A MỞ ĐẦU Nhắc tới tỉnh Quảng Trị là mỗi người dân Việt Nam lại cảm thấy chạnh lòng, hồi ức về lịch sử đất nước trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt ùa về, đặc biệt là hai cuộc kháng chiến chống t.
NỘI DUNG
Khái quát chung
1 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tàng trữ trái phép chất ma túy được hiểu là việc người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy Cụ thể là được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hính sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Hành vi khách quan của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện ở Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vưòn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy (thời gian tràng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này).
Mặt chủ quan: Người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý Tội phạm là người biết hoặc buộc phải biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Mặt chủ thể: Chủ thể của các tội tàng trữ trái phép chất ma túy là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự (đủ tuổi và có năng lực hành vi dân sự)
Mặt khách thể: Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy Chất ma túy là chất kích thích gây nghiệm nguy hiểm cho xã hội nên việc quản lý, sử dụng chất ma túy phải tuân theo quy định của pháp luật Hành vi tự ý tàng trữ chất ma túy đã xâm phạm đến việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
Tình hình tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong không gian, thời gian nhất định.
2.2 Các yếu tố của tình hình tội phạm
Căn cứ vào định nghĩa có thể thấy tình hình tội phạm được chia ra thành hai yếu tố là thực trạng và diễn biến Trong đó, thực trạng phản ánh tội phạm xét trong tổng thể tĩnh còn diễn biến phản ánh tội phạm xét trong tổng thể động Nội dung
“tĩnh” bao gồm cả nội dung định lượng (mức độ) và định tính (tính chất) Do vậy, nội dung động bao gồm cả định lượng và định tính.
Trong nhiều tài liệu hiện nay, diễn biến của tội phạm thường được gắn với thực trạng của tội phạm ở khía cạnh mức độ Do vậy, thực trạng về tính chất được trình bày sau nội dung về diễn biến Tuy nhiên, những đặc điểm về tính chất của tội phạm cũng có thể có sự thay đổi theo thời gian và cũng có diễn biến mới của nó Việc nghiên cứu diễn biến này là cần thiết Nghiên cứu diễn biến của tội phạm không chỉ giới hạn là nghiên cứu diễn biến của tội phạm đơn thuần về số lượng mà còn phải nghiên cứu diễn biến của tội phạm về tính chất.
Nguyên nhân của tội phạm là sự tác động qua lại của các yếu tố tiêu cực bên trong và bên ngoài dẫn đến việc thực hiện tội phạm, Nguyên nhân bên trong và bên ngoài có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Theo đó, ở mức độ tổng quan, chúng ta có thể chia nguyên nhân của tội phạm thành những nhóm nguyên nhân sau: Nhóm nguyên nhân xuất phát từ môi trường sống, Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội, Tình huống cụ thể (Trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân đưa đến việc phát sinh tội phạm) Việc nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm có ý nghĩa rất lớn đối với công tác phòng ngừa tội phạm, vì chỉ khi tìm ra được nguyên nhân sâu xa gây nên tội phạm, hay là nguyên nhân tạo nên sự tăng, giảm của tổng số vụ phạm tội hoặc tổng số bị can trong thì mới có thể đề ra được những biện pháp phòng chống cũng như ngăn chặn tội phạm xảy ra trên thực tế.
Tình hình tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy trên đại bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2014 – 2018
1 Thực trạng của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 – 2018
1.1 Thực trạng của tội phạm xét về mức độ
Như đã biết, mức độ của tình hình tội phạm học “là số lượng các tội phạm đã thực hiện và những người thực hiện tội phạm đó ở một địa hình nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định” Như vậy, để làm rõ thực trạng của tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa tỉnh Quảng Trị, nhóm đã tập trung nghiên cứu và phân tích các số liệu trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2014-2018. Bảng 1.1 Bảng số liệu Số vụ phạm tội và số người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2014-2018
Năm Số vụ án Số bị can
Biểu đồ số vụ phạm tội và số bị can của tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng trị từ 2014-2018
Số vụ án Số bị can
Bảng thông kê và biểu đồ trên cho thấy, từ năm 2014-2018, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã khởi tố 205 vụ án và 327 bị can về tội tràng trữ trái phép chất ma túy.
Số lượng vụ án bị khởi tố trung bình hằng năm là 41, số bị can bị khởi tố trung bình hằng năm là 65,4 Bên cạnh đó, dựa vào kết quả thống kê, nhận thấy rằng có sự chênh lệch đáng kể giữa số vụ án đã được phát hiện và khởi tố với số bị can tham gia vào vụ án đó Mức chênh lệch được tính trung bình hằng năm giữa hai chỉ số này là 24,4 Lí do không có sự chênh lệch đáng kể giữa số bị can bị khởi tố và số vụ án bởi nhiều vụ án đã được khởi tố nhưng không khởi tố số bị can do không xác định được người phạm tội, bị can bỏ trốn, không biết bị can ở đâu nên phải đình chỉ, tam đình chỉ điều tra, giải quyết vụ án.
Bảng 1.2: So sánh tội tàng trữ trái phép chất ma túy ở địa bàn tỉnh Quảng Trị và tỉnh Tuyên Quang giai đoạn năm 2014-2018.
Năm Số vụ án Số bị can
Tuyên Quang Tỷ lệ % Quảng
Từ bảng trên, có thể nhận thấy rõ ràng rằng cùng trong giai đoạn năm 2014-
2018, tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có quy mô và mức độ nhỏ hơn đáng kể so với tỉnh Tuyên Quang Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong 5 năm từ 2014 -2018 chiếm 143,7% so với tỉnh Tuyên Quang (205/7820) về số vụ án và chiếm 201,7% về số bị can Năm
2018, số vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy của Tỉnh Quảng Trị là 12 vụ và chỉ chiếm tỉ lệ 6,1% so với tỉnh Tuyên Quang, trong khi đó số bị can của tỉnh Quảng Trị là 22 chiếm 9,8% so với tỉnh Tuyên Quang Đây cũng là năm mà tỉ lệ số vụ án và số bị can của tỉnh Quảng Trị với tỉnh Tuyên Quang là nhỏ nhất.
1.2 Thực trạng của tội phạm xét về tính chất a Cơ cấu theo hình thức phạm tội
Bảng 1.2: Bảng số liệu cơcấu theo hình thức phạm tội tràng trữ trái phép chất mà túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014 – 2018
Tổng số vụ Đồng phạm Đơn lẻ
Cơ cấu theo hình thức phạm tội tràng trữ trái phép chất mà túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2014-2018 Đồng phạm Đơn lẻ
Có thể thấy tội phạm đơn lẻ chiếm tỷ lệ lớn hơn so với hình thức đồng phạm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2014 Cụ thể, tội phạm đơn lẻ là 58,5%, trong khi đó hình thức đồng phạm là 41,5% Ở hình thức đồng phạm có rất nhiều dạng xong ít tồn tại ở dạng tội phạm có tổ chức mà chủ yếu là đồng phạm với những vai trò khác nhau như: chủ mưu, giúp sức về tinh thần, vật chất Điều đó, cho thấy sự đa dạng trong hình thức của tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Đối với tội phạm đơn lẻ, người thực hiện hành vi phạm tội ngày càng trở nên tinh vi, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vưòn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…). Thậm chí, hành vi tàng trữ của người phạm tội này còn diễn ra trong thời gian dài mà các cơ quan chức năng khó có thể phát hiện được. b Cơ cấu theo giới tính người phạm tội
Bảng 1.3: Bảng số liệu Cơ cấu theo giới tính người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn
Tổng số bị can Nữ Nam
Cơ cấu theo giới tính người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm
Trong năm 2014 số nam giới phạm tội về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị là 68 người, chiếm tỷ lệ 72,2%, nữ giới là 25 người chiếm tỷ lệ 27,8% Nguyên nhân của tình trạng trên là do đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm xã hội Nam giới có ưu thế về thể chất và thường là người lao động chính trong gia đình Những tư tưởng, quan niệm xã hội về nam giới ảnh hưởng không nhỏ đến nếp suy nghĩ, tư duy và hành động của “phái mạnh”, tác động tiêu cực dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật, phá vỡ các quy tắc và chuẩn mực xã hội.
Từ những phân tích khái quát trên, có thể thấy đặc điểm giới tính của nam giới là một trong những yếu tố cần xem xét khi nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Quảng Trị Tất nhiên, phải đặt đặc điểm giới tính đó trong một tổng thể các yếu tố như các điều kiện giáo dục, với các đặc điểm về chuẩn mực hành vi và hoạt động sống, với tính chất của các quan hệ lao động, gia đình, lối sống và những mối quan hệ khác so với nữ giới để có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn.
2 Diễn biến tình hình tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2014 – 2018
Bảng 2.1: Bảng số liệu về diễn biến tình hình tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2014 – 2018.
Biểu đồ diễn biến tội tàng trữ ma túy trên đại bàn tỉnh
Quảng trị trong giai đoạn 2014-2018
Số vụ phạm tội Số bị can
Thông qua số liệu ở bảng thống kê và biểu đổ trên, chúng ta có thể thấy từ cuối năm 2013 đến cuối năm 2018 xảy ra 205 vụ phạm tội / 324 bị can Nếu như ta lấy 2014 làm mốc là 100% thì:
- Năm 2015 số vụ phạm tội đã tăng lên 104 % nhưng số bị can lại giảm xuống là 82%
- Năm 2016 sốvụ phạm tội giữ nguyên so với 2015 và số bị can tiếp tục giảm đi 1% là 81%
Năm Số vụ phạm tội Số người phạm tội
- Năm 2017 số vụ phạm tội giảm còn 94% và số bị can cũng giảm tương ứng là 76%
- Năm 2018 số vụ phạm tội giảm xuống còn 25% và số bị can cũng giảm xuống mức là 24%.
