1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn nghiên cứu tính khả thi về mặt tài chính dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón npk của tổng công ty phân bón và hóa chất dầu khí – ctcp tại vũng tàu

113 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nghiên cứu tính khả thi về mặt tài chính dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón NPK của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP tại Vũng Tàu
Trường học Trường đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật hóa học, Công nghệ hóa học, Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau thời gian học tập Khóa học Cao học Quản trị Kinh doanh của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, em hoàn thành nghiên cứu, áp dụng những kiến thưc đã được học tại khóa học Cao hoc vào đề

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Sự cần thiết của đề tài 8

2 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi của đề tài 9

3 Phương pháp nghiên cứu 9

4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn 9

5 Kết cấu của luận văn 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 11 1.1 Các phương pháp đánh giá đầu tư 11

1.1.1 Các phương pháp đánh giá dự án 11

1.2 Ươc tính dòng tiền dự án 13

1.2.1 Các nguyên tắc xác định dòng tiền của dự án 13

1.2.2 Các thành phần của dòng tiền dự án 15

1.2.3 Khấu hao 18

1.3 Quyết định đầu tư trong điêu kiên rủi ro 21

1.3.1 Khái quát về rủi ro trong quyết định đầu tư 21

1.3.2 Một số phương pháp đo lường và phản ánh rủi ro của dự án 21

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU TỔNG CÔNG TY PHÂN BÓN VÀ HÓA CHẤT DẦU KHÍ VÀ BỐI CẢNH DỰ ÁN 24

2.1 Giới thiệu về Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí 24

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 24

2.1.2 Các lĩnh vực hoạt động của Tổng Công ty 25

2.1.3 Mô hình tổ chức 25

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty 02 năm gần đây 26

2.2 Bối cảnh ra đời dự án nhà máy sản xuất NPK 29

2.2.1 Thị trường châu Á 29

2.2.2 Phân tích hiện trạng thị trường phân bón NPK tại Việt Nam 29

2.2.3 Nhu cầu tiêu thụ NPK tại Việt Nam 30

2.3 Định hướng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy 34

2.3.3 Nguyên liệu đạm 34

Trang 2

2.3.2 Nguyên liệu photphat 35

2.3.3 Nguyên liệu Kali 35

2.4 Kết luận sự cần thiết phải đầu tư 36

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN SẢN XUẤT NPK CÔNG NGHỆ VE VIÊN NÓNG CHẢY THÙNG QUAY, CÔNG SUẤT 400.000 TẤN/NĂM 37

3.1 Khái quát về dự án 37

3.1.1 Địa điểm xây dựng công trình 37

3.1.2 Quy mô công suất và hình thức đầu tư 37

3.1.3 Lựa chọn công nghệ sản xuất NPK 38

3.1.4 Giải pháp thực hiện đầu tư 55

3.2 Ước tính chi phí và hiệu quả kinh tế của dự án 56

3.2.1 Tính toán Tổng mức đầu tư 56

3.2.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội 61

3.2.3 Hiệu quả xã hội của dự án 76

3.2.4 Rủi ro và các giải pháp giảm thiểu rủi ro 76

3.3 Kết luận và kiến nghị 88

3.3.1 Sự cần thiết đầu tư 88

3.3.2 Địa điểm xây dựng công trình 89

3.3.3 Quy mô công suất và hình thức đầu tư 90

3.3.4 Lựa chọn công nghệ sản xuất NPK 90

3.3.5 Về phương án đầu tư 90

3.3.6 Về hiệu quả kinh tế tài chính, kinh tế xã hội 91

3.3.7 Kiến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 3

DANH MỤC BIỂU ĐỒ MỤC LỤC

Hình II.1 Mô hình tổ chức PVFCCo 25

Hình II.2 Thị trường phân bón NPK Châu A giai đoạn 2002-2011 29

Hình II.3 Thị trường phân bón NPK tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011 30

Hình II.4 Nhu cầu phân bón NPK theo cây trồng 31

Hình II.5 Nhu cầu NPK theo khu vực 31

Hình II.6 Dự báo nhu cầu phân bón NPK tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 34

Hình II.7 Sơ đồ các công nghệ sản xuất phân bón NPK 42

Hình III.1 Đồ thị phân tích độ nhạy của dự án theo 3 yếu tố giá nguyên liệu, giá sản phẩm và tổng vốn đầu tư 80

Hình III.2 Ảnh hưởng của rủi ro do biến động giá nguyên liệu 82

Hình III.3 Ảnh hưởng của rủi ro do biến động giá urê 82

Hình III.4 Ảnh hưởng của rủi ro do biến động giá sản phẩm 82

Hình III.5 Ảnh hưởng của rủi ro do sự thay đổi tổng mức đầu tư 84

Hình III.6 Ảnh hưởng của rủi ro do sự thay đổi cơ cấu vốn đầu tư 84

Hình III.7 Ảnh hưởng của rủi ro do sự khác biệt chi phí vận hành 85

Hình III.8 Ảnh hưởng của rủi ro do sự khác biệt lãi vay 86

Hình III.9 Ảnh hưởng của rủi ro do sự biến động tỷ lệ chiết khấu cho đại lý 87

Trang 4

DANH MỤC BẢNG PHỤ LỤC

Bảng I.1 Các nhóm tài sản theo MACRS 20

Bảng I.2 Tỷ lệ khấu hao theo MACRS 20

Bảng II.1 Báo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất năm 2010 27

Bảng II.2 Báo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất năm 2010 28

Bảng II.3 Các công ty sản xuất phân bón NPK chính ở Việt Nam 32

Bảng II.4 Nguồn cung cấp nguyên liệu dự kiến 36

Bảng III.1 Tiêu chí bắt buộc 39

Bảng III.2 Các tiêu chí so sánh 39

Bảng III.3 Ưu nhược điểm của phương pháp hóa học 42

Bảng III.4 Phân tíchp hương pháp hoá học 43

Bảng III.5 Ưu nhược điểm của phương pháp phối trộn thô 44

Bảng III.6 Ưu nhược điểm của phương pháp phối trộn tạo hạt 45

Bảng III.7 Ưu nhược điểm của công nghệ nén viên 46

Bảng III.8 Ưu nhược điểm của công nghệ ve viên hơi nước (SA-based) 46

Bảng III.9 Ưu nhược điểm của công nghệ ve viên hơi nước (Urê-based) 48

Bảng III.10 Ưu nhược điểm của công nghệ ve viên nóng chảy tháp 49

Bảng III.11 Ưu nhược điểm của công nghệ ve viên nóng chảy thùng quay 50

Bảng III.12 So sánh công nghên hơi nước (Urê-based) và công nghệ ve viên nóng chảy 51 Bảng III.13 Kết quả so sánh công nghệ ve viên hơi nước và công nghệ ve viên nóng chảy thùng quay 54

Bảng III.14 Bảng tổng mức đầu tư xây dựng công trình 59

Bảng III.15 Chi tiết vốn lưu động của dự án 60

Bảng III.16 Tiến độ đầu tư 61

Bảng III.17 Tiến độ vay vốn và giải ngân 61

Bảng III.18 Bảng khấu hao dự án 63

Bảng III.19 Dữ liệu giá sản phẩm 64

Bảng III.20 Dữ liệu giá nguyên liệu 65

Bảng III.21 Báo cáo doanh thu chi phí 67

Bảng III.22 Lịch khấu hao 69

Trang 5

Bảng III.23 Lịch vay và trả nợ 70

Bảng III.24 Báo cáo ngân lưu theo quan điểm tổng đầu tư 71

Bảng III.25 Báo cáo ngân lưu theo quan điểm chủ đầu tư 74

Bảng III.26 Kết quả phân tích kinh tế của dự án 75

Bảng III.27 Ba kịch bản được phân tích bao gồm: 79

Bảng III.28 Kết quả phân tích độ nhạy của dự án theo 3 yếu tố giá nguyên liệu, giá sản phẩm và tổng vốn đầu tư 80

Bảng III.29 Kết quả phân tích độ nhạy 2 chiều của dự án theo giá nguyên liệu và giá sản phẩm 83

Bảng III.30 Kết quả phân tích độ nhạy của dự án theo chi phí vận hành 85

Bảng III.31 Kết quả phân tích độ nhạy của dự án theo lãi suất vay 86

Bảng III.32 Kết quả phân tích độ nhạy của dự án theo tỷ lệ chiết khấu cho đại lý bán sản phẩm 87

Bảng III.33 Kết quả phân tích độ nhạy của dự án theo mức khai thác công suất 87

Bảng III.34 Bảng các chỉ tiêu tài chính 91

Bảng III.35 Chi tiêu tài chính của dự án khi thành lập doanh nghiệp mới 92

Bảng III.36 Chi tiêu tài chính của dự án khi sử dụng nguyên liệu urê DPM 92

Bảng III.37 Chi phí xây dựng 94

Bảng III.38 Tổng hợp chi phí thiết bị 96

Bảng III.39 Chi phí giải phóng mặt bằng 99

Bảng III.40 Chi phí quản lý dự án 100

Bảng III.41 Dự toán chi tiết chi phí QLDA của nhà thầu EPC 101

Bảng III.42 Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng 104

Bảng III.43 Dự toán chi tiết CP Thiết kế XDCT và chi phí bản quyền công nghệ 108

Bảng III.44 Chi phí lập hồ sơ yêu cầu, mời sơ tuyển mời thầu và chi phí đánh giá hồ sơ đề xuất, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu lựa chọn nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu cung cấp vật tư thiết bị, tổng thầu xây dựng 110

