1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả sử dụng các biện pháp tránh thai ở bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại thành phố long xuyên, tỉnh an giang năm 2020 2021 nguyễn thị mỹ linh; b

124 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tình Hình Và Đánh Giá Kết Quả Sử Dụng Các Biện Pháp Tránh Thai Ở Bà Mẹ Có Con Đầu Tiên Dưới 2 Tuổi Tại Thành Phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang Năm 2020-2021
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh
Người hướng dẫn BS. CK2. Lại Văn Nông
Trường học Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Quản Lý Y Tế
Thể loại Luận văn chuyên ngành
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 11,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi đặt ra là việc sử dụng các biện pháp tránh thai ở bà mẹ có con dưới 2 tuổi tại tại thành phố Long Xuyên về các biện pháp tránh thai hiện nay như thế nào?. Để góp phần trả lời cho

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

NGUYỄN THỊ MỸ LINH

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI Ở BÀ MẸ

CÓ CON ĐẦU TIÊN DƯỚI 2 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ

LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG NĂM 2020-2021

Chuyên ngành: Quản Lý Y Tế

Mã số: 8720801.CK

Người hướng dẫn khoa học:

BS CK2 LẠI VĂN NÔNG

Trang 5

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU……… 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3

1.1 Sơ lược về kế hoạch hóa gia đình và các biện pháp tránh thai…… 3

1.2 Tình hình sử dụng các BPTT trong nước và trên thế giới………… 10

1.3 Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng các BPTT………… 13

1.4 Một số can thiệp cộng đồng tới hiệu quả sử sụng các BPTT……… 15

1.5 Các nghiên cứu về sử dụng biện pháp tránh thai……… 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU… 21 2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 23

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu……… 32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 33

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu……… 33

3.2 Tình hình thực hiện các biện pháp tránh thai……… 39

3.3 Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng BPTT……… 40

3.4 Đánh giá kết quả can thiệp……… 46

Chương 4: BÀN LUẬN……… 50

4.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu……… 50

4.2 Tình hình thực hiện các biện pháp tránh thai……… 58

Trang 6

4.3 Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng BPTT……… 63

4.4 Đánh giá kết quả can thiệp……… 68

KẾT LUẬN……… 73

KIẾN NGHỊ……… 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Cơ cấu sử dụng các BPTT hàng năm từ năm 2010 – 2018 11

Bảng 1.2 Tỷ lệ sử dụng các BPTT của An Giang 2010-2021 12 1 Bảng 1.3 Tỷ lệ sử dụng các BPTT của TPLX 2015-2021………… 13 1 Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo các nhóm tuổi ……… 33 3

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tôn giáo ……… 34

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng theo tuổi kết hôn, tuổi sinh, nơi sinh và

BPTT và một số yếu tố liên quan 45

Bảng 3.13 Sự thay đổi kiến thức về các BPTT ở thời điểm trước và

Trang 8

sau can thiệp……… 46 4 Bảng 3.14 Các bà mẹ biết từng BPTT so sánh trước và sau can thiệp 47

Bảng 3.15 Thực hiện BPTT sau can thiệp theo một số yếu tố liên

quan 49

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Giới tính con đầu tiên của đối tượng nghiên cứu ……… 36

Biểu đồ 3.2 Phương pháp sinh của các bà mẹ……… 36

Biểu đồ 3.3 Kiến thức về lợi ích của thực hiện kế hoạch hóa gia đình… … 37

Biểu đồ 3.4 Hiểu biết từng loại biện pháp tránh thai 38

Biểu đồ 3.5.Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai chung……… 39

Biểu đồ 3.6 Phân bố biện pháp tránh thai đang sử dụng………40

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ sử dụng các BPTT sau can thiệp …….……….48

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ sử dụng từng loại BPTT sau can thiệp……… ……… 48

Trang 10

BPTTHĐ

BPTTTT

CSHQ

Biện pháp tránh thai Biện pháp tránh thai hiện đại Biện pháp tránh thai truyền thống Chỉ số hiệu quả

KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

STDs Các bệnh lây truyền qua đường tình dục

TCTT Thuốc cấy tránh thai

TTTT Thuốc tiêm tránh thai

VTTT Viên thuốc tránh thai

Trang 11

MỞ ĐẦU

Làm mẹ là thiên chức cao quý của người phụ nữ, nhưng việc sinh

đẻ lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho sức khỏe, nhất là những phụ nữ sinh nhiều con, thời điểm sinh không hợp lý và khoảng cách giữa các lần sinh quá gần Việc mang thai sớm sau sinh ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ do cơ thể chưa kịp phục hồi sau lần sinh trước Đặc biệt, khi sinh mổ nếu mang thai quá sớm sẽ tăng nguy cơ thai bám vết mổ hoặc gây vỡ tử cung, nguy hiểm đến tính mạng người phụ nữ[29] Ngoài ra, điều này còn khiến đời sống tình dục bị gián đoạn trong thời gian dài, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình Vì vậy áp dụng biện pháp tránh thai trong 2 năm đầu sau sinh là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe người phụ

nữ Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực và đầu tư để giảm tỷ lệ tử vong mẹ trên toàn cầu, tỷ lệ này vẫn còn cao ở mức báo động ở nhiều quốc gia đang phát triển Khoảng 38% trường hợp có thai ở châu Á là ngoài ý muốn, và 21% tất cả trường hợp mang thai kết thúc do phá thai, và kết quả này cho thấy nhu cầu chưa được đáp ứng về các biện pháp tranh thai còn cao Đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại sẽ giảm 74% tổng số ca có thai ngoài ý muốn (giảm từ 32,2 triệu ca xuống 8,5 triệu ca) [2]

Theo tổng điều tra dân số của Việt Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người Trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8%; dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2% Sau

10 năm, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người [3] Để giảm tỷ lệ tăng dân số, chính phủ Việt Nam đã ưu tiên hàng đầu cho công tác kế hoạch hóa gia đình đặc biệt là trong công tác vận động và khuyến khích sử dụng các phương tiện tránh thai Việc sử dụng hợp lý các biện pháp tránh thai là một trong những can thiệp y tế công cộng có

Trang 12

chi phí hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ tử vong và mắc bệnh của bà mẹ và giúp cải thiện sự công bằng, bình đẳng và trao quyền cho phụ nữ, ngăn chặn tình trạng có thai ngoài ý muốn Nó còn giúp giảm thiểu tối đa nhu cầu phá thai và giảm nguy cơ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến mang thai và sinh con[6]

Thành phố Long Xuyên là nơi tập trung đông dân, có tất cả 13 phường, xã Tỉ lệ các bà mẹ có con dưới 2 tuổi chiếm tỉ lệ khá cao Câu hỏi đặt ra là việc sử dụng các biện pháp tránh thai ở bà mẹ có con dưới

2 tuổi tại tại thành phố Long Xuyên về các biện pháp tránh thai hiện nay như thế nào? Để góp phần trả lời cho những câu hỏi này, chúng tôi

tiến hành thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả

sử dụng các biện pháp tránh thai ở bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2020-2021” với các

mục tiêu sau:

1 Xác định tỉ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai nói chung và từng loại biện pháp tránh thai ở bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2020-2021