Nhân xét: Số vụ phạm tội có xu hướng tăng từ năm 2014-2015 và tăng không đáng kể, giữa năm 2015-2016 thì số vụ phạm tội lại giữ nguyên nhưng số người phạm tội lại giảm đi Sau đó đã có xu hướng giảm từ năm 2017-2018 và đặc biệt là đến 2018 giảm đột ngột xuống còn 25% Tóm lại, diễn biến về mức độ của tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013-
2018 nằm trong tình trạng dao động khi tăng khi giảm.
Bảng 2.2: Bảng số liệu so sánh tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2014-2018 (Đơn vị: %)
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 100% 104% 104% 94% 25%
Tội phạm trên toàn tỉnh
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 100% 82% 81% 76% 24%
Tội phạm trên toàn tỉnh
Nhìn chung, qua bảng số liệu trên ta có thể thấy tình hình tội phạm nói chung cũng nằm trong tình trạng tương tự như tình hình tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy là nằm trong tình trạng lúc tăng lúc giảm trong giai đoạn 2014 – 2018. Đầu tiên, nhìn chung thì từ 2014 - 2015 tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tình hình tội phạm nói chung đều tăng không đáng kể, và từ 2016 - 2018 thì điểm tương đồng là đều giảm nhưng đối tới tội tàng trữ trái phép chất ma túy thì từ năm
2017 – 2018 đã giảm mạnh hơn so với tình hình tội phạm nói chung trên toàn tỉnh. Đối với tiêu chí số bị can, nhìn chung đã có sự khác biệt giữa sự tăng giảm của tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tình hình tội phạm nói chung trên toàn tỉnh Quảng Trị Theo đó, trong giai đoạn 2014 - 2015 trong khi số bị can của tội phạm trên toàn tỉnh tăng lên 21% thì số bị can của tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã giảm xuống 18% Còn trong giai đoạn 2016 - 2018 thì nói chung, tình hình tội phạm chung và tình hình tội tàng trữ trái phép chất ma túy đều giảm đều.
3 Sơ lược về tình hình tội phạm ẩn của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy Đầu tiên, tội phạm ẩn là các tội phạm đã thực tế xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm vì không được phát hiện, không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm Những số liệu thể hiện về diễn biến của tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy ở trên chỉ phản ánh được phần rõ của vấn đề tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2014 – 2018, bên cạnh đó vẫn còn những phần chưa được thể hiện, chưa đề cập đến Dựa trên nền tảng lý luận tội phạm học Mác xít các nhà nghiên cứu đã đưa ra bốn thứ bậc khác nhau để phân biệt mức độ ẩn của tội phạm từ thấp đế cao và theo đó thì tội liên quan đến ma túy mà cụ thể ở đây là tội tàng trữ trái phép chất ma túy óc mức độ ẩn ở cấp độ IV – mức độ cao nhất trong bốn thứ bậc Vì tội phạm ẩn không có trong thống kê nên việc chính xác về đầy đủ về độ ẩn của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là điều không thể thực hiện à việc nghiên cứu làm rõ phần nòa về độ ẩn chủ yếu dựa trên cơ sở của những nghiên cứu có liên quan, từ đó phân tích, tổng hợp và đánh giá, rút ra kết luận phù hợp
Theo đó, chúng ta có thể đánh giá một số lý do ẩn của loại tội phạm ẩn về tàng trữ trái phép chất ma túy như sau: Đầu tiên, về mặt tâm lý, những người phạm tội này cố ý tìm mọi cách che giấu hành vi phạm tội để không bị phát hiện, do vậy, một trongn hững nguyên nhân ẩn của loại tội phạm này thường xuất phát từ bản thân người phạm tội và trong một số trường hợp còn xuất phát ngay cả từ người dân với tâm lý là sợ bị “trừ khử” khi tố giác tội phạm Một lý do nữa là xuất phát từ nhân thân người phạm tội, có nghĩa là họ liên tục phạm tội trong một thời gian dài cho tới khi bị phát giác và phát hiện, đặc biệt là với tội tàng trữ trái phép ma túy thì hoạt động thường theo đường dây, thôn bản với một hệ thống lên hoàn và trong một thời gian dài khó bị phát hiện khi họ liên tục che chắn cho nhau Khi bị bắt giữ thì chỉ một người nhận tội, không chịu khai báo ra đồng phạm là người thân trong gia dình mình.
III Nguyên nhân và giải pháp phòng và chống tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
1 Nguyên nhân tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2014 – 2018
1.1 Các yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường a Nguyên nhân thuộc về kinh tế xã hội