Những đặc trưng ngôn ngữ học xã hội của hiện tượng song ngữ tại An Giang (trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt - Hoa)
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO VIệN KHOA HọC Xã HộI VIệT NAM
VIệN NGôN NGữ HọC -oo0oo -
HOàNG QuốC
Những đặc tr−ng ngôn ngữ học x
hội Của hiện t−ợng song ngữ TạI AN
GIANG (trên cứ liệu cảnh huống song ngữ Việt - Hoa)
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học ứng dụng
Tóm tắt Luận án Tiến sĩ NGÔN Ngữ HọC
Hà Nội – 2009
Trang 2Luận án được hoàn thành tại:
VIệN NGÔN NGữ HọC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Văn Khang
TS Phạm Tất Thắng Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Ngọc SAN
Phản biện 2: GS.TS Trần Trí DõI
Phản biện 3: GS.TS Nguyễn Thiện GIáP
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà
nước họp tại Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam
Vào lúc: …giờ……ngày tháng……năm 2009
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
1 THƯ VIệN QuốC GIA
2 THƯ VIệN VIệN NGÔN NGữ HọC
CáC CÔNG Trình Của Tác Giả Đ CÔNG Bố LIÊN QUAN Đến Luận áN
ngữ Hán Việt”, T/c Ngôn ngữ & Đời sống, (6), tr.11- 12
trường tiểu học cho học sinh Khmer huyện Tri Tôn tỉnh An Giang”, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học nâng cao chất lượng
đào tạo và bồi dưỡng giáo viên ngữ văn THPT ở trường Đại học Sư phạm, Trường ĐHSP Huế, (Huế, tháng 6/2005), tr.115
- 120
ngữ của người Hoa trên địa bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang”, trong Ngữ học trẻ 2005 Hội Ngôn ngữ học Việt Nam
- Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế, Hà Nội, tr.186 -
188
của người Hoa ở Châu Đốc (An Giang)”, trong Ngữ học trẻ
2006 Hội Ngôn ngữ học Việt Nam - Viện Đại học mở Hà Nội, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.235 -239
song ngữ Việt - Hoa của người Hoa ở An Giang, T/c Ngôn ngữ (10), tr.66-70
và phương ngữ Hán”, trong Hội thảo khoa học đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Ngữ văn - Ngoại ngữ trong trường đại học, Đại học Cửu Long, tháng 05/2008, tr.96 - 101
Trang 3PHần mở Đầu
1 Lí do lựa chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Nhờ
chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam được
thể hiện ở Hiến pháp “bình đẳng dân tộc trong đó có bình đẳng về
ngôn ngữ”, tiếng Việt được bảo vệ và phát triển trở thành ngôn ngữ
giao tiếp chung của cả nước, các ngôn ngữ của 53 dân tộc thiểu số
được bảo tồn và phát huy, thực hiện chức năng là công cụ giao tiếp
trong nội bộ của dân tộc mình Hàng loạt các vấn đề về ngôn ngữ dân
tộc thiểu số đã được quan tâm nghiên cứu và đạt được những thành
tựu đáng kể Tuy nhiên, đáng tiếc là, tiếng Hoa với tư cách là ngôn
ngữ dân tộc thiểu số của dân tộc Hoa ở Việt Nam thì chưa có công
trình nghiên cứu đáng kể nào Đây chính là lí do chúng tôi chọn đề tài
này Và, để có thể tập trung khảo sát sâu hơn, chúng tôi chọn địa bàn
An Giang - nơi có người Hoa sinh sống làm đối tượng khảo sát
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua khảo sát cảnh huống song ngữ Việt - Hoa ở An
Giang, chúng tôi muốn tìm hiểu trạng thái song ngữ xã hội của người
Hoa ở Việt Nam, như sự phân bố chức năng giữa tiếng Việt với tiếng
Hoa (cũng như với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác) Để đạt được
mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu như sau: (1) Hệ
thống hoá những kiến thức về lí luận liên quan đến đề tài (2) Giới
thiệu một số nét khái quát về tiếng Hán và các phương ngữ Hán có
liên quan đến khái niệm tiếng Hoa của người Hoa ở Việt Nam (3)
Miêu tả cảnh huống ngôn ngữ ở An Giang (4) Khảo sát đặc điểm sử
dụng ngôn ngữ của người Hoa ở An Giang (5) Khảo sát việc sử dụng
ngôn ngữ của học sinh người Hoa trong nhà trường và thái độ ngôn
ngữ của phụ huynh học sinh người Hoa đối với trạng thái song ngữ Việt - Hoa tại địa phương
3 Đối tượng và giới hạn tư liệu khảo sát
Đối tượng khảo sát là những người Hoa đang sinh sống tại