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến việc không áp dụng các biện pháp tránh thai ở bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2020-2021

3 Đánh giá kết quả can thiệp bằng truyền thông sức khỏe ở bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi chưa thực hiện biện pháp tránh thai tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2020-2021

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về kế hoạch hóa gia đình và các biện pháp tránh thai

1.1.1 Khái niệm về kế hoạch hóa gia đình

- Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồng, nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con Kế hoạch hóa gia đình không chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các biện pháp tránh thai để tránh thai mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai và sinh con trong trường hợp khuyến khích sinh[42, 52]

Pháp lệnh Dân số Việt Nam năm 2003: “Kế hoạch hóa gia đình là sự nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng tự nguyện quyết định

số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm đảm bảo sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình”

Như vậy, kế hoạch hóa gia đình là chủ động có con theo ý muốn của các cặp vợ chồng, nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh, không để dẫn đến tình trạng phá thai, hoặc đẻ quá nhiều con, đẻ quá dầy, đẻ khi còn quá trẻ hoặc đẻ khi đã nhiều tuổi Thực hiện KHHGĐ sẽ mang lại lợi ích kinh tế, sức khỏe, học hành cho con cái, góp phần ổn định qui mô dân số,

xã hội phồn vinh… vì vậy mỗi cá nhân mỗi cặp vợ chồng cần thực hiện KHHGĐ Để thực hiện KHHGĐ, đối tượng cần được thông tin đầy đủ về các phương tiện tránh thai, lựa chọn và sử dụng đúng các biện pháp tránh thai (BPTT) phù hợp[56]

1.1.2 Các biện pháp tránh thai

Định nghĩa: Biện pháp tránh thai là các biện pháp can thiệp tác động

lên cá nhân làm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ Các BPTT thường

Trang 14

được áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cắt đứt đường đi nhằm ngăn cản tinh trùng gặp trứng giúp cho cá nhân và các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ[7]

Các BPTT được chia làm 2 loại chính là: các BPTT hiện đại và các BPTT truyền thống

BPTT hiện đại là biện pháp có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật gồm có: vòng tránh thai (VTT) hay còn gọi là dụng cụ tử cung, thuốc viên tránh thai, thuốc tiêm tránh thai (TTTT), thuốc cấy tránh thai (TCTT), bao cao su, màng ngăn âm đạo, triệt sản nam và nữ, thuốc diệt tinh trùng

BPTT truyền thống là các biện pháp không có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật gồm có: tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo, vô kinh do con

sử dụng)[42] Đa số BCS hiện nay được làm bằng nhựa latex hoặc polyurethane BCS bằng polyurethane nhạy cảm hơn BCS bằng latex nhưng

tỷ lệ thủng và tuột cao hơn (lần lượt là 7,2% và 3,6% so với 1,1% và 0,6%)[64]

* Cơ chế tác dụng:

Trang 15

BCS có tác dụng chứa và ngăn không cho tinh trùng vào âm đạo nên không xảy ra quá trình thụ tinh[64]

* Thuốc viên tránh thai kết hợp:

Viên thuốc tránh thai (VTTT) có chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin được gọi là VTTT kết hợp Đây là BPTT tạm thời, không giúp ngăn ngừa STDs và HIV/AIDS[6]

+ Thời điểm sử dụng:

- VTTT kết hợp được uống trong vòng 5 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh

hoặc ở bất cứ thời điểm nào nếu biết chắc là không có thai

- Uống mỗi ngày 1 viên, vào giờ nhất định Khi hết vỉ thuốc, uống viên đầu tiên của vỉ tiếp theo vào ngày hôm sau dù đang còn kinh (với vỉ 28 viên) hoặc nghỉ 7 ngày rồi dùng tiếp vỉ sau, dù đang còn kinh (với vỉ 21 viên)[6]

+ Tác dụng không mong muốn:

- Thường gặp vào 03 tháng đầu và giảm dần như: buồn nôn; cương vú

do estrogen; đau đầu nhẹ; ra máu âm đạo thấm giọt hoặc chảy máu ngoài kỳ

Trang 16

kinh; không ra máu kinh nguyệt hoặc hành kinh ít

- Các dấu hiệu báo động: đau đầu nặng; đau dữ dội vùng bụng; đau nặng vùng ngực; đau nặng ở bắp chân; có các vấn đề về mắt (mất thị lực, nhìn nhòe, nhìn một thấy hai) và vàng da[5] [6] [77]

* Viên thuốc tránh thai chỉ có progestin liều nhỏ:

Đây là BPTT tạm thời, chứa một lượng nhỏ progestin, không có estrogen Thuốc đặc biệt thích hợp với phụ nữ đang cho con bú; phụ nữ có chống chỉ định với thuốc tránh thai phối hợp[6] [25]

* Thuốc tiêm và thuốc cấy tránh thai:

Đây là hai BPTT tạm thời, chứa nội tiết progestin Hai biện pháp này

có BPTT có hiệu quả cao (99,6%) [42] [6] [25]

c) Các biện pháp tránh thai khẩn cấp

- Đại cương:

BPTT khẩn cấp được sử dụng sau khi giao hợp không được bảo vệ, gồm có: viên thuốc tránh thai (VTTT) và dụng cụ tử cung

BPTT này không giúp ngăn ngừa STDs và HIV/AIDS Cơ chế tác dụng:

ức chế và làm chậm sự phóng noãn; ngăn cản sự làm tổ của trứng đã thụ tinh[6]

- Chỉ định:

Giao hợp không được bảo vệ; sự cố khi sử dụng BPTT khác như: thủng bao cao su, chưa có vỉ thuốc uống tiếp theo, chưa tiêm mũi tránh thai khác khi mũi tiêm trước đã hết tác dụng; sau khi bị cưỡng hiếp

- Thời điểm sử dụng:

Sử dụng BPTT khẩn cấp càng sớm càng tốt trong vòng 5 ngày (120 giờ) sau giao hợp không được bảo vệ Nếu biết chắc ngày rụng trứng, đặt dụng cụ tử cung (DCTC) để tránh thai khẩn cấp có thể được thực hiện trong vòng 5 ngày sau rụng trứng[6] [29]

Trang 17

- Tác dụng không mong muốn:

Ra huyết âm đạo bất thường, buồn nôn, nôn, căng ngực, nhức đầu và chóng mặt

Những sự cố khi sử dụng tránh thai khẩn cấp:

+ Chậm kinh: cần thử thai hoặc tái khám tại cơ sở y tế nếu chậm kinh + Chưa có bằng chứng về nguy cơ đến thai khi sử dụng VTTT khẩn cấp

+ Nôn trong vòng 2 giờ sau uống thuốc: uống lại liều thuốc tránh thai khẩn cấp càng sớm càng tốt; có thể sử dụng thuốc chống nôn trước khi uống liều lặp lại cho những khách hàng uống VTTT kết hợp

+ Ra máu thấm giọt: đây không phải dấu hiệu bất thường, sẽ tự hết không cần điều trị [4],[6], [29]