Bảng III.45 Chi phí giám sát khảo sát xây dựng, giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết bị 111

Bảng III.46 Chi phí khác 112

Trang 6

Sau thời gian học tập Khóa học Cao học Quản trị Kinh doanh của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, em hoàn thành nghiên cứu, áp dụng những

kiến thưc đã được học tại khóa học Cao hoc vào đề tài luận văn “Nghiên cứu

tính khả thi về mặt tài chính dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón NPK của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP tại Vũng Tàu” em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:

Các Thầy, Cô Viện Kinh tế và Quản lỹ đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong xuất thời gian được học tập tại trường

Em xin cảm ơn Thầy PGS.TS Nghiêm SĩThương– Người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài luận văn này

Toàn thể các Anh, Chị tại đơn vị công tác tại Ban Đầu tư Xây dựng - Tổng Công ty Phân bón và hóa chất Dầu khí đã giúp đỡ và tạo thuận lợi cho em nghiên cứu, tìm hiểu trong công tác đầu tư xây dựng công trình của Tổng Công

ty

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2013

Học viên

Phan Huy Dũng

Trang 7

ĐỀ TÀI LUẬN VĂN CAO HỌC

Nghiên cứu tính khả thi về mặt tài chính dự án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón NPK của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – CTCP tại Vũng Tàu

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Theo thống kê, năm 2007, lượng phân bón tiêu thụ trên toàn thị trường Việt Nam là 6,9 triệu tấn Trong đó, phân bón NPK chiếm tỉ trọng lớn nhất với gần 37% trong tổng các loại phân bón tiêu thụ ở thị trường Việt Nam Sản lượng sản xuất trong nước cơ bản

đã đáp ứng nhu cầu, tuy nhiên hàng năm nước ta cũng phải nhập khẩu khoảng 260 ngàn tấn NPK, chủ yếu là loại cao cấp nhằm bổ sung cho nguồn cung trong nước

Trong một vài năm gần đây, thói quen sử dụng phân bón của nông dân Việt Nam đã

có sự thay đổi đáng kể Họ giảm dần việc sử dụng phân đơn, nhất là phân urê và chuyển qua sử dụng ngày càng nhiều các loại phân bón tổng hợp, đa dinh dưỡng như phân NPK, phân vi sinh và phân hữu cơ Một số nguyên nhân của xu hướng tiêu dùng này chính là tính tiện dụng, năng suất cao hơn, tiết kiệm thời gian và tiết kiệm chi phí

Hiện thị trường phân bón trên thế giới và trong nước biến động phức tạp Giá phân bón trong nước thay đổi liên tục, riêng đối với phân NPK, giá bán tăng từ 30 đến 70% Giá NPK nhập khẩu tăng 79% so với năm 2007 Theo nhận định của các chuyên gia về phân bón, để bình ổn thị trường phân bón, giải pháp tốt nhất là thúc đẩy sản xuất trong nước

Hiện nay, trên thế giới có nhiều công nghệ sản xuất phân bón NPK, Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí đang lên kế hoạch xây dựng nhà máy sản xuất phân bón NPK Lãnh đạo Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí đang xem xét lựa chọn công nghệ và công suất sản xuất phù hợp với năng lực tài chính của mình Đề tài này đã chọn công nghệ sản xuất phân bón NPK theo công nghệ ve viên nóng chảy thùng quay với công suất 400.000 tấn/năm và đi sâu nghiên cứu về mặt tài chính của dự án Từ đó tư vấn cho Lãnh đạo Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí một góc độ nhìn nhận, đánh giá đối với tính khả thi về mặt tài chính của dự án sản xuất NPK theo công nghệ sản xuất ve viên nóng chảy thùng quay với nguyên liệu chính là phân bón đơn urê Trên cơ sở đó Lãnh đạo

Trang 8

Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí đưa ra quyết định phù hợp đối với vấn đề đầu

tư xây dựng dự án sản xuất phân bón NPK

2 Mục tiêu nghiên cứu và phạm vi của đề tài

- Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, khảo sát sự đáp ứng nhu cầu của thị trường phân bón trong nước và khu vực và với thế mạnh về nguồn nguyên liệu (khí đầu vào, urê và NH3), hệ thống phân phối mạnh và rộng khắp trên toàn quốc và năng lực tài chính khá mạnh của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí Từ đó đưa ra kiến nghị cho Tổng Công ty trong vấn đề quyết định đầu tư nhà máy sản xuất NPK tại Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, quy nạp vv dựa trên các nguồn tài liệu thu thập được về phân tích tài chính và tình hình hoạt động của Tổng Công

ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

4 Ý nghĩa khoa học thực tiễn

Trên cơ sở những bài học được sau khóa học cao học về Quản trị kinh doanh, những nghiên cứu, phân tích, đánh giá về mặt tài chính của dự án sản xuất NPK của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí, luận văn sẽ vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tiễn của dự án và đánh giá tình khả thi tính khả thi của dự án của Tổng Công ty

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn này được trình bày bao gồm:

- Lời nói đầu

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính dự án đầu tư

Trang 9

o Phương pháp đánh giá đầu tư

o Ước tính dòng tiền dự án

o Quyết định đầu tư trong điều kiện rủi ro

- Chương 2: Giới thiệu Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khi và bối cảnh dự

án

o Giới thiệu về Tông Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

o Bối cảnh ra đời dự án nhà máy sản xuất NPK

o Định hướng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy

o Kết luận sự cần thiết phải đầu tư

- Chương 3: Phân tích tài chính dự án sản xuất NPK công nghệ ve viên nóng chảy thùng quy, công suất 400.000 tấn/năm

o Khái quát về dự án

o Ước tính chi phí

o Kết luân và kiến nghị

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

1.1 Các phương pháp đánh giá đầu tư

1.1.1 Các phương pháp đánh giá dự án

1.1.1.1 Phương pháp hoàn vốn

a Thời gian hoàn vốn đơn giản, PB

Đây là khoảng thời gian kỳ vọng thu hồi vốn đầu tư ban đầu của dự án nhưng chưa tính đến chi phí sử dụng vốn Quy tắc tính chỉ tiêu này bao gồm 2 bước Trước hết, xác

định dòng tiền tích lũy trên cơ sở dòng tiền kỳ vọng của dự án Dòng tiền tích lũy trả lời

câu hỏi: Tại mỗi thời điểm của dự án số vốn chưa thu hồi hoặc thu nhập ròng là bao nhiêu? Dòng tiền tích lũy được tính toán bằng cách cộng lũy kế các dòng tiền của dự án

Công thức tính thời gian hoàn vốn PB đơn giản như sau:

b Thời gian hoàn vốn chiết khấu, PBck

Đây là khoảng thời gian cần thiết không chỉ để thu hồi vốn đầu tư ban đầu mà còn trang trải cả chi phí huy động vốn WACC của dự án Quy tắc tính chỉ tiêu này so với thời gian hoàn vốn đơn giản có thêm bước xác định dòng tiền chiết khấu Dòng tiền chiết khấu trả lời câu hỏi: thu nhập hàng năm của dự án sau khi trang trải chi phí vốn sẽ còn lại bao nhiêu? Dòng tiền chiết khấu được tính toán bằng cách tính giá trị hiện tại của các dòng tiền của dự án về thời điểm ban đầu, dùng chi phí vốn WACC làm tỷ suất chiết khấu Sau đó, trên cơ sở dòng tiền chiết khấu, người ta xác định dòng tiền lũy kế, rồi từ đó tính thời gian hoàn vốn

1.1.1.2 Giá trị hiện tại ròng NPV (Net Present Value)

a Định nghĩa NPV

Giá trị hiện tại ròng NPV là một phương pháp đánh giá khả năng sinh lợi của dự án

trên cơ sở kỹ thuật dòng tiền chiết khấu Phương pháp này bao gồm 3 bước chính sau:

Tính giá trị hiện tại của tất cả dòng tiền của dự án, kể cả dòng tiền vào và dòng tiền

ra, dùng chi phí vốn WACC của dự án làm tỷ suất chiết khấu

Tính tổng các giá trị hiện tại để có thể nhận được NPV của dự án

Trang 11

Nhận định về NPV:

 Khi một dự án có NPV < 0, có nghĩa là nó không sản sinh đủ thu nhập để trang trải

vốn đầu tư ban đầu và chi phí huy động vốn cho đầu tư đó

 Khi một dự án có NPV = 0, có nghĩa là thu nhập của nó vửa đủ để thu hồi vốn đầu

tư, và cho các nhà đầu tư được hưởng tỷ suất thu hồi yêu cầu của họ, tức là chi phí huy động vốn

 Khi dự án có NPV > 0 thì NPV là lãi ròng của dự án sau khi đã trang trải vốn đầu tư

ban đầu và chi phí vốn huy động

 Nếu 2 dự án loại trừ lẫn nhau, dự án nào có NPV lớn hơn thì dự án đó tốt hơn với

điều kiện NPV mang dấu dương

b Cach tinh

Về mặt toán học, quá trình tính NPV được biểu diễn theo công thức (7-1) sau đây

= CF0 + + + +… + (7-1)

= PF0 + CF1(PVIFk%,1) + CF2(PVIFk%,2) + … + CFn(PVIFk%,n)

Trong công thức trên, CFt là dòng tiền kỳ vọng của dự án ở cuối năm thứ t và các dòng tiền này có thể mang dấu âm hoặc dương tùy thuộc là dòng tiền ra hay dòng tiền vào, còn không là chi phí vốn của dự án