An Giang Hiện nay tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ tập trung vào một số
địa bàn tiêu biểu cho trạng thái song ngữ Việt - Hoa
4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp điều tra ngôn ngữ học xã hội bằng anket kết hợp với quan sát và phỏng vấn sâu; phương pháp quy nạp trong nghiên cứu, hệ thống hoá vấn đề; phương pháp phân tích định lượng, có sử dụng phần mềm SPSS trong xử lí tư liệu; phương pháp đối chiếu và thống kê Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các thủ pháp thu thập, phân tích tư liệu mà ngôn ngữ học truyền thống thường sử dụng
4.2 Mẫu nghiên cứu: Điều tra khảo sát được lựa chọn trên mật độ cư trú của người Hoa (nơi người Hoa cư trú tập trung và nơi họ sống xen
kẽ với cả người Kinh, người Khmer; và nơi người Hoa chỉ cư trú xen
kẽ với người Kinh); theo giới tính, tuổi tác, nơi sinh, nơi ở, trình độ học vấn và nghề nghiệp
5 ý nghĩa lí luận và thực tiễn 5.1 ý nghĩa lí luận: Kết quả khảo sát trạng thái song ngữ Việt - Hoa
ở An Giang góp phần vào việc nghiên cứu hiện tượng song ngữ xã hội
từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, như cảnh huống ngôn ngữ, vấn
đề giao tiếp trong xã hội song ngữ, sự phân bố chức năng giữa các ngôn ngữ Cũng vậy, kết quả khảo sát về thái độ ngôn ngữ cũng như tình hình sử dụng ngôn ngữ của học sinh, phụ huynh người Hoa sẽ
Trang 4góp phần vào việc nghiên cứu lí luận về chính sách ngôn ngữ - nhất là
trong tình hình hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay
5.2 ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu một mặt góp phần vào
việc nghiên cứu các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mặt khác
sẽ giúp cho Nhà nước mà trước hết là lãnh đạo tỉnh An Giang có cái
nhìn đầy đủ hơn về tình hình tiếng nói, chữ viết của người Hoa ở Việt
Nam Trên cơ sở đó, có thể đưa ra chính sách cũng như các biện pháp
thực thi phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của
người Hoa nói riêng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác nói chung
Kết quả nghiên cứu cũng giúp cho việc xem xét vấn đề giáo dục song
ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc thiểu số; việc lựa chọn, đưa một số
ngôn ngữ dân tộc thiểu số vào thành môn học trong nhà trường
6 Cái mới của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ
thống về trạng thái song ngữ Việt - Hoa của người Hoa ở Việt Nam
tại An Giang Vì thế, lần đầu tiên các vấn đề về song ngữ xã hội Việt
- Hoa được khảo sát toàn diện tại địa điểm tương đối có đông người
Hoa sinh sống là An Giang
7 Bố cục của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phục lục,
luận án gồm bốn chương: Chương 1 Những cơ sở lí luận liên quan
đến luận án Chương 2 Bức tranh tổng quát về người Hoa với tiếng
Hoa ở An Giang Chương 3 Năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng
ngôn ngữ trong giao tiếp của người Hoa ở An Giang Chương 4 Đặc
điểm sử dụng ngôn ngữ của học sinh người Hoa và thái độ ngôn ngữ
của học sinh và phụ huynh đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong nhà
trường
Chương 1 Những cơ sở lý luận liên quan đến luậN án 1.1 Một số vấn đề cơ bản về hiện tượng song ngữ
1.1.1 Khái niệm song ngữ x hội: Khái niệm song ngữ, theo cách hiểu chung nhất, đó là hiện tượng một người có thể biết và sử dụng hai hoặc trên hai ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp Hiện nay khái niệm này đã được mở rộng Thứ nhất, xu hướng người biết không chỉ hai mà trên hai ngôn ngữ ngày càng tăng, theo đó, thuật ngữ đa ngữ xuất hiện Tuy nhiên, theo thói quen, người ta vẫn sử dụng một trong hai thuật ngữ này (hoặc song ngữ hoặc đa ngữ) cho cùng một hiện tượng vừa nêu Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “song ngữ” cũng với nghĩa như vậy Thứ hai, nói đến song ngữ không chỉ nhằm đến các cá nhân song ngữ mà muốn nhằm đến song ngữ trong một cộng đồng, đó là, hiện tượng song ngữ xã hội Thứ ba, yếu tố quan trọng bậc nhất liên quan đến song ngữ xã hội là phải có người song ngữ Thứ tư, giữa khái niệm tiếng mẹ đẻ với sự hiểu biết về ngôn ngữ được coi là tiếng mẹ đẻ dường như không phải lúc nào cũng trùng nhau Khái niệm tiếng mẹ đẻ còn liên quan đến ý thức tự giác tộc người của các thành viên trong xã hội Chẳng hạn, một cá nhân có thể là dân tộc này nhưng lại nhận ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ 1.1.2 Nguyên nhân nảy sinh hiện tượng song ngữ x hội: Hiện tượng song ngữ là hệ quả tất yếu dưới tác động của hàng loạt các nhân tố xã hội - ngôn ngữ, như di dân, giáo dục song ngữ, sự cộng cư giữa các dân tộc, chính trị, kinh tế, v.v ; mối quan hệ giữa các ngôn ngữ về loại hình, cội nguồn
