1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thay đổi kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực của các bà mẹ có con nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại bệnh viện nhi tỉnh nam định năm 2022

73 23 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thay đổi kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực của các bà mẹ có con nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại bệnh viện nhi tỉnh Nam Định năm 2022
Tác giả Châu Thị Chư, Trần Thị Vân, Đèo Thị Thúy, Nguyễn Thị Tuyết Mai, Cao Thị Thuận
Người hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Thu Hường
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Y học nhi khoa
Thể loại Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (0)
    • 1.1 Đại cương giải phẫu cơ quan hô hấp của trẻ [12] (12)
    • 1.2. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em [12] (14)
    • 1.3. Kỹ thuật vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT [13] (19)
    • 1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (22)
    • 1.5. Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với việc nâng cao kiến thức và thực hành (24)
    • 1.6. Địa bàn nghiên cứu (27)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Đối tương nghiên cứu (28)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (28)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (28)
      • 2.3.2. Chương trình can thiệp (28)
      • 2.3.3. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (30)
      • 2.3.4. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu (30)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (33)
    • 2.7. Phương pháp phân tích số liệu (34)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (34)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (35)
    • 3.2. Thực trạng kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu về vỗ rung lồng ngực trước can thiệp (36)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (0)
    • 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng (49)
    • 4.3. Thay đổi kiến thức và thực hành của bà mẹ về vỗ rung lồng ngực cho trẻ (51)
    • 4.4. Điểm mới, điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu (53)
      • 4.4.1. Điểm mới (53)
      • 4.4.2. Điểm mạnh của nghiên cứu (54)
      • 4.4.3. Hạn chế của nghiên cứu (54)
  • Chương 5: KẾT LUẬN (0)
    • 5.1. Thực trạng kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên cứu (55)
    • 5.2. Thay đổi kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp giáo dục sức khỏe (55)
  • Chương 6: KHUYẾN NGHỊ (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (58)

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ TÊN ĐỀ TÀI: THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỖ RUNG LỒNG NGỰC CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON NHIỄM

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

TÊN ĐỀ TÀI:

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỖ RUNG LỒNG NGỰC CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH ĐIỀU TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN NHI TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2022

Chủ nhiệm đề tài: Châu Thị Chư

Người hướng dẫn khoa học: ThS Nguyễn Thị Thu Hường

Nam Định, tháng 5 năm 2022

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

TÊN ĐỀ TÀI:

THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỖ RUNG LỒNG NGỰC CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH ĐIỀU TRỊ

TẠI BỆNH VIỆN NHI TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2022

Chủ nhiệm đề tài: Châu Thị Chư

Người tham gia nghiên cứu: Trần Thị Vân

Đèo Thị Thúy Nguyễn Thị Tuyết Mai Cao Thị Thuận

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG NGHIÊN CỨU 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG NGHIÊN CỨU 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH TRONG NGHIÊN CỨU 7

ĐẶT VẤN ĐỀ 8

MỤC TIÊU 10

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11

1.1 Đại cương giải phẫu cơ quan hô hấp của trẻ [12] 11

1.2 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em [12] 13

1.3 Kỹ thuật vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT [13] 18

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21

1.5 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với việc nâng cao kiến thức và thực hành 23

1.6 Địa bàn nghiên cứu 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tương nghiên cứu 27

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.3.2 Chương trình can thiệp 27

2.3.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 29

2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 29

2.6 Các biến số nghiên cứu 32

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 33

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 33

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Thực trạng kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu về vỗ rung lồng ngực trước can thiệp 35

Trang 4

3.3 Thay đổi kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên

cứu trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 39

Chương 4: BÀN LUẬN 48

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng 48

4.3 Thay đổi kiến thức và thực hành của bà mẹ về vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT sau can thiệp giáo dục sức khỏe 50

4.4 Điểm mới, điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 52

4.4.1 Điểm mới 52

4.4.2 Điểm mạnh của nghiên cứu 53

4.4.3 Hạn chế của nghiên cứu 53

Chương 5: KẾT LUẬN 54

5.1 Thực trạng kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên cứu 54

5.2 Thay đổi kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên cứu sau can thiệp giáo dục sức khỏe 54

Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 1: BẢN ĐỒNG THUẬN 61

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN 62

PHỤ LỤC 3: BẢNG KIỂM QUAN SÁT 67

PHỤ LỤC 4: NỘI DUNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE 68

PHỤ LỤC 5: TỜ RƠI 71

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CCĐ chấn thương LN : Chống chỉ định chấn thương lồng ngực CCĐ TD, TK màng phổi : Chống chỉ định tràn dịch, tràn khí màng phổi

CĐ Viêm PQ : Chỉ định viêm phế quản

CĐ Viêm PQP : Chỉ định viêm phế quản phổi

CĐ Viêm TPQ : Chỉ định viêm tiểu phế quản

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG NGHIÊN CỨU

Bảng 1.1 Vi khuẩn gây NKHHCT ở trẻ em Việt Nam 14

Bảng 1.2 Phác đồ xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 2 tháng tuổi 17

Bảng 1.3 Phác đồ xử trí NKHHCT ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi 18

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 3.2 Các đặc điểm về thông tin giáo dục sức khỏe 35

Bảng 3.3 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về vỗ rung lồng ngực 36

Bảng 3.4 Điểm trung bình chung kiến thức về VRLN của ĐTNC trước can thiệp GDSK 37