1.1.1.3 Tỷ suất sinh lợi nội tại, IRR( Internal Rate of Return)

a Định nghĩa IRR và cách tính

Để hiểu rõ bản chất của phương pháp IRR cần xem xét và trả lời câu hỏi sau: Nếu đầu tư 100 tỷ đồng vào dự án A và trong 3 năm tới lần lượt nhận được các khoản thu nhập hàng năm là 10, 60 và 80 tỷ đồng thì trong đầu tư này mỗi năm doanh nghiệp sẽ được

hưởng một tỷ suất sinh lợi là bao nhiêu phần trăm? Tỷ suất sinh lợi đó được gọi là tỷ suất sinh lợi nội tại IRR của dự án A

Để xác định IRR chúng ta phải sử dụng nguyên tắc giá trị hiện tại: Giá trị của vốn đầu tư chính là giá trị hiện tại của tất cả các lợi ích tương lai mà đầu tư đó mang lại, được chiết khấu về thời điểm ban đầu với một tỷ suất chiết khấu chính là tỷ suất sinh lợi nội tại của dự án Nói cách khác, IRR thực chất là một tỷ suất chiết khấu sao cho giá trị hiện tại của các dòng tiền ra của dự án bằng với giá trị hiện tại của các dòng tiền vào của dự án

Trang 12

Điều này cũng có nghĩa IRR là một tỷ suất chiết khấu sao cho NPV của dự án = 0 (bằng không)

Phương pháp tính toán IRR có dạng như sau :

= PF0 + CF1(PVIFIRR,1) + CF2(PVIFIRR,2) + … + CFn(PVIFIRR,,n)

b Nhận xét chung về phương pháp IRR của dự án

Phương pháp IRR cho biết khả năng sinh lợi của dự án tính bằng tỷ lệ phần trăm, vì vậy rất thuận tiện cho việc so sanhs các cơ hội đầu tư Tiêu chí đánh giá dự án này rất quan trọng vì nếu tỷ suất sinh lợi nội tại lớn hơn chi phí huy động vốn thì sẽ xuất hiện một mức thặng dư nhất định sau khi đã hoàn thành trả vốn và chi phí vốn, hiển nhiên là phần thặng

dư này sẽ thuộc về chủ đầu tư của dự án Ngược lại, nếu IRR thấp hơn chi phí vốn, việc thực hiện dự án sẽ mang lại những tổn thất tài chính cho chủ đầu tư

Như vậy, IRR có thể coi là ngưỡng hóa vốn của dự án và do đó rất hữu ích cho việc

đánh giá dự án Một vài đặc điểm khác và hạn chế của phương pháp IRR sẽ được làm rõ hơn ở phần đối chiếu hai phương pháp NPV và IRR

1.2 Ươc tính dòng tiền dự án

1.2.1 Các nguyên tắc xác định dòng tiền của dự án

Để đảm bảo tính hợp lý và độ chính xác cần thiết, việc xác định dòng tiền dự án phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc này đảm bảo nhận dạng đúng

dòng tiền liên quan (relavant cash flow) của dự án Dòng tiền liên quan là những dòng tiền

thuộc về dự án có ảnh hưởng và mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến thu nhập và chi phí của dự án Trong quá trình lập dòng tiền dự án có rất nhiều thông tin hoặc tham số dường như thuộc về dự án nhưng trên thực tế lại không hề ảnh hưởng đến dự án đang xem xét Nhận dạng và loại bỏ các thông tin như vậy là vô cùng cần thiết, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau công việc này không phải là đơn giản Hai nguyên tắc sau đây sẽ trợ giúp cho cán bộ lập dự án trong nhiệm vụ này:

a Nguyên tắc 1: Thu nhập của dự án phải là thu nhập tài chính, không phải là thu nhập kế toán vì những lý do sau:

Thứ nhất, dòng tiền để đo độ “trung thực” hơn của lợi nhuận hoặc chi phí liên quan

đến một dự án Dòng tiền chính là thu nhập tài chính hàng năm của dự án mà chúng ta tìm

Trang 13

hiểu khi nghiên cứu báo cáo tài chính Như đã biết, để thực hiện một dự án, doanh nghiệp phải mua và chi trả cho các tài sản và nguồn lực bằng tiền, khi đó họ phải chịu một chi phí

cơ hội không thể dùng số tiền đó vào một phương án khác Vì vậy, để tương thích, doanh nghiệp cũng cần phải đo lường lợi nhuận ròng tương lai bằng tiền Nếu như trong thực tiễn

kế toán cũng trình bày các giao dịch bằng tiền thì sẽ không có vấn đề gì xảy ra Nhưng các quy tắc kế toán lại quan tâm đến việc phân bổ chi phi đầu tư suốt đời sống kinh tế hữu ích chứ không phải là thời điểm chúng xuất hiện Điều này làm cho số liệu kế toán không phản ánh đúng “độ lớn thực tế” của dòng tiền vào hoặc dòng tiền ra tại những thời điểm khác nhau trong suốt đời sống của dự án

Thứ hai, dùng dòng tiền có thể tránh được tình trạng lưỡng ý về mặt ké toán Chúng

ta biết rằng, trên thực tế có nhiều cách xác định giá trị hàng tồn kho, phân bổ chi phí chung, chọn phương pháp khấu hao để tính toán chi phái và thu nhập Tất cả các phương pháp này đều chỉ được thể hiện nếu tuân thủ các quy tắc thực hành kế toán được chấp nhận rộng rãi Như vậy, với cùng một dự án có thể có các số liệu thu nhập kế toán khác nhau tùy thuộc vào việc quy tắc kế toán nào được áp dụng trong khi đó, người ta chỉ có thể có một

bộ số liệu duy nhất về các dòng tiền của dự án Doanh nghiệp bỏ tiền ra để đầu tư và chỉ nhận được một dòng tiền tương lai duy nhất, koong có tình trạng lưỡng ý trong các dòng tiền

b Nguyên tắc 2: Dòng tiền tăng thêm

Khi đánh giá dự án, chúng ta chỉ quan tâm đến các dòng tiền nảy sinh trực tiếp từ

quyết định chấp nhận dự án Những dòng tiền này, được gọi là dòng tiền tăng thêm (incremental cash flow) , biểu thị những thay đổi (hoặc chênh lệch) của dòng tiền tổng của

doanh nghiệp, xuất hiện như là kết quả trực tiếp của việc lựa chọn dự án Các vấn đề sau đây cần được lưu ý khi xác định dòng tiền tăng thêm

- Chi phí chìm (sink cost): Chi phí chìm là những chi phí đã được cam kết và thực hiện,

do đó nó không còn chịu ảnh hưởng của việc chấp nhận hay loại bỏ dự án Chẳng hạn, chi phí khảo sát địa điểm đặt nhà máy mới được thực hiện từ trước, chi phí sửa chữa nhà xưởng từ năm ngoái trước khi dự án được cân nhắc đặt tại khu vực có thể không liên quan vì đây là những chi phí đã bỏ ra và không thể thu hồi lại được Nhiều khi trong thực tế, nếu tính đến chi phí như vậy, một dự án có thể không đáng giá vì NPV

âm Tuy nhiên, nếu tuân thủ nguyên tắc dòng tiền tăng thêm thì dự án lại hoàn toàn có thể đáng giá

Trang 14

- Chi phí cơ hội (Opportunity costs): Trên thực tế, doanh nghiệp có thể có những tài sản

có thể sinh lợi ngay cả khi không sử dụng cho dự án đang được xem xét Nếu sử dụng các tài sản như vậy thì chi phí cơ hội cần được lưu ý Chẳng hạn, doanh nghiệp sở hữu một diện tích đất thích hợp cho việc mở văn phòng chi nhánh mới Như vậy, dự án

mở chi nhánh mới có cần phải tính đến chi phí mua hoặc thuê đất hay không? Câu trả lời là “có” nếu như diện tích đất này có thể được bán lại hoặc cho thuê Ngoài ra, chi phí tính cho dự án này phải là giá bán hoặc giá cho thuê mặt bằng ở thời điểm hiện tại của thị trường

- Ảnh hưởng ngoại sinh (ảnh hưởng dến các bộ phận khác của doanh nghiệp) Đây là những ảnh hưởng của dự án đến dòng tiền của các bộ phận khác của doanh nghiệp nhiều khi rất khó xác định Chẳng hạn, việc mở thêm một chi nhánh tại Hà Đông có thể làm giảm thu nhập của chi nhánh cũ tại thành phố Hà Nội Thu nhập do các khách hàng cũ của chi nhánh Hà Nội nay chuyển sang làm việc với chi nhánh Hà Đông không thể coi là thu nhập tăng thêm của dự án chi nhánh Hà Đông

- Chi phí vận chuyển, lắp đặt và chuyển giao công nghê: Điều này liên quan đến việc

xác định nguyên giá của tài sản cố định Rõ rang là các chi phí vận chuyển, lắp đặt và chuyển giao công nghệ phải được tính đủ vào nguyên giá tài sản cố định mà dự án mua sắm để làm cơ sở cho việc xác định đầu tư ban đầu cũng như mức khấu hao hàng năm

1.2.2 Các thành phần của dòng tiền dự án

Dòng tiền của dự án là tổng hợp của thu nhập và chi phí của dự án diễn ra trong suốt đời sống của nó từ giai đoạn khởi công ban đầu cho tới khi chấm dứt hoạt động Nói cách khác, đây là tập hợp của các dòng tiền ròng (dòng tiền vào trừ đi các dòng tiền ra) tại từng thời điểm trong đời sống của dự án Để thuận tiện cho việc xác định dòng tiền dự án, người

ta thường chia nó thành ba phần chính là: (a) dòng tiền ban đầu ICF (Initial cash flows), (b) dòng tiền hoạt động OCF (Operating cash flows), và (c) Dòng tiền kết thúc TCF (Terminal cash flows)

a Dòng tiền ban đầu (ICF)

Dòng tiền ban đầu của một dự án có thể gồm một số cấu thành Quan trọng nhất trong đó là tổng vốn đầu tư vào tài sản cố định, thường bao gồm giá mua cộng với chi phí lắp đặt, vận chuyển và chuyển giao công nghệ Chính tổng vốn đầu tư này là cơ sở để tính khấu hao hàng năm Ngoài cấu thành thứ nhất nói trên, thông thường một dự án đầu tư

Trang 15

cũng đòi hỏi ứng trước một lượng vốn lưu động ròng, tức là hiệu số giữa tài sản lưu động

và nợ ngắn hạn Ngoài ra, có cũng thể có các chi phí cơ hội mà dự án đầu tư phải chịu, chẳng hạn: nếu doanh nghiệp dùng đất của mình để thực hiện dự án thì cần phải tính toán chi phí cơ hội của việc bán hoặc sử dụng phần đất đó cho mục đích khác Cuối cùng, tại

thời điểm ban đầu, dự án cũng có thể có các dòng tiền vào do kết quả của việc thanh lý

thuần, người ta phải tiến hành một số xử lý về thuế đối với các tài sản thanh lý

Sau khi được nhận dạng đầy đủ, các thành phần nói trên sẽ được cộng lại với nhau

để cho ra dòng tiền ban đầu ICF Thông thường, dòng tiền ICF này dấu âm vì thành phần dòng tiền ra thường rất lớn so với thành phần dòng tiền vào từ việc thanh lý tài sản cũ, vì

vậy dòng tiền ban đầu thường được gọi là đầu tư ban đầu

Lưu ý là ICF thường được quy ước xuất hiện tại thời điểm 0 Trên thực tế, đầu tư mua sắm tài sản cố định có thể xuất hiện muộn hơn khi dự án được triển khai theo nhiều giai đoạn, nhưng để thuận tiện cho việc theo dõi và tính toán người ta thường chuyển đổi các đầu tư bổ sung này từ các thời điểm khác về thời điểm ban đầu

b Dòng tiền hoạt động

Thành phần thứ hai của dòng tiền dự án là dòng tiền hoạt động, OCF Về bản chất, đây là thu nhập tài chính ròng hàng năm của dự án khi nó đi vào hoạt động Như đã trình bày ở mục trước, dòng tiền này được xác định bằng cách lấy thu nhập kế toán của một năm cộng với khấu hao của chính năm đó

OCF = Lãi ròng + Khấu hao

Điều này có nghĩa là để tính được dòng tiền hoạt động, chúng ta phải xây dựng báo cáo thu nhập hàng năm của dự án, tính lãi ròng NI (thu nhập kế toán), rồi cộng trở lại với khấu hao

Trong nhiều trường hợp, một mặt thông tin không cho phép xây dựng trọn vẹn báo thu nhập; mặt khác việc lập báo cáo thu nhập cũng không cần thiết nên có thể xác định OCF trên cơ sở khai triển sau:

OCF = Lãi ròng + Khấu hao = NI + Dep = (Thu nhập bằng tiền – Chi bằng tiền – Dep)(1 – T) + Dep.T

= CFBT(1 – T) + Dep.T

= CFAT + Dep.T

Trong đó:

Trang 16

- NI, Net income, là lãi ròng hay thu nhập kế toán

- T, income tax rate, là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

- CFBT (cash flows before tax) là dòng tiền trước thuế

- CFAT (cash flows before tax) là dòng tiền sau thuế

- Dep ( depreciation) là mức khấu hao hàng năm

- Dep.T (depreciation tax saving) là tiết kiệm nhờ vào khấu hao

Như vậy, dòng tiền hoạt động OCF của một năm sẽ được xác định bằng cách lấy dòng tiền mặt sau thuế của năm đó CFAT cộng với mức tiết kiệm thuế nhờ khấu hao của năm đó Dep.T Các bước tính toán OCF, được tiến hành như sau:

Bước 1: Xác định dòng tiền mặt trước thuế CFBT Đây là tổng đại số của các dòng tiền mặt trước thuế vào và ra trong một năm Nói cách khác, CFBT là tổng thu bằng tiền trừ đi tổng chi bằng tiền Trong đó, thu bằng tiền có thể là doanh thu hoặc mức tiết kiệm chi phí, còn chi bằng tiền là các chi phí biến đổi, chi phí chung cố định hoặc các chi phí bằng tiền khác không kể khấu hao

Bước 2: Xác định dòng tiền mặt sau thuế CFAT như là hệ quả của CFBT

Bước 3: Xác định mức khấu hao trong năm Dep tùy thuộc vào phương pháp khấu hao của doanh nghiệp

Bước 4: Xác định mức tiết kiệm thuế nhờ khấu hao Dep.T

Bước 5: Xác định OCF – CFAT + Dep.T

Cần nhấn mạnh là, việc tính toán OCF theo phương pháp khai triển này là cách làm của chuyên gia, đơn giản hơn, nhưng có thể làm lu mờ bản chất tìa chính của OCF với tư cách là thu nhập tài chính hàng năm của doanh nghiệp, cụ thể trong trường hợp này là một

dự án

c Dòng tiền kết thúc (TCF)

Thành phần thứ ba của dòng tiền dự án được gọi là dòng tiền kết thúc TCF vì nó bao gồm các thu nhập và chi phí liên quan đến việc chấm dứt hoạt động của dự án Thông thường TCF có các cấu thành chính như: (a) Vốn lưu động ứng trước được thu hồi lại khi chấm dứt hợp đồng, (b) Giá trị thanh lý thuần của các tài sản của dự án, và (c) chi phí khắc phục hậu quả của dự án về mặt môi trường và các chi phí liên quan khác

Lưu ý là TCF được quy ước phát sinh tại thời điểm cuối cùng của đời sống dự án, mặc dù trên thực tế, có những thu nhập và chi phí liên quan đến việc chấm dự án có thể

Trang 17

xuất hiện sớm hơn Chẳng hạn, một số tài sản có thể được thanh lý sớm hơn nếu không còn dùng đến nữa Tương tự, một số công việc khôi phục môi trường cảnh quan cũng có thể bắt đầu từ lâu trước khi dự án ngừng hoạt động

1.2.3 Khấu hao

Trong quá trình lập dự án chúng ta cần phải quan tâm đến khấu hao bời vì, các phương pháp khấu hao khác nhau có ảnh hưởng rất lớn đến dòng tiền ròng của dự án, và

do đó có ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án

1.2.3.1 Một số khái niệm liên quan

- Mức khấu hao hàng năm MKH: Không phụ thuộc vào phương pháp khấu hao, mức khấu hao trong một năm được xác định theo công thức:

MKH = Tỷ lệ khấu hao x Gốc khấu hao

- Tỷ lệ khấu hao TLKH: Tỷ lệ khấu hao hàng năm là tỷ lệ phần trăm giá trị của tài

sản được trích khấu hao Tỷ lệ này có thể rất khác nhau do phụ thuộc vào

phương pháp khấu hao

- Gốc khấu hao GKH: Đây là phần giá trị của tài sản mà trên đó người ta tính mức khấu hao Giá trị này phụ thuộc vào phương pháp khấu hao

- Nguyên giá NGTS: Đây là toàn bộ chi phí cần thiết để đưa thiết bị vào sản xuất,

bao gồm chi phí mua sắm, vận chuyển, lắp đặt, chuyển giao công nghệ và chế

tạo bổ sung

- Giá trị còn lại GTCL: Giá bán ước tính của tài sản khi đời sống kinh tế hữu ích

của nó chấm dứt Đây là một khái niệm thường được sử dụng khi tính mức khấu

hao hàng năm theo phương pháp khấu hao đều

- Giá trị thanh lý GTL Giá bán ước tính của tài sản tại một thời điểm đang được

quan tâm Như vậy, giá trị còn lại là một trường hợp đặc biệt của giá thanh lý tại

thời điểm đời sống kinh tế hữu ích của tài sản chấm dứt

- Giá sổ sách GSS (Book Value) Giá trị còn lại của tài sản trên số kế toán là một

thời điểm (thời điểm xem xét) Thông thường, giá sổ sách được tính bằng cách lấy nguyên giá trừ đi tổng khấu hao đã thực hiện cho tới thời điểm mà tài sản

này được xem xét thanh lý

- Giá thanh lý thuần, GTLT: Giá trhanh lý sau khi đã xử lý thuế Khi một tài sản

được bán đi, một thu nhập tăng thêm sẽ được tạo ra và sẽ phải chịu thuế thu

Trang 18

nhập Thu nhập đó tăng thêm đó chính là chênh lệch giữa giá bán và giá sổ sách Trường hợp giá sổ sách lớn hơn giá bán, doanh nghiệp chịu một khoản lỗ, doanh

nghiệp sẽ được giảm trừ thuế

1.2.3.2 Các phương pháp khấu hao chính

Vể mặt lý thuyết có nhiều phương pháp khấu hao khác nhau, chúng ta sẽ đề cập đến hai phương pháp chính, đó là: (a) Khấu hao đều, và (b) Hệ thống thu hồi vốn đầu tư tăng tốc biến thể

a Khấu hao đều

Đây là một phương pháp mà trong đó mức khấu hao hàng năm bằng 1/n, trong đó n

là đời sống kinh tế hữu ích của tài sản Gốc khấu hao bằng nguyên giá của tài sản trừ đi giá trị còn lại Do vậy:

Mức khấu hao, MKH = const = )(Nguyên giá – Giá trị còn lại) (8-1)

- Ưu điểm: Trước hết, mức khấu hao đều hàng năm tạo ra một sự cân bằng tương đối về lợi ích giữa chủ doanh nghiệp và xã hội; doanh nghiệp thu hồi vốn trong khi chính phủ vẫn có thuế để thực hiện phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, mức khấu hao đều hàng năm làm cho chi phí hoạt động được ổn định Điều này được giải thích như sau: Nếu như phương pháp khấu hao đều được áp dụng thì chi phí hoạt động hàng năm sẽ bằng nhau, do đó thu nhập kế toán và thu nhập tài chính cũng bằng nhau, do đó thu nhập kế toán và thu nhập tài chính cũng sẽ bằng nhau nên rất thuận lợi cho việc xác định lợi nhuận, phân phối lợi nhuận cũng như trả công lao động và cổ tức

- Nhược điểm: Dễ thấy rằng, vì vốn đầu tư mua tài sản lấy từ thu nhập sau thuế

của người chủ tài sản, nên điều tự nhiên là người có chủ quyền thu hồi vốn của mình càng sớm càng tốt Chính vì vậy, khấu hao đều làm cho quá trình thu hồi vốn bị chậm lại, không khuyến khích đầu tư Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng như hiện nay, điều này lại càng không phù hợp Ngoài ra, khấu hao đều còn gặp phải khó khăn vì phải xác định đời sống và giá trị còn lại của tài sản Cuối cùng, chính việc không cho phép thu hồi toàn bộ nguyên giá cũng là điểm hạn chế dẫn đến việc các nhà đầu tư không mặn mà trong đầu tư mới

b Hệ thống khấu hao MACRS

Trang 19

Để khắc phục các nhược điểm của khấu hao đều, phương pháp khấu hao MACRS

đã được nghiên cứu, phát triển, sửa đổi và chính thức áp dụng tại nhiều nước Phương pháp này có những đặc điểm chính như sau:

- Cho phép khấu hao nhanh để khuyến khích đầu tư

- Tất cả các tài sản được chia thành 6 nhóm theo đời sống bảng 8-2, trong đó có hai nhóm bất động sản là nhóm MACRS-21,5 và MACRS-31,5 năm

- Tỷ lệ khấu hao trong từng năm của từng nhóm được tính sẵn, lập thành bảng để

sử dụng Riêng hai nhóm bất động sản chi được khấu hao đều Số liệu cụ thể và

tỷ lệ khấu hao được trình bày trên bảng 8-3

- “Nguyên tắc nửa năm”: vì trong năm đầu các tài sản thường không hoạt động hết công suất nên tỷ lệ khấu hao của năm thứ nhất chỉ bằng một nửa so với mức

Bảng I.1 Các nhóm tài sản theo MACRS

MACRS – 3 năm Một số công cụ sản xuất chuyên dùng

MACRS – 5 năm Xe ca, xe tải nhẹ, máy vi tính và một số thiết bị sản xuất

MACRS – 7 năm Hều hết các thiết bị công nghiệp, trang bị nội thất

MACRS –10 năm Một số thiết bị có đời sống dài hơn

MACRS-21.5 năm Bất động sản

MACRS–31.5 năm Bất động sản công nghiệp và thương mại

Bảng I.2 Tỷ lệ khấu hao theo MACRS

Nhóm tài sản

Năm

MACRS – 3 năm 33% 45 15 7

Trang 20

so với số năm theo nhóm đời sống

1.3 Quyết định đầu tư trong điêu kiên rủi ro

1.3.1 Khái quát về rủi ro trong quyết định đầu tư

Như chúng ta đã biết, mọi quyết định đầu tư đều kỳ vọng mang lại lợi nhuận nhưng cũng đồng thời hàm chứa rủi ro Rủi ro là sự dao động của các biến cố khả dĩ của kết quả đầu tư đang được tiến hành Chúng ta cũng đã nhận định rằng rủi ro có thể bao gồm rủi ro thị trường và rủi ro đặc thù, nhưng thông qua đa dạng hóa đầu tư người ta có thể giảm thiểu, trong một chừng mực nào đó, ảnh hưởng của rủi ro đặc thù, tuy nhiên, rủi ro thị thị trường thì không thể giảm thiểu bằng đa dạng hóa Nhận định này có thể dẫn đến kết luận rằng, chỉ cần đa dạng hóa đầu tư tốt thì có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro đặc thù Nhưng một kết luận như vậy chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết Trên thực tế, không thể có một danh mục một danh mục đầu tư hoàn hảo nên người ta luốn cố gắng đánh giá chính xác rủi ro đặc thù

để từ đó có biện pháp chủ động giảm thiểu ảnh hưởng của nó Rủi ro đặc thù của dự án hay

còn gọi là rủi ro riêng có của dự án thường được đánh giá thông qua bốn phương pháp: (1)

phân tích độ nhạy, (2) phân tích kịch bản, (3) mô phỏng Monte Carlo, và (4) cây quyết định

1.3.2 Một số phương pháp đo lường và phản ánh rủi ro của dự án

1.3.2.1 Phân tích độ nhạy

Giá trị hiện tại ròng NPV của dự án phụ thuộc vào nhiều tham số của dự án như doanh số, giá bán, chi phí, tỷ suất chiết khấu v.v Các tham số này trong thực tế là những đại lượng không thể ước lượng một cách hoàn toàn chắc chắn Vì vậy, khi tham số này thay đổi, NPV của dự án sẽ thay đổi Phân tích độ nhạy là việc làm chủ động làm thay đổi các giá trị của một tham số, trong khi cố định các tham số khác, để biết được NPV sẽ thay đổi như thế nào khi tham số đó thay đổi trong một phạm vi nhất định

Trang 21

Tuy nhiên, với rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng thường xuyên thay đổi nên các tham

số của dự án khó có thể giữ nguyên giá trị như trong phương án cơ sở Điều gì sẽ xảy ra với NPV của dự án khi các tham số chính (chẳng hạn: giá bán, chi phí biến đổi đơn vị hoặc chi phí vốn) thay đổi? Để trả lời được câu hỏi này cần tiến hành bước tiếp theo, đó là sự nghiên cứu sự biến động của NPV khi một tham số của dự án thay đổi trong khi các tham

số khác được giả định là cố định Miền biến thiên của các tham số được ấn định theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị cơ sở Lưu ý là, mức độ biến thiên của mỗi tham số là không đồng nhất do mỗi tham số có thể chịu tác động của các nhân tố khác, vì vậy khi nghiên cứu ảnh hưởng của từng tham số riêng biệt, người ta có thể chọn cho nó một miền biến thiên riêng Tuy nhiên, bằng cách giả định các tham số cũng biến thiên trong một miền, chúng ta có thể thấy được sự biến thiên của tham số nào ảnh hưởng nhiều hơn đến tính khả thi của dự án

1.3.2.2 Phân tích kịch bản (Scenario analysis)

Phân tích độ nhạy là phương pháp phân tích rủi ro được sử dụng rộng rãi nhất Phương pháp này đã cho phép thấy được ảnh hưởng của sự biến thiên của một tham số tới NPV của dự án Tuy nhiên, khi bàn đến rủi ro của dự án chúng ta không chỉ nói đến giá trị

cụ thể của NPV thể hiện qua lỗ hay lãi mà cần phải quan tâm đến mức độ không chắc chắn của trị số NPV đó Và đây chính là nhược điểm quan trọng nhất của phân tích độ nhạy – nó chưa đề cập đến xác suất xuất hiện của các biến cố của một tham số Phân tích bối cảnh là

là một phương pháp được sử dụng để khắc phục nhược điểm nêu trên của phân tích độ nhạy Về bản chất, phương pháp này đề cập không chỉ độ nhạy của NPV trước sự biến thiên của các tham số chủ yếu mà còn phản ánh cả mức độ chắc chắn cảu phạm vi biến thiên của tham số đó Trong đó, mức độ chắc chắn của phạm vi biến thiên được biểu hiện bởi xác suất xuất hiện của các giá trị cụ thể của các tham số

Thông thường trong phân tích bối cảnh, người ta xây dựng ba kịch bản khác nhau

đó là: kịch bản cơ sở, kịch bản tốt nhất và kịch bản xấu nhất Kịch bản cơ sở là tình huống khi mà các biến đầu vào được cho tại các giá trị tin cậy nhất của chúng mà người ta có thể ước tính Kịch bản tốt nhất là khi tất các biến đầu vào nhận được các giá trị tốt nhất có thể

có (giá bán cao nhất, chi phí vốn thấp nhất, chi phí biến đổi nhỏ nhất…) Kịch bản xấu nhất xảy ra khi biến đầu vào nhận các giá trị xấu nhất (sản lượng hoặc giá bán thấp nhất, vốn đầu tư cao nhất…)

Bởi vì kết quả đầu tư là một giá trị kỳ vọng của các biến cố khả dĩ trong tương lai,

nên NPV là dòng tiền kỳ vọng của các dòng tiền khả dĩ mà dự án có thể mang lại Trên cơ