1.1.3 Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ trong x hội song ngữ
1.1.3.1 Tiếp xúc ngôn ngữ: Tiếp xúc ngôn ngữ là sự tác động lẫn nhau của hai hay hơn hai ngôn ngữ Xét về mặt lí thuyết, đây là sự tác
động tương hỗ, nhưng về mặt thực tế, thường là tiếng mẹ đẻ ảnh hưởng tới ngôn ngữ được tiếp thu sau này
Trang 51.1.3.2 Giao thoa ngôn ngữ: Giao thoa ngôn ngữ thường xảy ra khi
có sự tiếp xúc trực tiếp giữa các tập thể, các cư dân nói các ngôn ngữ
hoặc các phương ngữ khác nhau Khi có sự giao thoa sẽ dẫn đến
những biến đổi, hay nói cách khác là có hiện tượng chệch chuẩn ở các
bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
1.1.3.3 Vay mượn ngôn ngữ: là hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ, bao
gồm cả tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp Vay mượn ngôn ngữ,
theo truyền thống chỉ được hiểu là sự vay mượn do “thiếu”, tức là
ngôn ngữ đi vay sẽ tiếp nhận một yếu tố của ngôn ngữ cho vay khi
mà ngôn ngữ đi vay không có yếu tố này Tuy nhiên, từ góc độ ngôn
ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang (2006) cho rằng, vay
mượn diễn ra không chỉ do “thiếu” mà ngay cả khi “có rồi” vẫn đi
vay Đây là lí do tạo nên sự phức tạp trong vay mượn
1.1.4 Giao tiếp trong x hội song ngữ: Trong xã hội song ngữ, các
thành viên phải lựa chọn ngôn ngữ để giao tiếp Thường có ba kiểu:
chọn một trong những ngôn ngữ, chuyển mã và trộn mã trong giao
tiếp Chọn cách giao tiếp nào là phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố
ngôn ngữ - xã hội
1.1.4.1 Hiện tượng trộn m6: là trộn các yếu tố của ngôn ngữ hoặc
phương ngữ khác vào một ngôn ngữ hay phương ngữ chính dùng để
giao tiếp
1.1.4.2 Hiện tượng chuyển m6: là hiện tượng luân chuyển sử dụng
ngôn ngữ hay phương ngữ trong giao tiếp của người song ngữ
1.2.1 Định nghĩa cảnh huống ngôn ngữ: Có thể hiểu là “Toàn bộ
các ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có
quan hệ tương hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với
nhau về mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lí hoặc một thể
thống nhất về chính trị - hành chính nhất định” (Nguyễn Như ý,
1996) Khi nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ cần chỉ ra được các
thông số về lượng, chất và thái độ ngôn ngữ Theo đó, khi khảo sát cảnh huống song ngữ cần chú ý tới trạng thái song ngữ; quan hệ tương tác giữa các nhóm ngôn ngữ; các nhân tố ngoài ngôn ngữ như kinh tế, văn hoá, chính trị.v.v
1.2.2 Giới thiệu đôi nét về cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung và ở An Giang nói riêng
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đại đa
số Do cộng cư giữa các dân tộc đã khiến cho trạng thái song ngữ ở nước ta trở nên rất đa dạng An Giang là một tỉnh đa dân tộc và đa ngôn ngữ Trong tổng số dân 2.044.367 thì người dân tộc Kinh là 1.940.996, người dân tộc thiểu số là 103.380 cho 16 dân tộc, trong đó chủ yếu là dân tộc Chăm (12.434), dân tộc Khmer (78.706), và dân tộc Hoa (11.256) (thống kê năm 1999) Tình trạng sống đan xen giữa các dân tộc, đã tạo nên một trạng thái song ngữ phức tạp trong giao tiếp, trong tiếp xúc ngôn ngữ và trong giáo dục song ngữ
1.3 Một số vấn đề về tiếng Hán và phương ngữ Hán liên quan
đến đề tài nghiên cứu 1.3.1 Đôi nét về tiếng Hán: Tiếng Hán thuộc ngữ hệ Hán Tạng Tiếng Hán là ngôn ngữ có thanh điệu, gồm bốn thanh và một biến thể của thanh gọi là “khinh thanh” (thanh nhẹ) Tiếng Hán lấy trật tự từ