Đây là BPTT an toàn và hiệu quả cao trên 99%, không ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh lý và hoạt động tình dục; không có tác dụng phụ; kinh tế Trước đây, triệt sản là BPTT vĩnh viễn Hiện nay, đây là BPTT có hồi phục

do khả năng phát triển của vi phẫu thuật và nội soi[6],[29],[42] [67]

f) Các biện pháp tránh thai khác

Màng ngăn âm đạo

Trang 18

Màng được đặt vào trong âm đạo và che phủ cổ tử cung, chắn cổ tử cung lại cũng như tạo một khoang chứa các thuốc diệt tinh trùng[78] Màng được làm bằng cao su thiên nhiên, latex hoặc silicone và nên lưu màng lại tối thiểu 6 giờ sau giao hợp và tối đa 30 giờ sau khi đặt vào âm đạo[6],[42]

Hiện nay, màng ngăn âm đạo thường được kết hợp với thuốc diệt tinh trùng để làm tăng hiệu quả tránh thai Ví dụ như màng phim tránh thai Đó là một màng mỏng diện tích 5 x 5 cm, mềm và tan nhanh trong âm đạo Màng phim có tác dụng tương đương viên uống tránh thai và dụng cụ tử cung[29]

Mũ cổ tử cung

Mũ cổ tử cung là một dụng cụ cơ học, tránh thai bằng rào cản ở âm đạo Mũ cổ tử cung được làm bằng latex hoặc silicone và có thể tái sử dụng hoặc chỉ dùng một lần Mũ cần được lưu lại tối thiểu 6-8 giờ sau giao hợp và tối đa 72 giờ kể từ khi gắn vào[78], [50]

Miếng xốp âm đạo

Miếng xốp âm đạo tránh thai xuất hiện như là một biến thể của màng ngăn âm đạo, được làm bằng polyurethane, được tẩm nonoxynol-9 và phóng thích 125mg chất diệt tinh trùng trong vòng 24 giờ[60]

Thuốc diệt tinh trùng

Là những chế phẩm đặt vào âm đạo trước khi quan hệ tình dục (QHTD) làm bất hoạt tinh trùng và chặn không cho tinh trùng vào cổ tử cung Thuốc có nhiều dạng như: dạng gel, kem, sủi bọt, viên thuốc, thuốc đạn và màng mỏng Thuốc có hoạt chất là một trong những chất sau: Clorua benzalkonium, Hexyl-Resorcinol, 9-Nonoxynol[6],[42] Hiệu quả của thuốc tùy thuộc vào người sử dụng Để có hiệu quả cao, thuốc cần đặt vào sâu trong

âm đạo 1 giờ trước khi giao hợp Ngoài ra, thuốc dạng viên nén hay thuốc đạn phải đặt ít nhất 10 phút trước khi giao hợp Thuốc diệt tinh trùng có hiệu quả thấp so với các biện pháp khác[6],[42]

Trang 19

Nhẫn tránh thai

Nhẫn tránh thai âm đạo được đưa vào âm đạo, phóng thích hormon giúp tránh thai Khách hàng có thể tự đưa nhẫn vào trong âm đạo và để đó trong 3 tuần rồi lấy ra[61],[65] [75]

Miếng dán tránh thai

Miếng dán tránh thai được dán ở bắp tay, mông, bụng hay ngực (không dán lên vú) Miếng dán có tác dụng phóng thích các hormon để có tác dụng tránh thai giống như tác dụng của các viên thuốc tránh thai[75], [66] Mỗi miếng dán có tác dụng trong một tuần, sau đó khách hàng thay miếng dán mới Dán liên tục trong vòng 3 tuần và không dán trong tuần thứ 04 để bắt đầu kinh nguyệt Tác dụng phụ của miếng dán giống như tác dụng phụ của viên thuốc ngừa thai Khách hàng có thể đổi chỗ dán để tránh bị kích thích da[75] [78]

1.1.2.2 Các biện pháp tránh thai truyền thống

BPTT truyền thống (tự nhiên) là những BPTT không cần dùng dụng

cụ, thuốc hay thủ thuật để ngăn cản thụ tinh[6] Các BPTT truyền thống ít hiệu quả hơn các BPTT hiện đại với chỉ số Pearl là 20[6],[42]

a) Xuất tinh ngoài âm đạo (giao hợp ngắt quãng)

Cơ chế tránh thai: tinh trùng không vào được đường sinh dục nữ nên không gặp được noãn, ngăn cản hiện tượng thụ tinh Phương pháp này đòi hỏi

sự chủ động của nam giới khi quan hệ, nên hiệu quả tránh thai thấp[6],[42] b) Kiêng giao hợp định kỳ

Là biện pháp chọn thời điểm giao hợp cách xa những ngày phóng noãn, nhằm mục đích làm cho tinh trùng sống không gặp được noãn sống Để chọn ngày kiêng giao hợp, có các phương pháp như:

c) Phương pháp tính vòng kinh:

Là biện pháp dựa vào ngày có kinh, chọn giao hợp vào những ngày xa

Trang 20

giai đoạn rụng trứng để không có thai Trong vòng 5 ngày trước và 4 ngày sau khi rụng trứng là những ngày “không an toàn”, cần kiêng giao hợp hoặc nếu giao hợp thì cần dùng biện pháp tránh thai hỗ trợ[6],[42]

d) Phương pháp ghi chất nhầy cổ tử cung:

Phương pháp này dựa vào việc người phụ nữ có thể nhận biết những ngày đỉnh điểm thụ thai khi chất tiết cổ tử cung trơn, ướt và có thể kéo sợi Tỷ

lệ có thai ngoài ý muốn của biện pháp này là rất cao[5],[6]

e) Phương pháp ghi thân nhiệt:

Phương pháp này dựa trên cơ sở thân nhiệt cơ bản tăng 0,2 độ C đến 0,5 độ C quanh thời điểm phóng noãn Người phụ nữ lấy thân nhiệt và ghi lại vào mỗi buổi sáng vào một thời điểm Phương pháp này có những điểm không chính xác, do đó tỷ lệ có thai ngoài ý muốn của biện pháp này rất cao[5],[6]

f) Biện pháp tránh thai cho bú vô kinh:

Đây là một BPTT tạm thời dựa vào việc cho bú mẹ hoàn toàn sau sinh khi chưa có kinh trở lại và con dưới 6 tháng tuổi Biện pháp cho bú vô kinh là BPTT hiệu quả không cao[42],[25]

1.2 Tình hình sử dụng các BPTT trong nước và trên thế giới

1.2.1.Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại Việt Nam

Từ thập kỷ 1980 trở lại đây, các BPTT trở nên rất phổ biến ở nước ta Theo điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình, tổng dân số Việt Nam tính đến 0 giờ ngày 1/4/2019 là 96.208.984 người, năm 2019 chúng ta

đã gần đạt mức sinh thay thế (2,09 con/phụ nữ) giảm 2/3 so với năm 1960[3], [72] Kết quả điều tra BĐDS 2018 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các BPTT việc thực hiện KHHGĐ được phỏng vấn và ghi cho những phụ nữ 15-49 tuổi hiện đang có chồng bất kỳ đaṭ 76,5% Trong đó, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị 2,0 điểm phần trăm (67,2% so với

Trang 21

65,2%), tỷ lệ sử dụng BPTT truyền thống và khác ở khu vực nông thôn cũng cao hơn thành thị 1,3 điểm phần trăm (10,4% so với 9,1%).[43]