Trang 22

sở ba kịch bản trên, người ta tính NPV của các kịch bản và từ đó xác định NPV kỳ vọng của dự án, sai lệch chuẩn, hệ số phương sai, làm cơ sở cho việc đánh giá rủi ro của dự án

Vận dụng các khái niệm trên đây, chúng ta có thể xác định các đại lượng phản ánh rủi ro của dự án theo các công thức sau:

Trang 23

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU TỔNG CÔNG TY PHÂN BÓN VÀ HÓA CHẤT DẦU KHÍ

VÀ BỐI CẢNH DỰ ÁN 2.1 Giới thiệu về Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí - Công ty cổ phần được thành lập theo quyết định số 02/2003/QĐ-VPCP ngày 28/03/2003 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Tổng Công ty chính thức đi vào hoạt động từ ngày 19/01/2004 Tổng Công ty

có nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, vận hành sản xuất Nhà máy đạm Phú Mỹ; Sản xuất, kinh doanh phân đạm, amonia lỏng, khí công nghiệp và các sản phẩm hóa chất khác có liên quan

Ngay khi có quyết định thành lập, Tổng Công ty đã nhanh chóng tiến hành công tác kiện toàn tổ chức, chuẩn bị các điều kiện về nhân lực và thị trường để có thể tiếp nhận, quản lý, vận hành và tiêu thụ thành công và có hiệu quả các sản phẩm của Nhà máy Đạm Phú Mỹ Ngày 21/09/2004, Tổng Công ty đã tiếp nhận bàn giao Nhà máy đạm Phú Mỹ từ

tổ hợp Nhà thầu Technip - Samsung và Ban QLDA Nhà máy Đạm Phú Mỹ Đây cũng là thời điểm những lô sản phẩm chính thức đầu tiên của Công ty được đưa ra thị trường với thương hiệu “Đạm Phú Mỹ” Trong hơn 5 năm qua, Tổng Công ty đã thực hiện chức năng quản lý sản xuất và kinh doanh rất tốt, đạt các mục tiêu với mức độ cao và đóng góp quan trọng cho ngành Dầu khí cũng như nền nông nghiệp trong nước

Hiện nay, Tổng Công ty đang cung cấp cho thị trường trong nước khoảng 50% nhu cầu phân đạm urê (tổng nhu cầu sử dụng phân đạm urê cả nước bình quân khoảng 1,6 – 1,8 triệu tấn/năm) và 40% nhu cầu khí amôniac lỏng được sản xuất từ nhà máy Đạm Phú Mỹ

Đứng trước xu thế phát triển kinh tế của đất nước ngày 01/09/2006 Bộ Công nghiệp

đã có quyết định về việc cổ phần hóa Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí, và đến 01/09/2007 công ty chính thức chuyển thành Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí Ngày 05/11/2007 Công ty chính thức niêm yết 380.000.000 cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Tại đại hội đồng cổ đông năm 2008 ngày 5/4/2008, Công ty Cổ phần Phân đạm và Hóa chất Dầu khí (Đạm Phú Mỹ- PVFCCo) đã thống nhất chuyển công ty này thành Tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Ngày 15/05/2008,

Trang 24

Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí chính thức chuyển đổi thành Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí – Công ty Cổ phần (Tên viết bằng Tiếng Anh là PetroVietnam Fertilizer and Chemicals Corporation và tên viết tắt là PVFCCo) theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/05/2008 Đây là cơ hội rất tốt để Công ty phát triển ổn định, vững chắc và tăng tốc trong thời gian tới

2.1.2 Các lĩnh vực hoạt động của Tổng Công ty

Sản xuất, kinh doanh phân đạm, amôniac hóa lỏng, khí công nghiệp, các sản phẩm hóa chất khác;

Các dịch vụ kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh phân đạm và các sản phẩm hóa chất khác có liên quan (trừ hóa chất có tính độc hại mạnh);

Sản xuất và kinh doanh điện;

Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật

2.1.3 Mô hình tổ chức

Hình II.1 Mô hình tổ chức PVFCCo

Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ):

ĐHĐCĐ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty, có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của HĐQT về tình hình hoạt động kinh doanh; quyết định các chiến lược,

Trang 25

phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư; tiến hành thảo luận thông qua bổ sung, sửa đổi Điều lệ của Công ty; bầu, bãi nhiệm HĐQT, Ban kiểm soát; và quyết định bộ máy tổ chức của Công ty

Hội đồng Quản trị (HĐQT):

HĐQT là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 5 thành viên với nhiệm kỳ 05 (năm) năm HĐQT nhân danh Công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ HĐQT

có quyền và nghĩa vụ giám sát hoạt động của Tổng giám đốc và những cán bộ quản lý khác trong Công ty

Ban Kiểm soát (BKS):

Bao gồm 03 (ba) thành viên do Đại hội đồng cổ đông bổ nhiệm với nhiệm kỳ năm (05) năm; BKS có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của HĐQT, hoạt động điều hành của Tổng Giám Đốc và các Báo cáo tài chính Ban kiểm soát hoạt động độc lập với HĐQT và Tổng Giám Đốc

Ban tổng giám đốc (BGĐ):

Bao gồm 07 người: 01 Tổng giám đốc và 06 Phó Tổng giám đốc Tổng giám đốc điều hành, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của Công

ty, chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao

Các Phó Tổng giám đốc giúp việc Tổng giám đốc trong từng lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về các nội dung công việc được phân công và những công việc được Tổng giám đốc uỷ quyền

2.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty 02 năm gần đây

Trang 26

Bảng II.1 Báo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất năm 2010.

Trang 27

Bảng II.2 Báo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất năm 2010

Trang 28

2.2 Bối cảnh ra đời dự án nhà máy sản xuất NPK

Châu Á đang là thị trường tiêu thụ phân bón lớn nhất thế giới Tiêu thụ phân bón của Châu Á mùa vụ 2010/11 là 97 triệu tấn dưỡng chất, đạt 57% lượng tiêu thụ phân bón thế giới

Tiêu thụ NPK ở Châu Á khá ổn định trong các năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2005 – 2011 Năm 2011, cả Châu Á tiêu thụ 15 triệu tấn NPK Tuy nhiên xét về tỷ lệ sử dụng NPK với tổng lượng phân bón sử dụng, tỷ lệ này của Châu Á có khuynh hướng giảm do sự gia tăng của các loại phân hữu cơ và vi sinh

2.2.2 Phân tích hiện trạng thị trường phân bón NPK tại Việt Nam

Trang 29

2.2.3 Nhu cầu tiêu thụ NPK tại Việt Nam

Hình II.3 Thị trường phân bón NPK tại Việt Nam giai đoạn 2000-2011

từ 18% lên 41% trong giai đoạn này

Phân NPK được sử dụng cho khá nhiều loại cây trồng ở Việt Nam Các loại cây trồng cần NPK chính là lúa, ngô và mía Trong đó, lúa chiếm đến 68% lượng NPK tiêu thụ, ngô và mía lần lượt chiếm 10% và 4% Phần NPK còn lại dùng để bón cho rau quả, đậu nành và các loại cây trồng khác

Trang 30

Hình II.4 Nhu cầu phân bón NPK theo cây trồng

Nguồn: Cục Trồng trọt

Ở Việt Nam, nhu cầu phân NPK tập trung ở miền Nam, nơi có đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa của cả nước Nhu cầu tiêu thụ phân NPK ở miền Nam chiếm 52% tổng lượng NPK tiêu thụ, trong khi đó miền Bắc và miền Trung chiếm lần lượt 28% và 20%

Hình II.5 Nhu cầu NPK theo khu vực

Nguồn: Cục trồng trọt

2.2.3.1 Sản xuất phân bón NPK trong nước

Trang 31

Do nhu cầu NPK trong nước tăng cao, sản lượng NPK trong nước cũng gia tăng nhanh chóng trong giai đoạn 2000 –2011 Năm 2000, sản lượng NPK trong nước đạt 725 ngàn tấn, đáp ứng 78% nhu cầu tiêu thụ Đến năm 2011, lượng NPK sản xuất trong nước tăng vọt lên gần 3,8 triệu tấn, đáp ứng được 95% lượng tiêu thụ

Hiện nay, ở Việt Nam có khoảng 30 nhà máy sản xuất NPK với tổng công suất 3 triệu tấn/năm Trong đó 10 công ty sản xuất NPK chính có tổng công suất thiết kế lên đến 2,8 triệu tấn/năm Các nhà máy này có công suất trên 100 ngàn tấn/năm và chủ yếu đặt tại miền Nam và miền Bắc

Tuy nhiên, hầu hết các nhà máy sử dụng công nghệ phối trộn đơn giản, sản xuất NPK dạng trộn (3 hạt, còn gọi là phân 3 màu) Một số công ty lớn đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất NPK dạng 1 hạt theo phương pháp tạo hạt bằng hơi nước, đây là loại NPK

có chất lượng cao hơn, thường bổ sung thêm các nguyên tố trung và vi lượng

Bảng II.3 Các công ty sản xuất phân bón NPK chính ở Việt Nam

Nguồn: Cục Trồng trọt

2.2.3.2 Nhập khẩu

Trang 32

Hiện tại, nhu cầu phân NPK dạng hạt hàm lượng cao và có bổ sung các hàm lượng trung và vi lượng ngày càng tăng, trong khi cung trong nước chưa đáp ứng được về mặt số lượng và chất lượng Do đó, Việt Nam đã liên tục nhập khẩu NPK trong giai đoạn 2000 –

2012 Năm 2012, Việt Nam nhập khẩu 308 nghìn tấn NPK có nguồn chủ yếu từ các nước Trung Quốc, Philippines, Nhật Bản…

Các đơn vị nhập khẩu NPK chính bao gồm: Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Cần Thơ, Công ty TNHH Việt Hóa Nông, Công ty Phân bón Bình Điền, Công ty Thương nghiệp XNK Tổng hợp Đồng Tháp, Công ty TNHH Nông Sinh và Công ty Cổ phần XNK và hợp tác Quốc tế Ngọc Quyên

2.2.3.1 Dự báo thị trường NPK tại Việt Nam

Nhu cầu phân bón NPK phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như diện tích canh tác, cơ cấu cây trồng, tỷ lệ sử dụng phân bón so với định mức và khả năng thay thế của phân hữu

cơ Dự kiến nhu cầu phân NPK tại Việt Nam sẽ đạt 4,07 triệu tấn vào năm 2015 và 4,46 triệu tấn vào năm 2020 với mức tăng trưởng 1,8%/năm trong giai đoạn 2012 – 2020 Nhu cầu này được dự báo dựa trên các cơ sở sau:

- Diện tích canh tác (cơ cấu và cây trồng) các loại cây trồng sử dụng NPK: diện tích canh tác ở Việt Nam tăng chậm trong những năm qua (trung bình 1%/năm) Cùng với tốc độ đô thị hóa hiện nay, diện tích canh tác Việt Nam được giả định sẽ tăng chậm lại trong giai đoạn tới;

- Định mức và phương thức sử dụng phân bón NPK: do diện tích đất tăng chậm, chất dinh dưỡng cạn dần và đòi hỏi về năng suất ngày càng cao, tỷ lệ này sẽ tăng dần theo thời gian và sẽ dần đạt mức tỷ lệ sử dụng phân bón cho từng loại cây Hiện tỷ lệ sử dụng phân bón NPK (cả về diện tích và lượng sử dụng) là 61% so với định mức (bao gồm cả phần thất thoát) Dự kiến đến năm 2020, tất cả mùa vụ Việt Nam sử dụng NPK theo đúng định mức (trừ phần NPK được thay thế bằng phân bón hữu cơ;

- Xu hướng sử dụng phân bón tổng hợp (NPK) thay phân đơn (urê, SA, DAP, kali) Hiện nay, tổng công suất sản xuất phân NPK trong nước (dạng phối trộn và dạng tạo hạt bằng hơi nước) đã đáp ứng 95% nhu cầu phân NPK Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu trong nước, Vinachem trong những năm gần đây đã chủ động tìm kiếm khách hàng ở nước ngoài, chủ yếu là thị trường Thái Lan và các nước ở châu Phi Năm 2011, Vinachem

đã xuất khẩu 127 ngàn tấn NPK các loại, tăng 61% so với năm 2010 Ngoài ra, có một số

dự án đầu tư xây dựng và mở rộng sản xuất phân NPK đang được triển khai Dự kiến từ

Trang 33

năm 2012, trong trường hợp các dự án trên hoạt động 100% và đi vào vận hành theo đúng

kế hoạch, Việt Nam sẽ không còn phải nhập phân NPK (tức cung trong nước đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ) Khi đó, sự cạnh tranh sẽ diễn ra khốc liệt và các đối thủ có công nghệ hiện đại hơn, chủ động hơn về nguồn nguyên liệu sẽ có nhiều lợi thế Trong trường hợp nếu không có nhà máy mới nào thêm thì sản xuất trong nước, khi đó, sẽ không đáp ứng được nhu cầu

Nguồn: SAG

Hình II.6 Dự báo nhu cầu phân bón NPK tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020

2.3 Định hướng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy.

Các nguyên liệu sản xuất NPK được sử dụng phổ biến trên thị trường Việt Nam là phân urê, diamoni photphat (DAP), MOP (Muriate of Potash), amoni sunphat (SA) và supe photphat

2.3.3 Nguyên liệu đạm

PVFCCo có lợi thế rất lớn về nguồn nguyên liệu urê vì hiện đang sở hữu nhà máy đạm Phú Mỹ công suất 800.000 tấn/năm Nguồn nguyên liệu DAP có thể được nhập từ nhà máy sản xuất DAP tại Hải Phòng (đang trong giai đoạn xây dựng) Ngoài ra, nguyên liệu urê và DAP có thể được nhập từ Trung Quốc, Thái Lan, Nga Hiện Việt Nam chưa có nhà máy sản xuất phân SA do vậy nguồn nguyên liệu SA được bảo đảm bằng nguồn nhập khẩu

từ Trung Quốc, Nga, Trung Đông…

Trang 34

2.3.2 Nguyên liệu photphat

Nguồn quặng photphat chủ yếu của nước ta hiện nay là mỏ apatit Lào Cai, với trữ lượng khai thác toàn vùng ước tính khoảng 800 triệu tấn Tuy nhiên quặng apatit loại I (32% lân) chỉ chiếm khoảng 4%, trữ lượng quặng loại II (23% lân) và III (15% lân) lớn hơn nhiều, chiếm gần 60% tổng trữ lượng toàn mỏ Hiện nay, mỗi năm Việt Nam khai thác 250.000 – 270.000 tấn quặng loại II để làm nguyên liệu sản xuất phân lân nung chảy, khoảng 300.000 tấn quặng loại I nguyên khai dùng cho sản xuất phân supe photphat Để sản xuất phân NPK, PVFCCo có thể sử dụng nguồn cung supe photphat trong nước hoặc nhập khẩu nguyên liệu này từ Trung Quốc

2.3.3 Nguyên liệu Kali

Hiện trên thế giới chỉ có 15 nước có ngành sản xuất phân kali quy mô lớn, chủ yếu tập trung ở châu Âu, châu Mỹ và Trung Đông Thương mại quốc tế đối với phân kali trên thế giới bị chi phối bởi 6 nước sản xuất chính là Canada, Nga, Belarus, Đức, Israel và Jordan Việt Nam không có quặng kali nên nguồn nguyên liệu MOP, SOP dùng để sản xuất phân bón NPK sẽ được PVFCCo nhập từ nước ngoài, chủ yếu là Nga, Trung Quốc và Israel

PVFCCo, Đạm Cà Mau, Đạm Hà Bắc, Đạm Ninh Bình, Anhui Haoyuan Chemical Group, Hebei Hanhai Chemical, Dahuachem International Economic & Trade Corp, Shanxi Fengxi International, Bangkok International Business Holding

2 DAP xanh

Trong nước, Trung Quốc

DAP Hải Phòng, Sichuan Shifang Chuanhong Phosphorus Chemical, Peak Synergy Corporation, Guizhou Kailin Group, Hefei Sifang Phosphate Compound Fertilizer, Sichuan Shifang Juxintai Chemical, Shifang Talent Chemical

3 DAP vàng

4 MAP Trung Quốc

Yunnan Newswift, Yichang Municipal Pacific Chemicals, Guangzhou Kunhai Trading, Yunnan Linlian Fertilizers, Qingdao Runfeng Means of Agricultural Production, Yunnan Yuntianhua International Chemical

Trang 35

6 SOP

(K2SO4)

Nga, Trung Quốc

International Potash, Boschasia S&T Trading, Richchem Corporation, Sesoda Corporation, Wuhan Xingzhengshun, Guizhou Kailin Group, Taiyou Technology

Shandong Dongjia Group, Jiaocheng Knlan Chemical, Jinan Boxin Chemical,

“Shchekinoazot” Ltd, HeBei Hua Ao Chemical

8 Supe

photphat

Trong nước, Trung Quốc

Văn Điển, Lâm Thao, Apatite Lào Cai, Sichuan Chuanheng Chemical Group, Yunnan Petroleum & Chemical Group

Bảng II.4 Nguồn cung cấp nguyên liệu dự kiến 2.4 Kết luận sự cần thiết phải đầu tư

Qua những phân tích về nhu cầu tiêu thụ và khả năng sản xuất NPK cũng như khả năng cung cấp nguyên liệu cho dự án, có thể rút ra một số kết luận sau:

- Với khả năng tạo ra năng suất cao và khá tiện dụng so với các loại phân đơn, nhu cầu tiêu thụ phân NPK ngày càng tăng trong các năm qua tại Việt Nam Nhu cầu phân NPK đã tăng từ 925 ngàn tấn vào năm 2000 lên gần 4 triệu tấn vào năm 2011 với tốc

độ tăng trưởng đạt trung bình 15%/năm Tỷ lệ tiêu thụ phân NPK trên tổng lượng phân bón tiêu thụ cũng tăng từ 18% lên 40% trong giai đoạn này;

- Thị trường phân bón NPK được dự báo tăng trưởng khá trong thời gian tới, với mức tăng trưởng 1,8%/năm trong giai đoạn 2012 – 2020 Nhu cầu phân NPK tại Việt Nam

sẽ đạt 4,07 triệu tấn vào năm 2015 và 4,46 triệu tấn vào năm 2020;

- Đến năm 2012, lượng NPK sản xuất trong nước tăng vọt lên gần 3,8 triệu tấn, đáp ứng được 95% lượng tiêu thụ Nhu cầu phân NPK dạng hạt hàm lượng cao và có bổ sung các hàm lượng trung và vi lượng ngày càng tăng, trong khi cung trong nước chưa đáp ứng được về mặt số lượng và chất lượng;