và hư từ để biểu thị ngữ pháp
1.3.2 Phân loại phương ngữ trong tiếng Hán hiện nay: Cách phân loại loại truyền thống: tiếng Hán có 08 phương ngữ Cách phân loại gần đây: vào những năm 80 của thế kỉ 20, viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đã phân phương ngữ tiếng Hán làm 10 vùng phương ngữ 1.3.3 Phương ngữ Hán và biến thể của chúng trong cộng đồng người Hoa ở An Giang: Tiếng Hoa ở An Giang gồm năm phương ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ Sự khác biệt giữa các phương ngữ này đã được phản ánh bằng sự “Việt hoá” khác nhau trong từ vựng Ví dụ: từ canh chua trong tiếng Việt,
Trang 6phương ngữ Quảng Đông đọc là thiến hòn; Phúc Kiến: xưng thó;
Triều Châu: xưng hứa; và phương ngữ Hẹ đọc là sỏn thỏn
Chương 2 Bức tranh tổng quát về người Hoa Với tiếng
hoA ở An Giang 2.1 Khái quát về người Hoa ở miền Nam Việt Nam
2.1.1 Vị trí của người Hoa ở Việt Nam: Người Hoa ở Việt Nam
được xác định là “những người gốc Hán và những người thuộc dân
tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hoá di cư sang Việt Nam và con
cháu của học đã sinh ra, lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt
Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hoá, chủ yếu là ngôn
ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người
Hoa” (Chỉ thị số 62- CT/TW ngày 08 -11 -1995 của Ban Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương ĐCS Việt Nam) Người Hoa ở Việt Nam một
mặt hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mặt khác vẫn bảo
tồn và phát huy được bản sắc văn hoá, ngôn ngữ riêng của mình, góp
phần làm phong phú, đa dạng hoá nền văn hoá của Việt Nam
2.1.2 Các tên gọi khác nhau đối với người Hoa: Người Hoa mang
nhiều tên gọi khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau Đáng chú ý
là: Thời Pháp thuộc, người Hoa có các tên gọi là Hán, Minh Hương,
Trung Quốc, Hoa Kiều; Thời Mỹ Nguỵ, người Hoa lại có thêm gọi:
Việt gốc Hoa Từ khi Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (1945)
đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước ta đều
gọi là người Hoa
2.1.3 Lịch sử di dân của người Hoa vào miền Nam Việt Nam: Do
biến động về lịch sử, chính trị ở Trung Quốc, người Hoa có bốn lần di
cư lớn sang cư trú ở miền Nam Việt Nam, đó là: vào năm 1679; vào
đầu thế kỷ thứ XVIII; vào thế kỷ thứ XIX; vào năm 1949
2.1.4 Dân số và phân bố dân cư của người Hoa ở miền Nam Việt
Nam: Người Hoa ở Việt Nam có 862.371 người (số liệu thống kê
năm 1999), phân bố khắp các tỉnh, thành phố của Việt Nam, nhưng phần lớn tập trung tại miền Nam Việt Nam và đông nhất là tại thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 54,5%) Địa bàn cư trú của người Hoa hết sức đa dạng, nhưng tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, thị tứ 2.2 Khái quát về người Hoa ở An Giang
2.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên và x hội tỉnh An Giang 2.2.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên: Tỉnh An giang nằm ở vĩ tuyến 1000
và 1100 vĩ bắc, giữa kinh tuyến 1040,70’ và 1050,50’ kinh đông, ở phía Tây Nam của nước Việt Nam, phía Bắc giáp nước Campuchia với đường biên giới dài gần 100 km, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Nam giáp tỉnh Cần Thơ và phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 2.2.1.2 Đặc điểm về kinh tế x6 hội: An Giang có nền kinh tế đặc thù
là sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản An Giang là một trong 13 tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long có núi, sông chảy qua (sông Tiền, sông Hậu), biên giới và cũng là tỉnh duy nhất ở đồng bằng sông Cửu Long có 17 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 4 dân tộc chiếm dân số đông là dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và Chăm 2.2.2 Khái quát về người Hoa ở An Giang
2.2.2.1 Người Hoa ở An Giang trong lịch sử: Dân số tỉnh Châu Đốc năm 1901 là 145.399 người, trong đó có: 1.816 người Hoa và 1.944 người Minh Hương (Hoa lai) Năm 1921, hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên có số dân là 397.000 người, trong đó có 5.040 người Hoa Năm 1926, người Minh Hương ở Châu Đốc là 2.215, người Trung Quốc là 2.178, còn ở An Giang là 1.850 người Minh Hương và 2.201 người Trung Quốc Sau khi thống nhất đất nước (1975), tỉnh An Giang và Châu Đốc lại lần nữa hợp thành tỉnh An Giang: năm 1976,
có 1367.335 người, người Hoa chiếm 1,2%; năm 1979, có 1.532.382 người, người Hoa chiếm 1,06% (giảm so với năm 1976); năm 1983,
có 17.000 người Hoa Năm 1989 dân số An Giang là 1.773.666 người, trong đó người Hoa chiếm 1,01% (giảm so với năm 1979)
Trang 72.2.2.2 Người Hoa ở An Giang hiện nay: Theo thống kê năm 1999,
người Hoa ở An Giang là 11.256 người, chiếm 0,55% dân số toàn
tỉnh Theo số liệu thống kê của Ban dân tộc và tôn giáo tỉnh năm
2005, dân số người Hoa ở An Giang là 14.089 người, chiếm 0,63%
(tăng so với năm 1999) Số dân tuy ít nhưng người Hoa phân bố khắp
tỉnh An Giang, cộng cư cùng với các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm
2.2.3 Khái quát về đời sống người Hoa ở An Giang
2.2.3.1 Đời sống kinh tế: Người Hoa An Giang sinh sống bằng nhiều
nghề khác nhau, nhưng thế mạnh của họ trong hoạt động kinh tế vẫn
là buôn bán
2.2.3.2 Đời sống văn hoá- x6 hội: Gia đình truyền thống Hoa theo
chế độ phụ hệ, con cái mang họ cha Khi kết hôn, người Hoa không
lấy người cùng họ, yếu tố thân tộc được coi trọng và là mối dây liên
kết những người cùng họ với nhau qua nhiều thế hệ
2.2.3.3 Dòng họ: Nhiều dòng họ người Hoa sống tập trung và cư trú
lâu đời trong tỉnh như các họ: Lâm, Lý, Trần, Tăng, Lưu, La, Lương,
Ngô, Quách, Hà, Thôi, Tống, Nguyên, Trang, Tô, Giang Quan hệ
dòng họ được gắn kết qua các buổi cúng giỗ tổ tiên
2.2.3.4 Tín ngưỡng- tôn giáo: Người Hoa ở Việt Nam ngoài tín
ngưỡng đa thần, còn thể hiện niềm tin vào vật linh Một số người Hoa
cũng theo một số tôn giáo như Phật giáo, Công giáo và Tin Lành
2.2.3.5 Phong tục, tập quán, văn hoá dân gian: Phong tục tập quán
của người Hoa ở An Giang vừa thể hiện đặc điểm của văn hoá truyền
thống, vừa có sự giao lưu với người Việt và người Khmer
2.2.3.6 Truyền thống yêu nước và cách mạng: Người Hoa trong tỉnh
đoàn kết, gắn bó với các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, và cùng nhau
đấu tranh chống lại thiên tai địch hoạ và giặc ngoại xâm, bảo vệ biên
giới Tây Nam của tổ quốc
3 2.4 Khái quát về tiếng Hoa ở An Giang
3.2.4.1 Tiếng Hoa của người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long: được chia thành năm nhóm phương ngữ, gồm: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc kiến, Hải Nam và Hẹ (Hakka)
3.2.4.2 Khái quát về tiếng Hoa của người Hoa ở An Giang: Người Hoa ở An Giang cũng thuộc năm phương ngữ khác nhau, đó là: Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ
Chương 3 năng lực ngôn ngữ và tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của người Hoa ở An Giang 3.1 Giới hạn đối tượng khảo sát
Tổng số đối tượng điều tra là 1071 người, được phân bố ở các địa bàn cư trú như sau: Long Xuyên: 176 người, Châu Đốc: 298 người; Tân Châu: 138 người; Châu Phú: 77 người; Châu Thành: 67 người; Thoại Sơn: 109 người; Tịnh Biên: 112 người; Tri Tôn: 94 người 3.2 ý thức tự giác tộc người và vấn đề tiếng mẹ đẻ của người Hoa
ở An Giang 3.2.1 Vấn đề ý thức tự giác tộc người: Mặc dù 1071 người (hộ) được
điều tra đều có nguồn gốc là người Hoa, nhưng khi hỏi về thành phần dân tộc của họ thì 919 người tự khai là dân tộc Hoa, 140 người dân tộc Kinh, 12 người dân tộc Khmer Trong số 919 tự nhận, gồm: 140 người Quảng Đông; 457 người Triều Châu; 26 người Phúc Kiến; 225 người Hẹ và 6 người Hải Nam; 65 người không trả lời
3.2.2 Vấn đề tiếng mẹ đẻ 3.2.2.1 Khái quát về tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa: tiếng Quảng Đông là 99 người, chiếm 10,9%; tiếng Triều Châu là 323 người, chiếm 35,5%; tiếng Phúc Kiến là 18 người, chiếm 2,0%; tiếng
Hẹ là 157 người, chiếm 17,3%; tiếng Hải Nam là 05 người, chiếm 0,5% Kết quả cho thấy, số người chủ động nhận tiếng mẹ đẻ là đa số, gồm 602 người, chiếm 66,2% Số người không có ý kiến gì là 317 người, chiếm 33,8% (Xem bảng 3.10, phần Phụ lục)
Trang 83.2.2.2 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ giới
tính: Nam giới người Hoa tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ cao hơn
nữ giới (nam: 62,5% > nữ 47,6%) (Xem bảng 3.11, phần Phụ lục)
3.2.2.3 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ tuổi
tác: Người Hoa ở nhóm tuổi 40 - 60 tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ
chiếm tỉ lệ cao hơn cả (chiếm 74,0%) (Xem bảng 3.12, phần Phụ lục)
3.2.2.4 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ dân
tộc: 140/1071 người tự nhận mình là dân tộc Kinh, nhưng chỉ có
93/140 người tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ; 12/1071 người Hoa tự
nhận là dân tộc Khmer, nhưng có đến 33/1071 người (chiếm 3,1%) tự
nhận tiếng Khmer là tiếng mẹ đẻ (Xem bảng 3.13, phần Phụ lục)
3.2.2.5 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ nơi
sinh: Vấn đề tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa An Giang không phụ
thuộc vào nơi sinh của họ (3.14, phần Phụ lục)
3.2.2.6 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ nơi ở:
Người Hoa ở Châu Thành tự nhận tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ cao hơn
so với các địa bàn khác (Xem bảng 3.15, phần Phụ lục)
3.2.2.7 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ học
vấn: Những người có trình độ học vấn càng cao thì tỉ lệ tự nhận tiếng
Hoa là tiếng mẹ đẻ càng cao (Xem bảng 3.16, phần Phụ lục)
3.2.2.8 Tình hình tự nhận tiếng mẹ đẻ của người Hoa từ góc độ nghề
nghiệp: Người làm nghề buôn bán tự nhận tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ
cao nhất (chiếm 70,5%) (Xem bảng 3.17, phần Phụ lục)
3.3 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa ở An Giang
3.3.1 Đặt vấn đề: Khảo sát tập trung vào năng lực ngôn ngữ của
người Hoa đối với tiếng Hoa, tiếng Việt và tiếng Khmer Lí do là vì:
tiếng Hoa là tiếng mẹ đẻ của người Hoa; tiếng Việt là ngôn ngữ giao
tiếp chung; tiếng Khmer đang được dùng rộng rãi ở An Giang
3.3.2 Khảo sát năng lực ngôn ngữ của người Hoa, từ các góc độ
khác nhau
3.3.2.1 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa từ góc độ giới tính: Tỉ lệ nữ giới người Hoa không biết tiếng Hoa cao hơn nam giới (nữ: 17,7%> nam: 13,5%) (Xem bảng 3.18, phần Phụ lục)
3.3.2.2 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa từ góc độ tuổi tác: Độ tuổi càng cao thì năng lực tiếng Hoa càng cao và ngược lại (Xem bảng 3.19, phần Phụ lục)
3.3.2.3 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa từ góc độ nơi sinh: Người Hoa sinh tại thành phố Hồ Chí Minh thành thạo mọi kỹ năng về tiếng Hoa và tiếng Việt cao hơn cả (Xem bảng 3.20, phần Phụ lục)
3.3.2.4 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa từ góc độ nơi ở: Người Hoa ở Long Xuyên, Châu Đốc và Tân Châu thành thạo mọi kỹ năng tiếng Hoa cao hơn các địa bàn khác (Xem bảng 3.21, phần Phụ lục) 3.3.2.5 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa từ góc độ học vấn: Những người có trình độ học vấn càng cao thì khả năng thành thạo tiếng Việt càng cao và ngược lại (Xem bảng 3.22, phần Phụ lục)
3.3.2.6 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa từ góc độ nghề nghiệp: Người Hoa làm nội trợ và người buôn bán biết được hai kỹ năng nghe hiểu - nói được tiếng Hoa khá cao (Xem bảng 3.23, phần Phụ lục) 3.3.2.7 Năng lực ngôn ngữ của người Hoa theo góc độ các nhóm người Hoa: Có sự khác nhau về năng lực ngôn ngữ (tiếng Việt, Hoa, Khmer) giữa các nhóm người Hoa (Xem bảng 3.24, phần Phụ lục) 3.4 Đặc điểm giao tiếp ngôn ngữ trong gia đình người Hoa ở An Giang
3.4.1 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân: Tính bình quân, tần số sử dụng tiếng Hoa chưa đến 20%, còn tiếng Việt là khoảng 70% Cùng với đó là sử dụng theo cách chuyển mã, trộn mã (khoảng 6,0%) hoặc sử dụng tiếng Khmer (khoảng 4,0%)
3.4.1.1 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân theo góc
độ giới tính: Nam giới thường dùng tiếng Hoa để giao tiếp với ông bà,
bố mẹ bao giờ cũng cao hơn nữ giới (Xem bảng 3.25, phần Phụ lục)
Trang 93.4.1.2 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân theo góc
độ tuổi tác: Độ tuổi càng cao thì tỉ lệ sử dụng tiếng Hoa để giao tiếp
với người thân trong gia đình (bao gồm cả ba thế hệ) càng cao và
giảm dần theo lứa tuổi (Xem bảng 3.26, phần Phụ lục)
3.4.1.3 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân theo góc
độ nơi sinh: Người Hoa sinh tại Trung Quốc thường dùng tiếng Hoa
để giao tiếp với ông bà cao nhất (chiếm 56,3%) và thấp nhất là người
Hoa sinh tại An Giang và Campuchia (Xem bảng 3.27, phần Phụ lục)
3.4.1.4 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân theo góc
độ nơi ở: Người Hoa ở Long Xuyên, Châu Đốc và Tân Châu thường
dùng tiếng Hoa để giao tiếp với bố mẹ, con, cháu cao hơn người Hoa
cư trú tại các nơi khác trong tỉnh (Xem bảng 3.28, phần Phụ lục)
3.4.1.5 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân theo góc
độ học vấn: Dù ở bất kỳ trình độ học vấn nào, kể cả mù chữ, người
Hoa cũng dùng tiếng Việt để giao tiếp với ông bà, bố mẹ, con, cháu
chiếm tỉ lệ cao hơn dùng tiếng Hoa (Xem bảng 3.29, phần Phụ lục)
3.4.1.6 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với người thân theo góc
độ nghề nghiệp: Người làm nghề buôn bán dùng tiếng Hoa để giao
tiếp với ông bà cao nhất với 29,1% (Xem bảng 3.30, phần Phụ lục)
3.4.2 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách
3.4.2.1 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách theo góc độ
giới tính: Nam giới dùng tiếng Hoa để giao tiếp với khách quen,
khách lạ là người cùng dân tộc bao giờ cũng cao hơn nữ giới (Xem
bảng 3.31a & bảng 3.31b, phần Phụ lục)
3.4.2.2 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách theo góc độ
tuổi tác: Người Hoa từ 46 tuổi trở lên thường dùng tiếng Hoa khi giao
tiếp với khách quen cùng dân tộc cao hơn những người từ 46 tuổi trở
xuống (Xem bảng 3.32a & bảng 3.32b, phần Phụ lục)
3.4.2.3 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nơi
sinh: Người Hoa sinh tại thành phố Hồ Chí Minh thường dùng tiếng
Hoa để giao tiếp với khách quen cùng dân tộc (chiếm 53,8%) và với khách lạ cùng dân tộc (chiếm 46,2%), cao hơn cả người Hoa sinh tại Trung Quốc (Xem bảng 3.33a & bảng 3.33b, phần Phụ lục)
3.4.2.4 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nơi ở:Tỉ lệ người Hoa ở Long Xuyên, Châu Đốc và Tân Châu dùng tiếng Hoa để giao tiếp với khách quen, khách lạ là người cùng dân tộc bao giờ cũng cao hơn người Hoa sống tại các địa bàn khác trong tỉnh (Xem bảng 3.34a & bảng 3.34b, phần Phụ lục)
3.4.2.5 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách theo góc độ học vấn: Đa số những người có trình độ tiểu học đến PTTH đều dùng tiếng Việt để giao tiếp với khách quen, khách lạ là người Kinh và người dân tộc khác (Xem bảng 3.35a & bảng 3.35b, phần Phụ lục) 3.4.2.6 Ngôn ngữ thường dùng để giao tiếp với khách theo góc độ nghề nghiệp: Những người làm nghề buôn bán có khả năng giao tiếp theo kiểu chuyển mã giữa tiếng Việt - tiếng Hoa với khách quen, khách lạ cùng dân tộc khá linh hoạt (có khi còn sử dụng cả tiếng Khmer) (Xem bảng 3.36a &bảng 3.36b, phần Phụ lục)
3.5 Đặc điểm giao tiếp ngôn ngữ ngoài xã hội của người Hoa ở
An Giang 3.5.1 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp quy thức (giao tiếp hành chính)
3.5.1.1 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ giới tính: Không có sự khác biệt đáng kể về giới tính trong việc sử dụng ngôn ngữ trong các cuộc họp các cấp (Xem bảng 3.37, phần Phụ lục) 3.5.1.2 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ tuổi tác: Độ tuổi 46 - 60 dùng tiếng Hoa để phát biểu trong tất cả các cuộc họp ở phường, xã cao nhất với 28,4% (Xem bảng 3.38, phần Phụ lục) 3.5.1.3 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ nơi sinh: Người Hoa sinh tại thành phố Hồ Chí Minh trả lời dùng tiếng
Trang 10Hoa để phát biểu trong các cuộc họp tại xã chiếm tỉ lệ khá cao (chiếm
33,3%) (Xem bảng 3.39, phần Phụ lục)
3.5.1.4 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ nơi ở:
Người Hoa ở Tri Tôn dùng tiếng Hoa để phát biểu (chiếm 34,9%) cao
hơn người Hoa sống ở các nơi khác (Xem bảng 3.40, phần Phụ lục)
3.5.1.5 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ học
vấn: Khi điều tra bằng anket, thì người Hoa có trình học vấn tự nhận
dùng tiếng Hoa để phát biểu trong cuộc họp ở các cấp chính quyền
khá cao Nhưng khi quan sát thực tế thì tình hình ngược lại Điều này
được giải thích là, do đề cao quá mức tính dân tộc của một số trí thức
người Hoa nên đã “tự khai” như vậy (Xem bảng 3.41, phần Phụ lục)
3.5.1.6 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính theo góc độ nghề
nghiệp: Người Hoa làm nghề buôn bán và nội trợ dùng tiếng Hoa để
phát biểu trong các cuộc họp tại phường, xã cao hơn tất cả những
người Hoa làm các ngành nghề khác (Xem bảng 3.42, phần Phụ lục)
3.5.1.7 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp hành chính xét theo các nhóm
người Hoa: Nhóm người Hoa Phúc Kiến dùng tiếng Hoa để phát biểu
trong cuộc họp cao nhất với 31,8% (Xem bảng 3.43, phần Phụ lục)
3.5.2 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức
3.5.2.1 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức theo góc độ giới
tính: Tỉ lệ sử dụng tiếng Hoa để trao đổi riêng trong các cuộc họp tại
xã với người cùng dân tộc cao nhất cũng chỉ là 12,7% và không có sự
chênh lệch nhiều giữa nam và nữ (Xem bảng 3.44, phần Phụ lục)
3.5.2.2 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức theo góc độ tuổi
tác: Đáng chú ý là, người Hoa ở độ tuổi 20 -30 trả lời có sử dụng
tiếng Hoa để trao đổi riêng với người cùng dân tộc trong các cuộc họp
ở cấp xã khá cao (chiếm 21,5%) (Xem bảng 3.45, phần Phụ lục)
3.5.2.3 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức theo góc độ nơi
ở: Người Hoa sống tại Long Xuyên, Châu Thành, Thoại Sơn và Tịnh
Biên hầu như không dùng tiếng Hoa để trao đổi riêng trong các cuộc
họp tại ấp với người cùng dân tộc (Xem bảng 3.46, phần Phụ lục)
3.5.2.4 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức theo góc độ học vấn: Đa số người Hoa đều dùng tiếng Việt để giao tiếp với người thân quen cùng dân tộc, khác dân tộc, kể cả người mù chữ quốc ngữ (Xem bảng 3.47, phần Phụ lục)
3.5.2.5 Ngôn ngữ dùng trong giao tiếp phi quy thức theo các nhóm người Hoa: Người Quảng Đông và người Triều Châu dùng tiếng Hoa
để trao đổi riêng với người cùng dân tộc trong các cuộc họp cao hơn các nhóm người Hoa khác (Xem bảng 3.48, phần Phụ lục)
3.6 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của người Hoa ở An Giang trong một số trường hợp khác
3.6.1 Đặt vấn đề: Khả năng sử dụng ngôn ngữ khi nói chuyện điện thoại, ghi chép riêng, xem sách báo, nghe đài, xem truyền hình, cầu cúng, hoạt động văn nghệ,…cũng thể hiện được năng lực ngôn ngữ của người Hoa
3.6.2 Người Hoa sử dụng ngôn ngữ khi nói chuyện điện thoại 3.6.2.1 Nói chuyện điện thoại với người cùng dân tộc: 674/1024 người hoàn toàn dùng tiếng Việt khi nghe, gọi điện thoại cho người cùng dân tộc; 209/1024 người dùng tiếng Hoa; 15/1024 người sử dụng tiếng Khmer (Xem từ bảng 3.49 đến bảng 3.55, phần Phụ lục) 3.6.2.2 Nói chuyện điện thoại với người Kinh và người dân tộc khác: Khi nghe, gọi điện thoại với người Kinh (Việt), người Hoa hiếm khi dùng tiếng Hoa (Xem từ bảng 3.49 đến bảng 3.55, phần Phụ lục) 3.6.3 Ngôn ngữ được thể hiện trong ghi chép riêng: Đa số người Hoa cảm thấy thoái mái với việc ghi chép riêng bằng tiếng Việt (chiếm 85,9%) (Xem từ bảng 3.56a đến bảng 3.56f, phần Phụ lục) 3.6.4 Ngôn ngữ được thể hiện trong các hoạt động văn nghệ: Chỉ
có 6,6% người Hoa ở độ tuổi từ 46 trở lên ca hát một mình bằng tiếng Hoa (Xem từ bảng 3.56a đến bảng 3.56f, phần Phụ lục)
3.6.5 Ngôn ngữ được thể hiện khi cầu cúng, tế lễ: Việc dùng tiếng Hoa khi cầu cúng, tế lễ cũng chỉ còn tồn tại ở những người Hoa ở