BPTT được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam hiện nay là vòng tránh thai Tỷ lệ sử dụng vòng tránh thai từ năm 2005 đến 2018 tuy có xu hướng giảm dần nhưng vẫn luôn duy trì ở mức khá cao Năm 2018 tỷ lệ này là 46,0% (tăng 0,4 điểm phần trăm so với năm 2017) Tỷ lệ sử dụng các BPTT như uống thuốc tránh thai, tiêm, cấy có xu hướng tăng chậm Năm 2018 tỷ lệ

sử dụng BPTT truyền thống (tính vòng kinh/xuất tinh ngoài) đạt 12,9%, giảm

so với năm 2017 là 1,1 điểm phần trăm[43]

Bảng 1.1 Cơ cấu sử dụng các BPTT hàng năm từ năm 2010 – 2018[43]

Đơn vị tính: Phần trăm

Nguồn: 2005-2017: Tổng cục Thống kê, "Kết quả chủ yếu Điều tra

BĐDS và KHHGĐ thời điểm 1/4/2017",2018, Biểu 4.3, Trang 44.[43]

1.2.2 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai ở tỉnh An Giang

Biện pháp tránh thai 2010 2011 2012 2013 2015 2016 2017 2018

Thuốc uống 5,5 5,7 6,7 7,6 8,8 9,0 0,1 20,4 Thuốc tiêm 1,8 1,7 1,8 2,0 1,7 1,7 1,1 1,6

Màng ngăn âm đạo 0,0 0,0 0,1 0,0 0,0 0,0 0,1 0,0 Bao cao su 13,1 13,6 13,7 14,7 14,7 15,3 15,6 17,0 Đình sản nữ 3,8 3,3 3,0 2,8 2,2 2,0 1,8 1,5 Đình sản nam 0,3 0,2 0,2 0,2 0,1 0,1 0,1 0,1 BPTT truyền thống 3,1 2,1 2,5 3,0 4,0 4,1 4,0 2,9 Biện pháp khác 0,3 0,2 0,2 0,2 0,1 0,2 0,1 0,1

Trang 22

1.2.2.1 Thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Từ một tỉnh có mức sinh rất cao, với số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 3,85 con/phụ nữ vào năm 1991 đến năm 1999 đã giảm xuống chỉ còn 2,25 con[2] và liên tục giảm từ 2,55 con năm 1999 xuống còn 1,97 con năm 2009 Tỷ suất sinh thô giảm từ 22,6‰ năm 1999 xuống còn 17,6‰ năm 2009[9] Năm 2011, dân số An Giang là 2.151.000 người; tổng tỷ suất sinh là 1,93 con/phụ nữ, tỷ suất sinh thô là 16,50 ‰, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 8,4[17] Năm 2012 dân số An Giang là 2.153.716 người; tổng tỷ suất sinh là 1,9 con/phụ nữ, tỷ suất sinh thô là 16,30 ‰, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 7,42%[18] Năm 2018, dân số An Giang là 2,163,541 người, tổng tỷ suất sinh là 1,78 con/phụ nữ, tỷ suất sinh thô là 14,60 ‰, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 13,2%[43]

1.2.2.2 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại tỉnh An Giang

kỳ

Biện pháp tránh thai BPTT

Nguồn: Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang "Báo cáo

kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2011-2020"

Trang 23

Tỷ lệ phụ nữ 15 – 49 tuổi có chồng sử dụng các BPTT ở An Giang ngày càng tăng từ 66,86% năm 2001 lên 79,2% năm 2018

1.2.2.3 Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai tại Thành phố Long Xuyên

Sau đợt tổng điều tra dân số và nhà ở tháng 4-2019 vừa qua, Tổng cục Thống kê đã có kết quả thống kê sơ bộ về tình hình dân số cả nước Cùng với

đó là hoàn thiện các kết quả, chỉ tiêu đặc biệt về dân số và trả về địa phương Ghi nhận kết quả điều tra dân số tại An Giang, TP Long Xuyên có tổng số dân là 272.365 người, mật độ dân số đạt 2.369 người/km² Tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trong 3 năm gần đây có xu hướng giảm, từ 80,62% năm 2016 giảm còn 71,84% năm 2020 [13], [14], [15],[16]

Bảng 1.3 Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai của TPLX 2015-2021

[11], [12], [15], [16]

Đơn vị tính %

Thời điểm

Tỷ lệ sử dụng BPTT bất

Nguồn: Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang "Báo cáo

kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2011-2020"

Trang 24

1.3 Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng các BPTT

Trong thời gian qua có nhiều nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến việc áp dụng và không áp dụng các BPTT Tác giả Mai Thị Kim Hoàng nghiên cứu “Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai và nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản ở phụ nữ 15 – 49 tuổi có chồng tại phường Bình Thủy, quận

Bình Thủy, thành phố Cần Thơ năm 2016”[24]

Huỳnh Thanh Phong, Nguyễn Duy Tài có đề tài năm 2017 nghiên cứu tỷ

lệ chọn lựa các BPTT hiện đại và các yếu tố liên quan ở phụ nữ đến phòng tư vấn ngừa thai Bệnh Viện Hùng Vương[38] Đề tài nghiên cứu trên 340 ĐTNC đã lập gia đình Tỷ lệ chấp nhận BPTT hiện đại (BPTTHĐ) là 77,1% với KTC 95% (72,6 - 81,6); trong đó dụng cụ tử cung được chấp nhận nhiều nhất (38,5%) và thấp nhất là triệt sản (0,4%) Trong nhóm phụ nữ không lựa chọn BPTTHĐ, lý do chiếm tỷ lệ cao nhất là sợ khó có thai (53,8%) Phụ nữ

đã từng sử dụng BPTTHĐ lựa chọn BPTTHĐ cao hơn 11,6 lần so với phụ nữ chỉ từng sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống (BPTTTT) Không có sự liên quan giữa nghề nghiệp, tuổi kết hôn, số con hiện tại, nhu cầu sinh thêm con với sự chấp nhận các BPTTHĐ Tác giả Huỳnh Thanh Phong nghiên cứu tỷ lệ chọn lựa các BPTTHĐ và các yếu tố liên quan ở phụ nữ đến phòng tư vấn ngừa thai bệnh viện Hùng Vương năm 2016[38] Tác giả Huỳnh Vĩnh Phạm Uyên, Võ Minh Tuấn khảo sát các yếu tố liên quan đến dụng cụ tử cung T-Cu 380a không đúng vị trí nếu đặt ngay sau sinh từ năm 2017 đến năm 2020[54] Trong số 384 phụ nữ tham gia nghiên cứu, tại thời điểm 6 tuần sau sinh, số phụ nữ sinh mổ có DCTC TCu380A không đúng vị trí (64/299), trong khi 37/85 phụ nữ sinh ngã âm đạo có DCTC TCu380A không đúng vị trí Nguy cơ DCTC TCu 380A không đúng vị trí cao hơn 2,83 lần (KTC 95% 1,699–4,714) ở sinh ngã âm đạo so với sinh mổ Tác giả Nguyễn Thị Thư: “Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai

Trang 25

và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ”[49] Đề tài được tác giả Nguyễn Vũ Khánh nghiên cứu năm 2017: “Kiến thức- Thái độ- Thực hành về thuốc viên tránh thai phối hợp, dụng cụ tử cung và bao cao su của phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Đồng Nai”[27]

1.4 Một số can thiệp cộng đồng tới hiệu quả sử sụng các biện pháp tránh thai

1.4.1 Dự án Tuyên truyền, giáo dục chuyển đổi hành vi

Triển khai đồng bộ, thường xuyên các hoạt động tuyên truyền, vận động, giáo dục và tư vấn về dân số và KHHGĐ với nội dung và hình thức phù hợp với từng nhóm đối tượng, điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá của từng khu vực, từng vùng, nhằm góp phần nâng cao nhận thức và tạo môi trường thuận lợi về chính sách, nguồn lực và dư luận xã hội thúc đẩy mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng dân cư chủ động, tự nguyện chuyển đổi hành vi để thực hiện đúng chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về dân

số và KHHGĐ Tập trung hoạt động tuyên truyền, vận động, giáo dục và tư vấn ở vùng nông thôn đông dân có mức sinh chưa ổn định, vùng có mức sinh cao, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Chú trọng hình thức vận động, tư vấn trực tiếp cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nam và nữ thanh niên Nâng cao chất lượng giáo dục dân số trong nhà trường

1.4.2 Dự án Nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình

Đáp ứng chất lượng, đầy đủ, kịp thời, an toàn và thuận tiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho mọi đối tượng sử dụng dịch vụ, nhằm thực hiện chủ yếu các mục tiêu KHHGĐ và góp phần nâng cao chất lượng dân số Ưu tiên cung cấp dịch vụ KHHGĐ cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở vùng

Trang 26

nông thôn đông dân có mức sinh chưa ổn định, vùng có mức sinh cao, vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.[40]

1.4.3 Dự án Bảo đảm hậu cần và đẩy mạnh tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai

Đáp ứng chất lượng, đầy đủ, kịp thời phương tiện tránh thai cho mọi đối tượng sử dụng, góp phần thực hiện mục tiêu giảm sinh và phòng, chống HIV/AIDS Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị xã hội và bán rộng rãi theo giá thị trường các phương tiện tránh thai Tăng tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại.[40]

1.4.4 Dự án Nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện Chương trình

Nâng cao năng lực quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện Chương trình cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số và KHHGĐ ở các cấp, các ngành, đoàn thể, nhằm thực hiện thành công Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số và KHHGĐ Tập trung vào các hoạt động đào tạo, tập huấn, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện Chương trình và các Dự án thành phần; nghiệp vụ về dân số và KHHGĐ[40]

1.4.5 Dự án Nâng cao chất lượng thông tin quản lý chuyên ngành dân số và KHHGĐ

Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, số liệu chuyên ngành dân số và kế hoạch hoá gia đình, đáp ứng yêu cầu quản lý và điều hành Chương trình tại các cấp quản lý, góp phần xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội[40]

* Cải thiện chất lượng chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở Việt Nam

Chương trình do Pathfinder International, EngenderHealth và Ipas phối hợp cùng Bộ Y tế triển khai, thực hiện tại 11 tỉnh/thành, từ 1994 đến

2010

Trang 27

* Tăng cường chất lượng và sử dụng dịch vụ SKSS ở 12 tỉnh

Chương trình do UNFPA triển khai tại 12 tỉnh, thời gian: 2002 - 2005 Chương trình đã tập huấn cho lãnh đạo cơ quan y tế và những giảng viên chính của tuyến tỉnh về dân số và SKSS; tổ chức hội nghị vận động cho SKSS VTN trong trường học; cung cấp các trang thiết bị thiết yếu cho hệ thống quản lý thông tin y tế cấp tỉnh và huyện; tập huấn về quản lý, sử dụng, nâng cấp cho hệ thống thông tin y tế [10], [11]

1.5 Các nghiên cứu về sử dụng biện pháp tránh thai

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong các năm qua, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tình hình sử dụng các BPTT như: đề tài của Trần Đại Quân, Võ Minh Tuấn: tỷ lệ chấp nhận các BPTTHĐ ở phụ nữ sau phá thai tại bệnh viện Phụ Sản Mêkông năm

2019 đến 2020[39];

Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Vĩnh Phạm Uyên, Võ Minh Tuấn: tỷ

lệ dụng cụ tử cung T-Cu 380A không đúng vị trí nếu đặt ngay sau sinh năm 2017 đến 2020 [53] Mai Toàn Nghĩa, Vũ Thị Nhung: tỷ lệ áp dụng BPTT ở phụ nữ sau sinh từ 01 tháng đến 04 tháng và các yếu tố liên quan tại Thị Xã Cai Lậy[33]; Nông Thị Nương, Tô Hoàng Linh, Võ Minh Tuấn : Tỷ

lệ sử dụng phương pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ dân tộc thiểu số đã hai con tại huyện Krông Năng, Tỉnh Đăk Lăk[31];

Tác giả Nguyễn Thị Kim Xuyến có đề tài tình hình sử dụng BPTT ở phụ nữ từ 15-49 tuổi có chồng tại phường Tân Phú, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ năm 2019[55], nghiên cứu trên 355 phụ nữ từ 15-49 tuổi cho thấy tỷ

lệ phụ nữ hiện đang sử dụng BPTT là 84,5%, dụng cụ tử cung được lựa chọn cao nhất với 36,3% BPTT được sử dụng với tỉ lệ cao hơn có ý nghĩa thống kê

ở phụ nữ có 2 con trở lên và thời gian kết hôn từ 11 năm trở lên

Trang 28

Nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam năm 2017 của UNFPA [71] Tỷ lệ sử dụng các BPTT cho thấy 80,5% phụ nữ kết hôn trong độ tuổi 15-49 đang sử dụng một BPTT nào đó, trong đó

tỷ lệ sử dụng các BPTTHĐ là 64,4% Đặt vòng tránh thai là biện pháp phổ biến nhất (25,2%), tiếp theo là thuốc tránh thai (19,3%) và bao cao su (13,3%) Những rào cản trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và KHHGĐ của đồng bào thiểu số Việt Nam” của UNFPA năm 2018 [70]

Năm 2017 tác giả Võ Minh Tuấn và Thai Lina có đề tài đánh giá kiến thức thái độ về các BPTTHĐ trên phụ nữ đến nạo hút thai tại Bệnh Vệnh Từ Dũ[46], khảo sát 402 khách hàng tại Bệnh viện Từ Dũ, kết quả như sau: tỷ lệ có kiến thức đúng về BCS, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc tránh thai khẩn cấp lần lượt là: 34,3%, 2,1% , 4% Tỷ lệ có thái độ đúng về bao cao su, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc tránh thai khẩn cấp lần lượt là: 29,9% , 19,2%, 19,4% Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của khách hàng nạo hút thai là: tuổi, địa chỉ, học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, tình trạng hôn nhân, số con, số lần phá thai, có áp dụng tránh thai