- PVFCCo hiện có lợi thế rất lớn về nguồn nguyên liệu urê Nguyên liệu DAP và supe photphat có thể được đáp ứng từ nguồn cung trong nước hoặc được nhập khẩu từ

Trang 36

Trung Quốc Nguyên liệu MOP, do trong nước không có quặng kali, và nguyên liệu

SA sẽ được nhập từ nước ngoài, chủ yếu là từ Nga, Trung Quốc và Israel

Như vậy, việc đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất NPK tại Việt Nam là cần thiết để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn

có của PVFCCo

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN SẢN XUẤT NPK CÔNG NGHỆ

VE VIÊN NÓNG CHẢY THÙNG QUAY, CÔNG SUẤT 400.000 TẤN/NĂM 3.1 Khái quát về dự án

3.1.1 Địa điểm xây dựng công trình

Nhà máy sản xuất phân bón NPK đặt tại khu đất 28ha của nhà máy Đạm Phú Mỹ, nằm bên cạnh nhà máy Đạm Phú Mỹ hiện hữu, thuộc KCN Phú Mỹ I, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Đông Nam, cách Vũng Tàu 70 km về phía Bắc

Với các lợi thế về điều kiện mặt bằng, cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông vận tải rất thuận lợi, đặc biệt là đường thủy nên việc tiếp cận thị trường đồng bằng sông Cửu Long sẽ

dễ dàng, do vậy việc xây dựng nhà máy sản xuất NPK tại khu vực này sẽ rất phù hợp Các bất lợi về chi phí giá thuê đất cao, cùng với việc xa thị trường tiêu thụ sẽ làm tăng chi phí vận hành của nhà máy, nhưng các yếu tố này không ảnh hưởng đáng kể so với các lợi thế

về hạ tầng và khả năng kết nối với nhà máy Đạm hiện hữu (vốn sẽ làm giảm chi phí đầu tư

và vận hành của nhà máy)

Bên các lợi thế về điều kiện mặt bằng, cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông vận tải rất thuận lợi, đặc biệt là đường thủy nên việc tiếp cận thị trường đồng bằng sông Cửu Long sẽ

dễ dàng, do vậy việc xây dựng nhà máy sản xuất NPK tại khu vực này ng lớn

3.1.2 Quy mô công suất và hình thức đầu tư

 Quy mô công suất

- Nhu cầu thị trường

Thị trường mục tiêu cho sản phẩm NPK của dự án được xác định là khu vực miền Nam, bao gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, và khu vực Tây Nguyên với kích thước thị trường mục tiêu vào năm 2012 là 2,49 triệu tấn (chiếm 63% lượng NPK tiêu thụ trên cả nước) Dự kiến vào năm 2015, nhu cầu tiêu thụ của thị trường này sẽ đạt 2,71 triệu tấn và

Trang 37

tăng lên 3,14 triệu tấn NPK vào năm 2020 Thị phần mục tiêu cho sản phẩm của dự án được ước tính đạt 15% thị trường mục tiêu vào năm 2015 tương ứng với trên 400.000 tấn/năm1

- Khả năng cung cấp nguyên liệu

PVFCCo hiện có lợi thế rất lớn về nguồn nguyên liệu urê Nguyên liệu DAP và supe photphat có thể được đáp ứng từ nguồn cung trong nước hoặc được nhập khẩu từ Trung Quốc Nguyên liệu MOP, do trong nước không có quặng kali, và nguyên liệu SA sẽ được nhập từ nước ngoài, chủ yếu là từ Nga, Trung Quốc và Israel

- Yêu cầu công nghệ

Đối với các công nghệ sản xuất NPK quy mô công suất các dây chuyền rất khác nhau tùy thuộc từng công nghệ và điều kiện triển khai các dự án Quy mô công suất tối thiểu của công nghệ phối trộn tạo hạt, công nghệ nén viên là 50 ngàn tấn/năm, công nghệ ve viên tháp là 80 ngàn tấn/năm, công nghệ ve viên hơi nước 100 ngàn tấn/năm, công nghệ ve viên nóng chảy thùng quay 100 ngàn tấn/năm, công nghệ hóa học lên đến 600 ngàn tấn/năm

- Kết luận về quy mô công suất của nhà máy sản xuất phân bón NPK

Dựa trên nhu cầu thị trường, khả năng đảm bảo nguồn nguyên liệu cho nhà máy, yêu cầu công nghệ, đồng thời xét đến khả năng tài chính cũng như định hướng chiến lược của chủ đầu tư PVFCCo, mức công suất đề nghị là 400.000 tấn/năm

 Hình thức đầu tư

Với mức quy mô công suất đề nghị là 400.000 tấn NPK/năm, dự án sản xuất sản phẩm NPK dạng 1 hạt thuộc loại dự án có quy mô trung bình Hình thức tự đầu tư với nguồn vốn vay 60% và 40% còn lại được trích từ nguồn quỹ đầu tư phát triển hiện tại của Tổng Công

ty phù hợp với tình hình tài chính sẽ giúp chủ đầu tư phát huy tốt nhất các lợi thế trên

3.1.3 Lựa chọn công nghệ sản xuất NPK

 Tiêu chí bắt buộc và tiêu chí so sánh công nghệ sản xuất NPK

Việc xây dựng các tiêu chí lựa chọn (và tỷ trọng giữa các tiêu chí) sẽ được thực hiện dựa trên các cơ sở sau:

1

Nguồn: SAG

Trang 38

 Thông tin thị trường, xu hướng thị trường;

 Thông tin công nghệ, kinh nghiệm áp dụng

Từ các cơ sở trên, chúng ta lập ra hệ thống tiêu chí bắt buộc (điều kiện cần thiết thỏa mãn) cho việc lựa chọn công nghệ (để loại bỏ các công nghệ không phù hợp mục tiêu đề ra của dự án) và hệ thống tiêu chí so sánh (để chọn lựa công nghệ sản xuất phù hợp nhất trong

số các công nghệ tiềm năng, thỏa mãn điều kiện bắt buộc của dự án)

Bảng III.1 Tiêu chí bắt buộc

Quy mô công

Chất lượng sản

phẩm

Có thể sản xuất các sản phẩm có hàm lượng đạm và tổng hàm lượng dưỡng chất cao Một số sản phẩm có hàm lượng N đến

23, P2O5 đến 20, K2O đến 20

Thông tin thị trường

Trang 39

Kinh nghiệm 10% Kinh nghiệm ứng dụng 10

Yếu tố kỹ thuật 35%

Khả năng tích hợp phân xưởng 10

Yếu tố kinh tế 30%

Tiêu hao tiện ích, nguyên liệu 15

Yếu tố khác 15%

Thời gian xây lắp, hỗ trợ kỹ thuật 5

Dây chuyền sản xuất phải linh hoạt để có thể sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm có hàm lượng N, P, K khác nhau;

 Công nghệ được lựa chọn phải sản xuất được các chủng loại sản phẩm cao cấp, có hàm lượng dưỡng chất cao (hàm lượng N, P, K, có khả năng bổ sung trung và vi lượng);

 Công nghệ được chọn phải thuộc nhóm không gây ô nhiễm môi trường;

 Công nghệ được lựa chọn phải là công nghệ tiên tiến, có độ tin cậy cao;

 Công nghệ được lựa chọn là công nghệ sản xuất hiệu quả (tiêu hao nguyên liệu và tiện ích thấp), có khả năng cạnh tranh cao

Các yêu cầu trên đã được cụ thể hóa thành hệ thống các tiêu chí (bắt buộc và so sánh ở trên) để lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp nhất cho dự án Quá trình lựa chọn công nghệ sản xuất được tiến hành tuần tự theo hai bước sau:

 Bước 1: Lựa chọn phương pháp sản xuất;

 Bước 2: Lựa chọn công nghệ sản xuất

Trang 40

Theo đó, dựa trên các tiêu chí ta chọn được phương pháp sản xuất phù hợp Mỗi phương pháp sản xuất lại có nhiều công nghệ sản xuất khác nhau Bên cạnh hệ thống tiêu chí bắt buộc - phương pháp chuyên gia đã được sử dụng (trên cơ sở các tiêu chí so sánh) để cho điểm đánh giá từng tiêu chí nhằm tìm ra công nghệ sản xuất phù hợp nhất (trong số các công nghệ sản xuất tiềm năng)

 Lựa chọn phương pháp sản xuất NPK

NPK là loại phân bón đa dinh dưỡng chứa đồng thời ba dưỡng chất chính là đạm (N), lân (P), kali (K) và các trung vi lượng (S, Ca, Cu…) Tùy theo yêu cầu dinh dưỡng của từng loại cây trồng và thời kỳ tăng trưởng của cây trồng mà hàm lượng N,P,K sẽ khác nhau (thông thường tổng dưỡng chất N, P, K chiếm 30-60%) Cơ bản có thể chia sản phẩm NPK ra 2 nhóm chính là loại một hạt và loại ba hạt

Trên thế giới có 3 nhóm công nghệ sản xuất NPK cơ bản:

- Phương pháp phối trộn thô (Bulk Blending): ba hạt;

- Phương pháp phối trộn tạo hạt (Compound Granulation): một hạt;

- Phương pháp hóa học (Chemical Granulation): một hạt

Mỗi phương pháp sản xuất lại có các công nghệ sản xuất (và các phân nhóm khác nhau), dưới đây là sơ đồ tổng quát các công nghệ sản xuất NPK đang được ứng dụng trên thế giới

Ngày đăng: 27/02/2023, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w