đáy biển ở khu vực sông Ông Trang, huyện Năm Căn, tỉnh Minh Hải (nay là huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) [11]
Năm 2005, Phân Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản phía Nam thống
kê theo báo cáo của các địa phương, cả nước có 1.640 tàu thuyền nghề te xiệp, trong đó nhiều nhất là các tỉnh Bắc Trung Bộ có 898 tàu, điển hình là tỉnh Quảng Bình với 469 tàu, vùng Đông - Tây Nam Bộ có 575 tàu, trong đó nhiều nhất là Cà Mau với 541 tàu [38]
Một số giải pháp về khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản hợp lý được thực hiện ở Cà Mau gồm:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc chuyển khu bảo tồn thiên nhiên Đất Mũi thành VQG mũi Cà Mau gồm cả diện tích khu vực Bãi bồi và xây dựng khu vực này thành khu bảo tồn biển, Ủy bân nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành nhiều văn bản cấm các nghề khai thác trong khu vực 26.600 ha Bãi bồi [37]
Phân Viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam (2005), đã tiến hành Nghiên cứu các giải pháp kĩ thuật và kinh tế để chuyển đổi nghề te,
Trang 32xiệp sang nghề khác không xâm hại đến nguồn lợi Thủy sản trên vùng biển tỉnh Cà Mau [70]
1.4 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ HẠN CHẾ
1.4.1 Một số tồn tại và hạn chế
Việc đánh giá hiện trạng ATT-TC là lĩnh vực nghiên cứu mang tính thực tiễn và phục vụ trực tiếp cho các nhà quản lý, làm cơ sở cho việc dự báo, quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản Điển hình như Australia, Thailand, việc đánh giá đúng mức hiện trạng ATT-TC qua việc tổ chức điều tra nghiên cứu định kỳ về ATT-TC, kết quả đã giúp cho việc điều tiết nghề nuôi, tổ chức khai thác hợp lý và bảo vệ khá tốt nguồn tài nguyên sinh vật biển nói chung và nguồn giống thuỷ sản nói riêng ở những nước này
Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc nghiên cứu ATT-TC chưa được quan tâm đúng mức, các công trình nghiên cứu chưa đồng bộ, không theo chuỗi thời gian, còn rời rạc Chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến thành phần loài và sinh khối ATT-TC ở tầng đáy, nghiên cứu sự di chuyển của tôm con theo nhịp điệu ngày - đêm vv còn rất hạn chế Chưa xác định được tác động của môi trường và sự ảnh hưởng của một số loại nghề khai thác thủy sản có tính sát hại nguồn lợi đến ATT-TC ở vùng nước ven bờ
1.4.2 Nguyên nhân của tồn tại và hạn chế
Mặc dù khoa học và kỹ thuật ngày nay đã rất phát triển, nhưng khó khăn trong nghiên cứu ATT-TC không phải là không còn bởi một số
lý do sau:
1) Hạn chế về thu thập số liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 332) Đối tượng nghiên cứu có kích thước nhỏ, phân tích mẫu mất rất nhiều thời gian và đòi hỏi sự kiên trì cao của người nghiên cứu, đặc biệt khó nhận biết các loài khi đã qua xử lý bằng formol hoặc cồn
3) Tài liệu định loại ATT-TC ít, khó tìm kiếm
4) Kinh phí giành cho nghiên cứu về ATT-TC hạn hẹp
5) Thiếu cán bộ chuyên sâu về trứng cá, cá con (chuyên gia về phân loại ATT-TC ở Việt Nam không có nhiều)
6) Trong quá trình điều tra hoạt động của một số loại nghề hủy diệt nguồn lợi thường gặp nhiều khó khăn do ngư dân và chính quyền địa phương không nhiệt tình hợp tác; bị áp lực về sinh kế của ngư dân nên các giải pháp đưa ra k m tính khả thi
Trang 34Chương 2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tôm giống (bao gồm TC) của các loài tôm có giá trị kinh tế và xuất khẩu thuộc giống Penaeus Fabricius, 1789 và giống Metapenaeus Wood-Mason et Alcock, 1891 thuộc họ Penaeidae
ATT-2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển, diện tích khoảng 240 km2
gồm
6 trạm thu mẫu (bảng 2.1 và hình 2.1)
Hình 2.1: rạm vị nghi n cứu v ng c a sông bãi bồi ây Ngọc Hiển
Trang 35Vùng biển ven bờ Cà Mau, diện tích khoảng 25690 km2 gồm 25 trạm thu mẫu (bảng 2.1 và hình 2.2)
ảng 2.1 ị trí các trạm nghi n cứu v ng biển ven bờ Cà Mau
và v ng c a sông bãi bồi ây Ngọc Hiển
Ghi chú: số 1 - 25 là trạm khảo sát ở biển ven bờ Cà Mau, trong đó
trạm đánh dấu (*) là những trạm khảo sát theo nhịp điệu ngày đ m số 1-6
Trang 36Hình 2.2: Hệ thống trạm vị nghi n cứu v ng biển ven bờ Cà Mau
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu tiến hành từ tháng 11/2006 đến tháng 5/2009, cụ thể như sau:
Từ tháng 11/2006 đến tháng 6/2007: lược khảo tài liệu, thu thập, phân tích, xử lý các số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Từ tháng 8/2007 đến tháng 5/2009 tiến hành khảo sát mẫu tôm:
* Tại vùng cửa sông khảo sát một lần/tháng bằng các loại lưới thu ATT-TC, lưới te và lưới đáy Tổng cộng là 14 đợt khảo sát
* Tại vùng biển ven bờ trong phạm vi có độ sâu 30m nước trở vào
bờ, đã tiến hành khảo sát 06 đợt vào các tháng: tháng 8, 11/2007, tháng
3, 4, 5, 8/2008
Trang 372.2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Tàu thuyền và thiết bị nghiên cứu
Ngu ên tắc sử dụng: Tàu và các thiết bị thu mẫu không thay đổi trong
suốt quá trình điều tra
Tàu điều tra: Khảo sát mẫu ở vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển sử
dụng tàu nhỏ hoạt động trong nghề te có công suất máy 15CV, khảo sát mẫu vùng ven biển sử dụng tàu có công suất máy là 200CV
Thiết b thu mẫu ATT-TC
Lưới thu mẫu ATT-TC:
* Lưới k o tầng mặt: Lưới được cấu tạo bằng sợi ni-lon, có kích thước mắt lưới 450μm Miệng lưới hình chữ nhật, chiều dài 1m, chiều rộng 0,5m Lưới được thiết kế hình chóp nón, chiều dài tính từ miệng lưới tới ống đáy là 3m Lưới được gắn phao để khi k o miệng lưới luôn
ở vị trí 0-0,5m
* Lưới k o th ng đứng: Lưới có miệng hình tròn, đường kính 0,8m Chiều dài của lưới là 2m Vải lưới có cấu tạo giống như lưới k o tầng mặt Lưới được đeo một quả nặng 6 - 7 kg để giữ cho lưới ổn định khi thao tác
* Lưới k o tầng đáy: Miệng lưới có hình chữ nhật, chiều dài 1,0 m, chiều rộng 0,75m, kích thước mắt lưới có cạnh là 1mm Khung lưới được thiết kế bằng sắt chống gỉ, chiều ngang ván trượt 0,2m, chiều dài 1,0m, cách đáy 0,2m
Lưới thu mẫu tôm con và các loài thủy sản khác:
* Lưới te: Lưới te có dạng túi, hình nón, thường được làm bằng vật liệu
PE Kích thước mắt lưới 2a = 0,5 - 1 cm và giảm dần từ cánh tới đụt (đụt còn
Trang 38a = 5 mm) Khi k o lưới miệng te có chiều rộng 8 m, chiều cao 3,5 m và chiều dài của lưới là 15 m
* Lưới đáy: Có dạng hình chóp, được đan bằng nilon, lưới dài 30 - 40
m hay 60 - 100 m, đường kính miệng đáy Ø = 15 - 20 m hay Ø = 30 - 40 m, kích thước mắt lưới giảm dần từ phía miệng xuống chóp đáy (miệng : 2a = 60,
50, 40; chóp đáy: 2a =10 - 16 mm)
2.2.2 Nguồn số liệu s dụng trong luận án
Toàn bộ tư liệu thu thập được từ 6 chuyến khảo sát vùng biển ven bờ,
14 chuyến khảo sát vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển Cụ thể: 84 mẻ lưới ATT-TC, 17 mẻ lưới te (trong đó 3 mẻ lưới có sử dụng điện) và 14 mẻ lưới đáy tại vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển (tác giả thực hiện độc lập) và
180 mẻ lưới khảo sát (trong đó có 36 mẻ lưới khảo sát theo nhịp điệu ngày - đêm) ở vùng biển ven bờ Cà Mau (số liệu mẫu ở vùng biển ven bờ có được là
do tác giả đã tham gia khảo sát mẫu cùng với đề tài Đánh giá hiện trạng và đề
xuất các biện pháp bảo vệ trứng cá, cá con và ấu tr ng tôm, tôm con ở v ng ven bờ Đông ây Nam ộ do Phạm Quốc Huy làm chủ nhiệm đề tài Đề tài
này đã được Bộ Nông nghiệp & phát triển Nông thôn nghiệm thu năm 2008)
Các nguồn tài liệu khác đã công bố liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Nhật ký quan sát thực địa và 100 phiếu phỏng vấn chuyên viên, kỹ sư hải sản, lãnh đạo chính quyền các cấp, 150 phiếu phỏng vấn ngư dân địa phương và người buôn bán ngư cụ khai thác thủy sản
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế trạm điều tra:
Vùng cửa sông : Khảo sát trong khu vực bãi bồi Tây Ngọc Hiển với 240km2 mặt nước, tại 6 điểm (hình 2.1)
Trang 39Vùng biển ven bờ: Đề tài tiến hành khảo sát ở khu vực có độ sâu <30m nước, được chia thành 05 mặt cắt, mỗi mặt cắt cách nhau 15 hải lý với tổng
25 trạm, trong đó 04 trạm thu mẫu theo nhịp điệu thời gian (4 giờ thu mẫu một lần) Các trạm này được khảo sát 06 lần vào các tháng 8, 11/2007 và tháng 3, 4, 5, 8/2008 (bảng 2.1 và hình 2.2)
Khảo sát nghề đáy sông được thực hiện cố định tại một điểm, nơi chịu ảnh hưởng nhiều bởi nguồn nước từ khu vực cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển
đổ vào Tổng cộng có 14 mẻ đáy được khảo sát
Nghề te chỉ được khảo sát ngẫu nhiên 01 mẻ/đợt khảo sát - vì đây là khu vực cấm không được ph p khai thác Tổng cộng có 17 mẻ khảo sát, trong
đó có 3 mẻ te điện
Phương pháp thu mẫu ATT-TC:
Vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển: Do mực nước nông (trung bình
độ sâu khoảng 3m), nên khi thu mẫu không thu theo các tầng nước mà sử dụng lưới k o đáy và lưới te để thu mẫu ATT-TC Lưới được cố định vào mạn tàu, miệng lưới có gắn máy đo dòng chảy Flowermeter nhằm xác định được lượng nước qua lưới, dây điện nối với bình ắc quy dòng xuống lưới te cho những mẻ lưới te có sử dụng điện trong lúc hoạt động Cho tàu chạy theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ Thời gian thu mẫu tính từ khi lưới bắt đầu ổn định cho tới khi bắt đầu vớt lên khoảng 5 phút
Vùng biển ven bờ:
* Lưới k o tầng mặt: Thu mẫu ở tầng nước 0,5 - 0m Khi thu mẫu, lưới được cố định vào mạn tàu, cho tàu chạy theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ Thời gian vớt mẫu tính từ khi lưới bắt đầu ổn định cho tới khi bắt đầu vớt lên khoảng 5 phút
Trang 40* Lưới k o th ng đứng: Khi thu mẫu, lưới được thả theo phương th ng đứng, sao cho quả nặng của lưới vừa chạm đáy, tốc độ k o khoảng 1m/giây
* Lưới k o tầng đáy: Dây giềng lưới qu t trên bề mặt đáy là 1,5m - 2m Lưới được thả ở phía sau tàu, chiều dài dây thả tùy thuộc vào độ sâu nơi thu mẫu Cho tàu chạy theo hướng ngược sóng, với tốc độ khoảng 2 hải lý/giờ Thời gian vớt mẫu tính từ khi lưới bắt đầu ổn định cho tới khi bắt đầu vớt lên khoảng 5 phút
Máy đo lượng nước qua lưới đều được gắn vào các miệng lưới nói trên khi thu mẫu
Thu mẫu theo nhịp điệu ngày - đêm:
* Vùng cửa sông bãi bồi Tây Ngọc Hiển: Không đặt trạm vị thu mẫu theo nhịp điệu ngày - đêm
* Vùng biển ven bờ: Đặt 4 trạm vị thu mẫu theo nhịp điệu ngày - đêm Việc thu mẫu được tiến hành liên tục trong 24 giờ, với 04 giờ thu mẫu một lần Cách thu mẫu tiến hành như cách đã mô tả thu mẫu ở phần trên
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
* Mẫu khảo sát được rửa sạch bùn đất rồi đổ toàn bộ vào lọ nhựa có dung tích 1 lít, bảo quản trong dung dịch formaldehyd 5-7% và sau đó mang
về phòng thí nghiệm phân tích
* Tại phòng thí nghiệm, ATT-TC được nhặt ra khỏi các sinh vật phù du
và rác bẩn khác, cho vào ống nghiệm nút bằng bông thấm nước và lưu giữ trong một bình có chứa formaldehyd 5-7% (bảo đảm mẫu không bị khô và hư hỏng) Tất cả các mẫu đều được gắn nhãn để tránh nhầm lẫn giữa chúng, gây sai lệch kết quả nghiên cứu