Nghiên cứu về kiến thức - thái độ - thực hành về thuốc viên tránh thai

phối hợp, dụng cụ tử cung và bao cao su của phụ nữ đến phá thai tại Bệnh

Viện Đa Khoa Tỉnh Đồng Nai của tác giả Nguyễn Vũ Khánh và Tô Mai Xuân

Hồng tiến hành trên 384 phụ nữ đến phá thai tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai

năm 2016-2017 Kết quả: Tỷ lệ phụ nữ có kiến thức - thái độ - thực hành đúng

về thuốc tránh thai kết hợp lần lượt là 30,2%, 36,4% và 72,5%; về dụng cụ tử cung là 12,8%, 83,4% và 52,7%; về bao cao su là 80,2%, 56,5% và 30,8% Các yếu tố về nơi cư ngụ, trình độ học vấn, đã được nhân viên y tế tư vấn và thời gian quan hệ tình dục được xem là các yếu tố liên quan đến tỷ lệ đúng về kiến thức, thái độ và thực hành đúng về thuốc tránh thai kết hợp, dụng cụ tử cung và bao cao su[35]

Trang 29

Tác giả Lê Minh Thi và cộng sự nghiên cứu thực trạng tiếp cận và sử dụng các BPTT của bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ tiến hành trên 907 đối tượng Kết quả cho thấy 69,8% các bà mẹ hiện đang sử dụng một BPTT bất kỳ, trong đó vòng tránh thai đã được sử dụng nhiều nhất với 39,4% Nơi các phụ nữ tiếp cận các BPTT chủ yếu là cơ sở y tế (64,1%) tiếp đến

là nhà thuốc và cán bộ y tế, cộng tác viên dân số Việc tiếp cận và sử dụng các BPTT của bà mẹ còn hạn chế và thấp hơn các vùng khác Yếu tố dân tộc, sự trao đổi của vợ chồng, tiếp cận BPTT là các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các BPTT của bà mẹ

1.5.2 Tình hình nghiên cứu sử dụng các BPTT trên thế giới

Trên thế giới vào năm 2017, có 63% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đang

sử dụng một số hình thức tránh thai, bao gồm bất kỳ BPTT hiện đại hay truyền thống nào Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng BPTT ở Châu Phi thấp hơn nhiều (36%) so với các khu vực lớn khác trên thế giới, trong đó tỷ lệ này dao động

từ 58% ở Châu Đại Dương đến khoảng 75% ở Bắc Mỹ, Mỹ Latinh và Caribe vào năm 2017[74]

Ở Châu Á có tỷ lệ áp dụng các BPTT cao nhất (81%) trong tất cả các khu vực hoặc tiểu vùng trên thế giới vào năm 2017, tỉ lệ sử dụng BPTT rất cao ở Trung Quốc (83%) Ở các khu vực khác của Châu Á, tỷ lệ hiện sử dụng

trung bình là từ 56% đến 64% Trên thế giới có 14% phụ nữ trong độ tuổi

sinh đẻ sử dụng vòng tránh thai Ở châu Á vòng tránh thai thường được sử dụng khoảng 18% và tỷ lệ cao nhất hơn 40% ở Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Uzbekistan Ngoài ra, mức độ sử dụng DCTC khoảng từ 30% và 40% ở Israel, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Turkmenistan và

Việt Nam [68]

Nghiên cứu của Zhu và cộng sự về mối tương quan giữa khoảng cách 2 thai kì và những kết cục thai kì bất lợi bao gồm sanh non ( ≤37

Trang 30

tuần), nhẹ cân (≤2500g) và thai chậm tăng trưởng (dưới bách phân vị thứ 10) Những nguy cơ này tăng cao nhất trong khoảng thời gian dưới 6 tháng

và thấp nhất từ 18-23 tháng và tăng dần sau thời gian này Một nghiên cứu meta-analysis bao gồm 67 nghiên cứu (52 nghiên cứu đoàn hệ hoặc cắt dọc

và 15 nghiên cứu bệnh chứng) trên hơn 11 triệu thai kì từ 62 quốc gia về mối quan giữa khoảng cách 2 thai kì và kết cục thai nhi[79]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi tại TPLX - Tỉnh An Giang ở thời điểm điều tra tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

2.1.2.Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bà mẹ có con dưới 2 tuổi có địa chỉ thường trú hoặc tạm trú từ 6 tháng trở lên tại TPLX, tỉnh An Giang., đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời phỏng vấn

2.1.3.Tiêu chuẩn loại trừ

- Bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi không còn khả năng sinh đẻ: phụ

nữ đã cắt bỏ buồng trứng, tử cung;

- Các cặp vợ chồng mà người chồng hoặc người vợ mắc bệnh vô sinh

- Các cặp vợ chồng không còn sống chung do ly thân, làm ăn xa (>6 tháng)

- Các cặp vợ chồng mà đối tượng được chọn phỏng vấn bị câm điếc, mắc bệnh tâm thần không đủ minh mẫn để trả lời các câu hỏi phỏng vấn, đang mắc bệnh cấp cứu

- Đối tượng phỏng vấn đi vắng, đến nhà 3 lần không gặp

2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.4.1 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành tại một số phường, xã trong địa bàn TPLX, tỉnh An Giang

Trang 32

2.1.4.2 Thời gian nghiên cứu:

Từ tháng 05 năm 2020 đến tháng 07 năm 2021, trong đó thời gian thu

thập thông tin từ tháng 5 năm 2020 đến tháng 5 năm 2021 Thời gian còn lại

xử lý số liệu và viết bài

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và can thiệp không nhóm chứng qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1: nghiên cứu mô tả cắt ngang và giai đoạn

2: nghiên cứu can thiệp

Đối tượng

Bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi

Nghiên cứu Dịch tễ học mô tả cắt ngang

các BPTT

Đánh giá hiệu quả

Mô hình nghiên cứu + Thay đổi nhận thức + Tính bền vững

Trang 33

* Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ[41]:

Với:

n là cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu

Z (1-α/2 )= 1,96 (với mức tin cậy mong muốn là 95%)

p: Tỷ lệ ước đoán quần thể Trong nghiên cứu này tôi lấy p=0,79 theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thanh về thực trạng sử dụng các BPTT và vấn đề nạo hút thai của các bà mẹ đang nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi[34]

d: sai số tương đối cho phép, chọn d= 0,05

n: Cỡ mẫu tối thiểu

Áp dụng vào công thức ta có n =255

DE: hiệu lực thiết kế

Do sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm, nên để làm tăng độ chính xác của mẫu nghiên cứu, chúng tôi nhân với hiệu lực thiết kế DE là 2, ta có n = 255*2=510 Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu trong nghiên cứu này là: n = 510 Thực tế chúng tôi thu được 515 đối tượng bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi thỏa tiên chuẩn chọn mẫu được chọn vào nghiên cứu

2.2.2.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp (mục tiêu 3)

Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp là toàn bộ các bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi trong mẫu nghiên cứu chưa áp dụng các BPTT, người vợ không mang thai ở thời điểm bắt đầu can thiệp qua kết quả điều tra ở vòng đầu Qua thực tế kết quả điều tra ở vòng đầu chúng tôi xác định được là 84 người

2.2.3.Phương pháp chọn mẫu:

2.2.3.1 Giai đoạn 1: Chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang (mục tiêu 1,2)

Trang 34

- Bước 1: Chọn xã

Chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên Đầu tiên, chúng tôi

lập danh sách tất cả các phường, xã trong TPLX, sau đó bốc thăm ngẫu nhiên 4 phường để nghiên cứu là phường Mỹ Long, Mỹ Bình, Mỹ Phước và Mỹ Qúy để nghiên cứu

- Bước 2: Chúng tôi liệt kê danh sách tất cả các khóm trong 3 phường này và chọn ngẫu nhiên 3 khóm trong mỗi phường để nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

- Bước 3: Chọn những bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi đang sinh sống

tại các khóm trong phường đã được chọn ngẫu nhiên theo phương pháp

lấy mẫu chủ đích, tại mỗi khóm ấp chọn ngẫu nhiên 42 - 43 bà mẹ có

con < 2 tuổi

2.2.3.2 Giai đoạn 2: Chọn mẫu can thiệp (mục tiêu 3)

Chọn những đối tượng bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi chưa áp dụng BPTT để lấy mẫu lại sau can thiệp cộng đồng bằng phương pháp giáo dục truyền thông sức khỏe bằng bộ câu hỏi như câu hỏi ở giai đoạn đầu

2.2.4 Nội dung nghiên cứu:

2.2.4.1 Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Tuổi của bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi ghi theo tuổi Dương lịch , chia theo các độ tuổi: < 25 tuổi, 25-35 tuổi, > 35 tuổi

- Dân tộc: chia thành Kinh và dân tộc khác

- Tôn giáo: Đạo phật; Thiên Chúa; Tin lành; đạo khác; không có đạo

(Có đạo là thờ cúng theo đạo đó tại nhà hoặc đi lễ ở chùa, nhà thờ)

- Nghề nghiệp: nghề nghiệp chính đem lại thu nhập cho gia đình, chia thành 5 nhóm:

+ Công nhân

+ Nội trợ

Trang 35

+ Cán bộ, công nhân viên

- Tuổi kết hôn: tính theo năm bắt đầu chung sống của vợ chồng Chia thành các nhóm 18, >18 tuổi

- BPTT đang thực hiện các đang thực hiện gồm: đình sản nam, đình sản

nữ, thuốc cấy, thuốc tiêm, thuốc viên, đặt vòng, bao cao su và các biện pháp khác

- Hiểu biết về các BPTT:

+ Kiến thức về lợi ích KHHGĐ:

Tiêu chuẩn đánh giá dựa vào bảng câu hỏi trả lời đúng sai, đúng là khi biết:

(1) Hạn chế sinh đẻ, chủ động được thời điểm sinh con

(2) Có thời gian để chăm sóc gia đình, quan tâm sức khỏe tốt hơn (3) Có điều kiện làm kinh tế để thoát nghèo

(4) Giúp gia đình có điều kiện lo cho con học hành

(5) Giúp xã hội giảm tăng dân số

Phân loại kiến thức dựa trên tiêu chuẩn của Bloom

• Kiến thức tốt : khi trả lời đúng > 80% ( tức đúng 4 câu trở lên)

• Kiến thức Trung bình : khi trả lời đúng 2-3 câu

Trang 36

• Kiến thức kém : Khi trả lời đúng 0-1 câu

+ Biết các BPTT: có biết hoặc không biết

+ Biết tên từng BPTT: thuốc cấy, thuốc uống, thuốc tiêm, dụng cụ tử cung, bao cao su, đình sản nữ, đình sản nam, biện pháp khác

- Nguồn cung cấp thông tin về KHHGĐ từ:

+ Ti vi – radio + Tờ bướm, tranh, sách, báo; + Nhân viên y tế; + Cộng tác viên dân số;

+ Người thân, bạn bè, hàng xóm; + Đoàn thể

2.2.4.2 Tỉ lệ sử dụng các BPTT

- Có sử dụng bất kỳ một BPTT nào: có hoặc không

- Phân loại BPTT đang thực hiện: các BPTT đang thực hiện được phân thành 2 nhóm:

+ BPTT hiện đại : gồm đình sản nam, đình sản nữ, thuốc cấy, thuốc tiêm, thuốc viên, đặt vòng, bao cao su

+ BPTT truyền thống : gồm tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo, cho con bú vô kinh,

- Loại BPTT đang sử dụng: bà mẹ có sử dụng các BPTT là người vợ hoặc chồng đang sử dụng ít nhất 1 BPTT tại thời điểm điều tra, gồm:

Trang 37

2.2.4.3 Các yếu tố liên quan đến việc không sử dụng BPTT

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và nhóm tuổi: <20 tuổi hoặc

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và trình độ học vấn: từ trung

học cơ sở trở xuống và từ trung học phổ thông trở lên

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và kinh tế hộ gia đình: nghèo,

không nghèo

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và nơi sinh bé

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và cách thức sinh (sinh thường, sinh mổ)

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT với tiền sử hư thai, phá thai do mang thai ngoài ý muốn

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và giới tính của con

Trang 38

- Liên quan giữa không sử dụng BPTT và hiểu biết BPTT: biết và

không biết

2.2.4.4 Đánh giá can thiệp

- Truyền thông gián tiếp:

+ Viết bài tuyên truyền gửi đài truyền thanh TPLX, phường, xã phát hàng tuần vào 6 giờ sáng và 17 giờ chiều mỗi ngày

+ Xây dựng chuyên mục DS-KHHGĐ phát sóng trên đài Truyền hình vào tuần cuối mỗi tháng

+ Xây dựng chuyên mục DS-KHHGĐ trên báo An Giang định kỳ đăng vào số báo giữa kỳ của tháng

+ Cấp phát các sản phẩm truyền thông như tời rơi, áp phích, tài liệu, tập tin

- Truyền thông trực tiếp:

+ Phối hợp với các đơn vị y tế: Bệnh viện, Trung tâm Y tế, Phòng khám khu vực, Trạm y tế truyền thông trực tiếp đến các đối tượng đến các cơ

sở y tế

+ Phối hợp với các Ban, ngành, đoàn thể như Mặt trận, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Nông dân tuyên truyền qua các buổi sinh hoạt tổ, hội, sinh hoạt nhóm,

+ Tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề, sinh hoạt chuyên đề ở các địa bàn trọng điểm

+ Thực hiện vãng gia trực tiếp tại hộ gia đình các đối tượng chưa áp dụng BPTT thuộc địa bàn nghiên cứu

- Triển khai các hoạt động tuyên truyền lồng ghép với chương trình truyền thông chuyển đổi hành vi, dự án nâng cao chất luợng dân số trong hoạt động công tác DS-KHHGĐ đang thực hiện ở địa phương [39], [72]

Trang 39

- Tổ chức chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở 4 phường thực hiện điều tra

➢ Thời gian thực hiện can thiệp

Thời gian thực hiện sau khi kết thúc điều tra và đánh giá sơ bộ kết quả Bắt đầu thực hiện từ tháng 09/2020 – 03/2021

➢ Đánh giá can thiệp

Đánh giá trước và sau can thiệp:

*Kiến thức về sử dụng biện pháp tránh thai:

- Hiểu biết về lợi ích của thực hiện KHHGĐ:

Tiêu chuẩn đánh giá dựa vào bảng câu hỏi trả lời đúng sai:

(1) Hạn chế sinh đẻ, chủ động được thời điểm sinh con

(2) Có thời gian để chăm sóc gia đình, quan tâm sức khỏe tốt hơn (3) Có điều kiện làm kinh tế để thoát nghèo

(4) Giúp gia đình có điều kiện lo cho con học hành

(5) Giúp xã hội giảm tăng dân số

Đánh giá kiến thức theo 3 nhóm kiến thức:

+ Kiến thức khá, tốt: trả lời 4 - 5 ý đúng

+ Kiến thức trung bình: trả lời 2 – 3 ý đúng

+ Kiến thức kém trả lời < 1 ý đúng

- Hiểu biết các BPTT: có biết hoặc không biết

- Hiểu biết tên từng BPTT: thuốc cấy, thuốc uống, thuốc tiêm, dụng cụ

tử cung, bao cao su, đình sản nữ, đình sản nam, biện pháp khác

- Nguồn cung cấp thông tin từ:

+ Ti vi – radio + Tờ bướm, tranh, sách, báo;

+ Nhân viên y tế; + Cộng tác viên dân số;

+ Người thân; bạn bè, hàng xóm; + Đoàn thể

Trang 40

* Thực hành về sử dụng các BPTT của bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi

- Tỷ lệ áp dụng các BPTT của bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi sau can thiệp: biện pháp hiện đại và biện pháp khác

- BPTT đã áp dụng: thuốc cấy, thuốc uống, thuốc tiêm, dụng cụ tử cung, bao cao su, đình sản nữ, đình sản nam, biện pháp khác

2.2.5 Phương pháp thu thập và đánh giá số liệu

2.2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:

Bộ câu hỏi khảo sát bao gồm

Mẫu M1: Phiếu phỏng vấn bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi đang sử dụng BPTT hiện đại (Vòng tránh thai, thuốc tiêm, thuốc uống, thuốc cấy, bao cao su, triệt sản )

Mẫu M2: Phiếu phỏng vấn của bà mẹ có con đầu tiên dưới 2 tuổi không sử dụng BPTT hiện đại

2.2.5.2 Kỹ thuật thu thập thông tin:

Tập huấn cho các điều tra viên: các điều tra viên được làm việc với bộ câu hỏi và điều tra thử, sau đó tiến hành chỉnh sửa phiếu điều tra chưa hợp lý

Khảo sát thực tế tại địa phương, phỏng vấn các đối tượng khảo sát bằng các bộ câu hỏi thiết kế sẵn

Thực trạng tình hình sử dụng các dịch vụ KHHGĐ tại các cơ sở y tế

2.2.5.3 Người thu thập thông tin: điều tra viên đã được tập huấn kỹ

2.2.5.4 Tổ chức thu thập thông tin tại địa phương:

Ngày đăng: 14/03/2023, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn Kim An (2014) "Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai và đánh giá kết quả can thiệp cộng đồng ở các cặp vợ chồng 18-49 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang", Luận án chuyên khoa cấp II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai và đánh giá kết quả can thiệp cộng đồng ở các cặp vợ chồng 18-49 tuổi tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Tác giả: Văn Kim An
Năm: 2014
3. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung Ương (2019) "Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2019”, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội, tr-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2019
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung Ương
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2019
4. Bộ Y Tế (2016) "Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe sinh sản, năm 2016&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe sinh sản, năm 2016
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2016
5. BộY tế (2005) "Dân số kế hoạch hóa gia đình- tài liệu đào tạo hộ sinh trung học". Nhà xuất bản Y học, Bộ Y tế, 84-138&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số kế hoạch hóa gia đình- tài liệu đào tạo hộ sinh trung học
Tác giả: BộY tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học, Bộ Y tế
Năm: 2005
6. Bộ Y tế (2009) "Kế hoạch hóa gia đình. Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản", Hà Nội, 261-311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hóa gia đình. Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
7. Bộ Quốc phòng – Học Viện Quân y và Ủy ban quốc gia Dân số/ KHHGĐ (2000) “Xác định tỷ lệ thất bại, bỏ cuộc và nhu cầu sử dụng các loại vòng tránh thai ở Việt Nam giai đoạn 1995-2000”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ thất bại, bỏ cuộc và nhu cầu sử dụng các loại vòng tránh thai ở Việt Nam giai đoạn 1995-2000
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Học Viện Quân y, Ủy ban quốc gia Dân số/ KHHGĐ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
8. Ngô Văn Bốn ( 2004) "Nghiên cứu tình hình thực hiện KHHGĐ tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2003", Luận án chuyên khoa cấp II, chuyên ngành Quản lý y tế, Đại học Y - Dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình thực hiện KHHGĐ tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2003
Tác giả: Ngô Văn Bốn
Nhà XB: Đại học Y - Dược Huế
Năm: 2004
9. Cục thống kê tỉnh An Giang (2010) "Báo cáo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 tỉnh An Giang”, tr.22,23,36,37,40&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 tỉnh An Giang
Tác giả: Cục thống kê tỉnh An Giang
Năm: 2010
10. Nguyễn Đình Cử (2008) "Chính sách Dân số- Kế hoạch hóa gia đình ở nước ta- Thành tựu, bài học và thách thức, Thông tin Nghiên cứu Dân số- Kế hoạch hóa gia đình", số 2(8) 2008, tr.1.&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách Dân số- Kế hoạch hóa gia đình ở nước ta- Thành tựu, bài học và thách thức, Thông tin Nghiên cứu Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Năm: 2008
11. Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2015) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2015&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2015
Tác giả: Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2015
12. Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2016) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2016"&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2016
Tác giả: Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2016
13. Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2017) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2017"&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2017
Tác giả: Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2017
14. Chi., cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2018) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2018&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2018
Tác giả: Chi., cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2018
15. Chi., cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2019) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2019&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2019
Tác giả: Chi., cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2019
16. Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2020) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2020&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác KHHGĐ năm 2020
Tác giả: Chi cục dân số- kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2020
17. Chi cục dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2011) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ năm 2010&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ năm 2010
Tác giả: Chi cục dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2011
18. Chi cục dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang (2012) "Báo cáo kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ năm 2011&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ năm 2011
Tác giả: Chi cục dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh An Giang
Năm: 2012
19. Trần văn Chiến (2009) "Chính sách kiểm soát sinh ổ Singapore: lịch sử và những bài học kinh nghiệm, Viện nghiên cứu Dân số và phát triển Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình, Thông tin Nghiên cứu Dân số- KHHGĐ" số 3(12)2009, tr.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kiểm soát sinh ổ Singapore: lịch sử và những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Trần văn Chiến
Nhà XB: Viện nghiên cứu Dân số và phát triển Tổng cục Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
Năm: 2009
20. Chính Phủ (2011) "Về phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Quyết định số 2013/QĐ-TTG/ ngày 14/11/2011", tr2,3,5&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Quyết định số 2013/QĐ-TTG/ ngày 14/11/2011
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2011
21. Trần Tiến Đức, Trịnh Duy Luân (2003) "Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hình thành chuẩn mực sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình trong đời sống xã hội Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, tr 29-50&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hình thành chuẩn mực sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình trong đời sống xã hội Việt Nam
Tác giả: Trần Tiến Đức, Trịnh Duy Luân
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm