1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Những nghiệp vụ cơ bản của hoạt động bán hàng ở doanh nghiệp kinh doanh đồ nhựa gia dụng

18 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những nghiệp vụ cơ bản của hoạt động bán hàng ở doanh nghiệp kinh doanh đồ nhựa gia dụng
Tác giả Đỗ Thị Hiền
Người hướng dẫn Phạm Thị Minh Lan
Trường học Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Chuyên ngành Kinh doanh
Thể loại Bài báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xuất khẩu được hàng hóa của doanh nghiệp ra thị trường quốc tế cần có kế hoạch bài bản chu đáo, từ nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, nâng cao chất lượng, quảng bá thương hiệ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

ĐỀ BÀI 3

Câu 1 (5 điểm): a Vai trò, sự cần thiết của xúc tiến thương mại Cho ví dụ minh hoạ? b Nêu khái quát trình tự nghiên cứu thị trường tại doanh nghiệp thương mại Vận dụng đề xây dựng một kế hoạch / đề cương nghiên cứu thị trường bằng thu thập thông tin sơ cấp nhằm tìm kiếm các giải pháp tăng doanh thu tại một công ty chuyên xuất khẩu nông sản 4

a : 4

Sự cần thiết của xúc tiến thương mại 4

Vai trò của xúc tiến thương mại 4

Ví dụ minh họa 5

b: 5

Khái quát trình tự nghiên cứu thị trường tại doanh nghiệp thương mại 5

Kế hoạch / đề cương nghiên cứu thị trường Nhật Bản bằng thu thập thông tin sơ cấp nhằm tìm kiếm các giải pháp tăng doanh thu tại một công ty chuyên xuất khẩu nông sản 9

Câu 2 (2 điểm): Trình bày những nghiệp vụ cơ bản của hoạt động bán hàng ở doanh nghiệp kinh doanh đồ nhựa gia dụng 11

Câu 3 (3 điểm): Trình bày các bước công việc tổ chức dự trữ hàng hóa tại doanh nghiệp kinh doanh hàng dệt may 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Học Viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông đã đưa môn học Nghiệp vụ thương mại vào trương trình giảng dạy Đặc biệt,

em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn –Cô Phạm Thị Minh Lan đã dạy

dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học Nghiệp vụ thương mại của cô , em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này

Bộ môn Nghiệp vụ thương mại là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong Cô xem xét và góp ý để bài tiểu

luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

ĐỀ BÀI Câu 1 (5 điểm):

a Vai trò, sự cần thiết của xúc tiến thương mại Cho ví dụ minh hoạ?

b Nêu khái quát trình tự nghiên cứu thị trường tại doanh nghiệp thương mại Vận

dụng đề xây dựng một kế hoạch / đề cương nghiên cứu thị trường bằng thu thập thông tin

sơ cấp nhằm tìm kiếm các giải pháp tăng doanh thu tại một công ty chuyên xuất khẩu nông sản

Câu 2 (2 điểm):

Trình bày những nghiệp vụ cơ bản của hoạt động bán hàng ở doanh nghiệp kinh

doanh đồ nhựa gia dụng

Câu 3 (3 điểm):

Trình bày các bước công việc tổ chức dự trữ hàng hoá tại doanh nghiệp kinh doanh

hàng dệt may

Trang 4

Câu 1 (5 điểm):

a Vai trò, sự cần thiết của xúc tiến thương mại Cho ví dụ minh hoạ?

b Nêu khái quát trình tự nghiên cứu thị trường tại doanh nghiệp thương mại Vận dụng đề xây dựng một kế hoạch / đề cương nghiên cứu thị trường bằng thu thập thông tin sơ cấp nhằm tìm kiếm các giải pháp tăng doanh thu tại một công ty

chuyên xuất khẩu nông sản

Bài làm

a :

 Sự cần thiết của xúc tiến thương mại

Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa dịch vụ và hội chợ triển lãm thương mại

Xúc tiến thương mại được nghiên cứu với tư cách là một kỹ thuật, một công cụ để tác động và gây ảnh hưởng trong mua bán với xúc tiến thương mại được đề cập như một nghệ thuật sử dụng các công cụ đó trong kinh doanh

Do sản xuất và kinh doanh phát triển, dẫn tới một khối lượng lớn hàng hóa với cơ cấu

đa dạng đưa ra thị trường làm cho việc bán hàng trở nên khó khăn hơn Để đưa được

hàng hóa cần phải xúc tiến thương mại

Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung việc sản xuất, bán hàng đều được kế hoạch hóa chặt chẽ từ một trung tâm là Nhà nước, bởi vậy không cần quảng cáo vẫn bán được hàng, còn trong cơ chế thị trường để cho người tiêu dùng biết và tự tìm đến với sản

phẩm, bắt buộc phải có kế hoạch tuyên truyền quảng cáo hàng hóa

Để xuất khẩu được hàng hóa của doanh nghiệp ra thị trường quốc tế cần có kế

hoạch bài bản chu đáo, từ nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, nâng cao chất lượng,

quảng bá thương hiệu để đưa hàng hóa vào thị trường

 Vai trò của xúc tiến thương mại

Xúc tiến thương mại với những nội dung ở trên ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trước hết, xúc tiến thương mại là hoạt động đầu tiên quan trọng không thể thiếu được

và cần phải tiến hành trước khi doanh nghiệp muốn xâm nhập, mở rộng thị trường, mở rộng khả năng ảnh hưởng của mình trong hoạt động kinh doanh

Thứ hai, xúc tiến thương mại mang đến cho người tiêu dùng những thông tin cần thiết

về sản phẩm và doanh nghiệp, để định hướng người tiêu dùng trong việc lựa chọn, đưa ra quyết định mua hàng

Trang 5

Thứ ba, xúc tiến thương mại là phương tiện làm tăng hiệu quả kinh doanh khi làm rõ

sự khác biệt sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩm cùng loại trên thị trường, thông qua đó tăng số lượng bán và giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm

Thứ tư, thông qua hoạt động khuyến mại, tổ chức hội chợ triển lãm, … doanh nghiệp

có thêm kênh để tiếp xúc với khách hàng, mở rộng và thắt chặt quan hệ với khách hàng,

để hiểu biết và giữ khách hàng tốt hơn

Thứ năm, các công cụ của xúc tiến thương mại đều là những phương tiện cạnh tranh,

là phương tiện đẩy hàng đi trong lưu thông, giúp doanh nghiệp mau chóng lôi kéo khách hàng, mở rộng thị trường và phát triển hoạt động kinh doanh

Thứ sáu, trong thời kỳ hội nhập vào kinh tế thế giới, các công cụ xúc tiến thương mại

là phương tiện hữu hiệu, là cầu nối để giúp doanh nghiệp xâm nhập vào thị trường quốc

tế, người tiêu dùng nước ngoài biết đến và tiêu dùng những sản phẩm mang thương hiệu Việt nam Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần lưu ý, hội nhập kinh tế cũng có thể mang lại những khó khăn, thách thức, với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, chất lượng sản phẩm không đáp ứng nhu cầu khả năng tiếp cận thị trường và xúc tiến thương mại kém sẽ bị tổn thương nặng nề, có thể dẫn đến phá sản Không còn cách nào khác, đòi hỏi doanh nghiệp phải hoàn thiện sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh,

làm tốt công tác xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường và phát triển kinh doanh

 Ví dụ minh họa

Xúc tiến thương mại trong ngành dệt may, Các hoạt động xúc tiến thương mại sẽ là giải pháp hiệu quả để ngành may mở rộng tiêu thụ sản phẩm, trong năm 2018 các doanh nghiệp (DN) trong ngành đã chủ động tham gia nhiều hội chợ, triển lãm có tầm để quảng

bá thương hiệu tới đối tác Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Phó Tổng thư ký, kiêm Trưởng đại

diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) tại TP Hồ Chí Minh - cho biết, nhờ tín hiệu tích cực từ thị trường nên đơn hàng của các DN trong ngành rất khả quan Việc tham gia các chương trình xúc tiến thương mại ở nước ngoài đã được các DN và tổ chức trong ngành dệt may chú trọng nhờ đó các Doanh nghiệp đã tìm kiếm được các đối tác cung cấp nguyên phụ liệu mới về bông, sợi, vải ; đồng thời tìm kiếm được các đơn hàng, các

đối tác tiêu thụ sản phẩm cho tổng công ty

b:

 Khái quát trình tự nghiên cứu thị trường tại doanh nghiệp thương mại

Trình tự nghiên cứu thị trường là các bước cần tiến hành theo một thứ tự

nhất định trong nghiên cứu

1: Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Trang 6

Đó là việc xác định rõ ràng mục tiêu và đối tượng nghiên cứu, quyết định đưa ra được các thông tin cần nghiên cứu, thiếu điều này có thể sẽ thu thập được những thông

tin không cần thiết, tốn kém và chẳng bao lâu sẽ đi đến nhầm lẫn Xác định rõ vấn đề nghiên cứu sẽ giúp cho việc thu thập và phân tích những thông tin cụ thể, chính xác, cần

thiết cho việc đưa ra những quyết định

Khi tiến hành nghiên cứu thị trường trước hết doanh nghiệp phải đặt mục tiêu cho hoạt động nghiên cứu vì mục tiêu giúp cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động một cách có chủ đích, có hệ thống và có phương pháp, theo một kế hoạch cụ thể Mục tiêu thể hiện mong muốn và yêu cầu của doanh nghiệp trong việc giải quyết một hay nhiều vấn đề xuất phát từ thực trạng hoạt động kinh doanh, đồng thời nó phải phù hợp với tiềm năng

và doanh nghiệp có khả năng thực hiện Nếu xác định mục tiêu quá cao doanh nghiệp sẽ không thực hiện được, và ngược lại nếu xác định mục tiêu quá thấp doanh nghiệp sẽ không phát huy tối đa khả năng của mình Vì vậy việc xác định chính xác mục tiêu có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động nghiên cứu thị trường, từ đó định hướng đúng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp sau khi xác định được mục tiêu nghiên cứu thì phải xác định được đối tượng nghiên cứu Thị trường đối với các doanh nghiệp rất lớn và phức tạp

do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được đúng đối tượng nghiên cứu Việc xác định đối tượng nghiên cứu là tuỳ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu Tuỳ thuộc mục tiêu của doanh nghiệp là thâm nhập thị trường, mở rộng thị trường hay phát triển sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm mà đối tượng nghiên cứu khác nhau

2: Xây dựng kế hoạch nghiên cứu thị trường

Sau khi đã xác định được vấn đề và các mục tiêu, người làm nghiên cứu cần xây dựng

kế hoạch nghiên cứu thị trường hiệu quả để có được những thông tin cần thiết, với một mức chi phí có thể ước tính, và phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp Kế hoạch nghiên cứu sẽ bao gồm xác định các nguồn dữ liệu có thể thu thập, phương thức thu thập, các phương tiện & công cụ thực hiện, "tập đối tượng" (sampling plan), phương thức liên hệ, ngân sách chi tiết

- Đối với nguồn dữ liệu, người nghiên cứu có thể lựa chọn một trong hai, hoặc cả hai nguồn sau:

 Nguồn dữ liệu thứ cấp (Secondary data), là những dữ liệu thông tin đã có từ trước,

có thể thu thập được từ việc tra cứu, tìm kiếm

+ Ưu điểm nguồn thông tin thứ cấp

Việc thu thập không tốn kém lắm, thường có được từ các xuất bản phẩm

Trang 7

Có thể thu thập nhanh chóng, đó là những thông tin của hãng, của ngành, của các cơ quan chính phủ xuất bản, hoặc các thông tin xuất bản định kỳ, lưu giữ trong các thư viện

có thể thu thập để phân tích nhanh chóng, trong khi đó muốn có các thông tin sơ cấp có khi phải đòi hỏi thời gian dài

Thông tin thứ cấp có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau, do vậy có thể phát hiện

ra những quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề, có thể so sánh các thông tin và các quan điểm ấy Trong khi đó nguồn thông tin sơ cấp lại rất hạn chế

+ Nhược điểm nguồn thông tin thứ cấp

Những thông tin có được nhiều khi không phù hợp với mục đích nghiên cứu, vì tính chất quá chung của các thông tin đó, hoặc không có mục đích nghiên cứu giống với vấn

đề đang cần nghiên cứu

Các thông tin thứ cấp thường có thể lạc hậu hay đã cũ vì những thông tin này đã được sưu tập trừ trước vì những mục đích khác, nay thời gian trôi qua đã có nhiều thay đổi Chẳng hạn như những thông tin tổng hợp từ vài năm trước, nay những kết luận rút ra từ những thông tin ấy thiếu tin cậy cho vấn đề đang nghiên cứu

 Nguồn dữ liệu sơ cấp, là những dữ liệu mới, có được thông qua việc khảo sát trực tiếp các đối tượng nghiên cứu

- Về phương thức tiếp cận, người làm nghiên cứu có thể sử dụng các phương thức sau:

 Phương pháp quan sát: Người nghiên cứu thu thập thông tin thông qua việc quan sát một cách kín đáo về hoạt động của đối tượng nghiên cứu (ví dụ: quá trình khách hàng tại cửa hàng, quá trình khách hàng sử dụng sản phẩm )

 Phương pháp khảo sát: Người nghiên cứu thực hiện các cuộc khảo sát để đánh giá

về suy nghĩ, nhận định của những người được chọn để tham gia về một vấn đề cụ thể nào đó

 Phương pháp nghiên cứu hành vi: Người nghiên cứu về hành vi của đối tượng thông qua những dữ liệu thứ cấp có được từ lịch sử cuộc gọi, lịch sử mua hàng, lịch sử truy cập website của doanh nghiệp

 Phương pháp nghiên cứu định tính: Người nghiên cứu sàn lọc và lựa chọn ra một

số lượng nhỏ đối tượng tiêu biểu để tham gia vào cuộc nghiên cứu Người nghiên cứu sẽ đưa ra một vài câu hỏi tiêu biểu và lắng nghe những câu trả lời, chia sẽ từ những người tham gia

- Về phương tiện, công cụ hỗ trợ cho cuộc nghiên cứu, người nghiên cứu có thể lựa chọn các hạng mục sau:

Trang 8

 Bảng câu hỏi: Người nghiên cứu xây dựng một danh sách câu hỏi có chọn lọc và gửi đến các khách hàng để họ trả lời Thông thường, khách hàng sẽ được một phần thưởng cho việc hoàn tất trả lời bảng câu hỏi, như quyền mua một sản phẩm miễn phí, phiếu giảm giá Thông thường, bảng câu hỏi được sử dụng trong các cuộc khảo sát với số lượng lớn người được chọn

 Câu hỏi trực tiếp: Câu hỏi được sử dụng trong phương pháp nghiên cứu định tính

 Thiết bị công nghệ: Máy vi tính, điện thoại, camera, máy ghi âm, máy in là những thiết bị có thể thiết yếu cho cuộc nghiên cứu

-Về "tập đối tượng" (sampling plan), người thực hiện nghiên cứu cần xác định rõ 3 nội dung: Tiêu chí lựa chọn đối tượng, quy mô (số lượng tối đa), độ tin cậy của đối tượng

- Về phương thức liên hệ, người thực hiện nghiên cứu có thể lựa chọn phương thức gửi câu hỏi và nhận câu trả lời thông qua: gửi email, gọi điện thoại, gặp gỡ trực tiếp, Online (website, mạng xã hội )

Cuối cùng nhưng không thể thiếu, người nghiên cứu cần có một ngân sách chi tiết, bao gồm các chi phí được liệt kê rõ cho các khoản mục cần mua sắm, chi trả

3: Chọn mẫu nghiên cứu

Chọn mẫu nghiên cứu là lựa chọn kích thước mẫu, địa bàn nghiên cứu và nhóm khách hàng cần nghiên cứu Quy mô nghiên cứu thể hiện ở kích thước của mẫu phụ thuộc vào thời gian nghiên cứu, yêu cầu tính chính xác và phụ thuộc vào chi phí nghiên cứu

Địa bàn và nhóm khách hàng cần nghiên cứu thu thập thông tin phụ thuộc vào định

hướng kinh doanh và định hướng phát triển thị trường của doanh nghiệp

4: Tiến hành thu thập dữ liệu

Ở giai đoạn này, người nghiên cứu bắt đầu thực hiện công việc thu thập thông tin, dữ liệu theo kế hoạch đã đề ra Người nghiên cứu cần phải đảm bảo rằng các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu được ghi chép hoặc cập nhật trên các phần mềm, ứng dụng một cách đầy đủ, rõ ràng, sắp xếp theo một trình tự hợp lý và khoa học

5: Xử lý dữ liệu

Dựa trên dữ liệu đã thu thập được, người nghiên cứu bắt đầu công việc phân tích, bao gồm công tác thống kê, tính toán để cho ra các giá trị trung bình theo các biến số phù hợp cho mục tiêu nghiên cứu

6: Rút ra kết luận và lập báo cáo

Trên cơ sở kết quả xử lý dữ liệu, cán bộ nghiên cứu thị trường sẽ rút ra kết luận và lập báo cáo kết quả nghiên cứu thị trường để lãnh đạo doanh nghiệp ra quyết định kinh

doanh

Trang 9

 Kế hoạch / đề cương nghiên cứu thị trường Nhật Bản bằng thu thập thông tin

sơ cấp nhằm tìm kiếm các giải pháp tăng doanh thu tại một công ty chuyên xuất khẩu nông sản

- Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của kế hoạch là hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hành vi của người tiêu dùng, thói quen,tập quán, trên cơ sở đó nghiên cứu và phân tích hành vi

tiêu dùng của người tiêu dùng Nhật Bản Phân tích tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Nhật Bản, đánh giá sự phù hợp giữa nông sản Việt Nam xuất khẩu và hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản Từ đó,đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Nhật Bản nhằm tăng doanh thu

Đối tượng nghiên cứu là hành vi của người tiêu dùng Nhật Bản Hành vi của người tiêu dùng (Consumer Behavior) là một phạm trù rất rộng lớn, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của kế hoạch chỉ tập trung làm rõ những hành vi cơ bản của người tiêu dùng Nhật Bản như thói quen tìm kiếm thông tin, địa điểm mua sắm, các tiêu chí đánh giá khi quyết định mua sản phẩm, phản ứng sau mua, Đây là kế hoạch đưa ra các giải pháp chung cho doanh nghiệp Việt Nam nhằm tăng cường xuất khẩu nông sản Việt Nam vào thị trường Nhật Bản giúp Doanh nghiệp tăng doanh thu

- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu thị trường

+ Về phương thức nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng câu hỏi, đồng thời kết hợp với phương pháp thu thập thông tin tại bàn, thống kê, phân tích và tổng hợp

để đưa ra những luận điểm mang tính lý luận về hành vi của người tiêu dùng Nhật

Bản.Những luận điểm của đề tài được phân tích trong mối quan hệ biện chứng lẫn nhau

và với bối cảnh thực tiễn

+ Về nguồn dữ liệu

Kế hoạch thực hiện việc thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn bằng bảng câu hỏi điều tra được thiết kế từ trước đối với người tiêu dùng

- Tiến hành thu thập dữ liệu

Kế hoạch này có 200 mẫu nghiên cứu, và được tiến hành nghiên cứu ở các ở siêu thị, chợ, Bảng câu hỏi được phát trực tiếp, ngẫu nhiên với quy trình

+ giới thiệu mục tiêu nghiên cứu

+ Hướng dẫn người được phỏng vấn điền thông tin tại chỗ vào bảng câu hỏi

- Xử lý dữ liệu

Trang 10

+ Bước 1: Kiểm tra hiệu chỉnh bảng câu hỏi

+ Bước 2: Mã hóa dữ liệu trên bảng câu hỏi

+ Bước 3: Nhập dữ liệu vào máy tính

+ Bước 4: Làm sạch dữ liệu trên máy tính

Kiểm tra hiệu chỉnh bảng câu hỏi là bước kiểm tra chất lượng bảng câu hỏi nhằm đảm bảo không có câu hỏi nào thiếu thông tin cần thiết theo yêu cầu thiết kế ban đầu, bước này cần thiết phải thực hiện trước khi mã hóa và nhập dữ liệu vào máy tính Người kiểm tra phải đảm bảo tính toàn vẹn và tính chính xác của toàn bảng câu hỏi và từng câu trả lời Kiểm tra bảng câu hỏi thì kiểm tra những đặc tính sau:

+ Tính logic của các câu hỏi

+ Tính đầy đủ của một câu trả lời và của một bảng câu hỏi

+ Tính hợp lý và xác thực của câu trả lời

Chuyển dịch câu trả lời thực hiện của người trả lời vào các nhóm, từng mẫu đại diện với các giá trị tương ứng nhằm làm cho quá trình tóm tắ, phân tích và nhập dữ liệu được dễ dàng và hiệu quả hơn

Mục đích của việc mã hóa dữ liệu là tạo nhãn cho các câu trả lời, thường là bằng các con

số Mã hóa còn làm giảm thiểu các câu trả lời bằng các nhóm các câu trả lời thành những nhóm có đặc điểm giống nhau

Một số lưu ý khi mã hóa dữ liệu

+ Tên biến: nhập vào phần mềm không dấu, không khoảng cách, không 8 ký tự Là phần gọi của biến gọn nhất

+ Nhãn biến: Không dấu, có thể có khoảng cách, không giới hạn ký tự Là tên của câu hỏi

+ Giá trị :là giá trị của câu hỏi trả lời liên quan đến biến đó, có thể là con số hoặc một giá trị nào đó mà ta gán cho câu trả lời đó Nên sắp xếp theo một trật tự logic mình tự đặt sao cho dễ hiểu, dễ nhớ nhất

+ Đo lường: xác định biến đó thuộc loại thang đo nào( thanh đo định danh, thanh đo thứ

tự, thanh đo khoảng cách, thang đo tỷ lệ) và chọn dạng thang đo đó

- Lập báo cáo và rút ra kết luận

Sau khi mã hóa, xử lý dữ liệu thì cán bộ nghiên cứu thị trường sẽ rút ra kết luận và lập báo cáo kết quả nghiên cứu thị trường để lãnh đạo doanh nghiệp ra quyết định kinh

doanh

Ngày đăng: 14/02/2023, 22:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w