Bảng 3.5 Thực trạng thực hành của đối tượng nghiên cứu về vỗ rung lồng ngực 38

Bảng 3.6 Điểm trung bình chung thực hành VRLN của ĐTNC 39

Bảng 3.7 Đánh giá kiến thức của đối tượng nghiên cứu về các nội dung khái niệm, mục đích, chỉ định, chống chỉ định trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe 40

Bảng 3.8 Đánh giá kiến thức của ĐTNC về nội dung thuộc quy trình chuẩn bị VRLN trước và sau can thiệp GDSK 42

Bảng 3.9 Đánh giấ kiến thức của ĐTNC về các nội dung thuộc quy trình thực hành VRLN trước và sau can thiệp GDSK 43

Bảng 3.10 Thay đổi điểm trung bình về kiên thức VRLN của ĐTNC trước và sau can thiệp GDSK 44

Bảng 3.11 Đánh giá thực hành của ĐTNC về vỗ rung lồng ngực trước và sau can thiệp GDSK 45

Bảng 3.12 Thay đổi điểm trung bình về thực hành VRLN của ĐTNC trước và sau can thiệp GDSK 46

Bảng 3.13 Phân loại điểm kiến thức và thực hành chung của ĐTNC về VRLN trước và sau can thiệp GDSK (n= 30) 47

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG NGHIÊN CỨU

Biểu đồ 3 1 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 34 Biểu đồ 3 2 Phân loại mức độ kiến thức về vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp GDSK 38 Biểu đồ 3 3 Phân loại mức độ thực hành về vỗ rung lồng ngực của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp GDSK 39

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH TRONG NGHIÊN CỨU

Hình 1 1 Sự phân loại NKHHCT theo vị trí giải phẫu 16 Hình 1 2 Tư thế bàn tay đúng khi vỗ rung 20 Hình 1 3 Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định 26

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là một nhóm bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây nên những tổn thương viêm cấp tính ở một phần hay toàn bộ hệ thống đường hô hấp kể từ tai, mũi, họng cho đến phổi, màng phổi [1] Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân chính gây tử vong và bệnh tật ở trẻ em dưới

5 tuổi, chiếm 30 - 60% số lần đến các trung tâm cung cấp dịch vụ y tế và 30 - 40% nhập viện cho các bệnh viện nhi, do đó phát sinh chi phí lớn cho người chăm sóc

và hệ thống chăm sóc sức khỏe của một quốc gia [2]

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (năm 2016) mỗi trẻ trung bình trong một năm mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 4 - 9 lần và ước tính trên toàn cầu

có khoảng 2 tỷ lượt trẻ em mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, hàng năm có khoảng

4 triệu trẻ em tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Trong đó, trên 90% là các nước đang phát triển [3]

Tại Việt Nam, hiện nay có khoảng 8 triệu trẻ dưới 5 tuổi Như vậy ước tính mỗi năm sẽ có từ 32 - 40 triệu lượt trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) Mỗi năm có khoảng 20 đến 30 ngàn trẻ dưới 5 tuổi chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chủ yếu là do bệnh viêm phổi [4] NKHHCT tại cộng đồng hiện nay chiếm khoảng 39,7% [5] Các thống kê nghiên cứu ở tuyến bệnh viện và

ở cộng đồng, đều cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em, những năm gần đây không có xu hướng thuyên giảm [6]

Ngày nay với những tiến bộ khoa học đã giải quyết vấn đề NKHHCT và giảm đáng kể tỷ lệ tử vong [7] Tuy nhiên, thời gian điều trị bệnh còn kéo dài Ở trẻ nhỏ đường hô hấp hẹp nên sức cản hô hấp cao Mao mạch lớp dưới niêm mạc nhiều nên khi viêm dễ phù nề, nhiều xuất tiết dẫn đến tắc hẹp, dễ ứ đọng và cản trở thông khí [8] Đồng thời đường hô hấp ở trẻ ngắn nên khi viêm dễ lan tỏa rộng

và nhanh vì thế diễn biến bệnh thường rất nhanh Trẻ dưới 2 tháng tuổi chưa có khả năng chủ động ho khạc và ý thức hợp tác điều trị do vậy thường ứ đọng đờm dãi, viêm, xẹp phổi nặng nề hơn nữa là suy hô hấp phải đặt ống NKQ thở máy Hiện nay, có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy hiệu quả của vỗ rung trong

hỗ trợ điều trị NKHHCT có kết quả rất khả quan [9] Theo nghiên cứu của Hoàng

Trang 10

Thị Hằng và cộng sự năm 2015, nghiên cứu can thiệp trên 58 trẻ dưới 2 tháng tuổi mắc viêm phế quản phối Đây là đối tượng thường bị ứ đọng đờm dãi và cản trở thông khí Nghiên cứu nhận ra rằng có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về SpO2 (74,2%), nhịp thở (43.1%), rút lõm lồng ngực 25.9%, khò khè 44.8% [10]

Vỗ rung hô hấp trong điều trị viêm phổi là liệu pháp được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam cùng với sự phát triển của vật lý trị liệu, vỗ rung lồng ngực đang ngày càng được áp dụng trong điều trị NKHHCT Vỗ rung lồng ngực đúng, tích cực sẽ giúp giảm thiểu các hậu quả này đồng thời giảm thời gian, giảm chi phí điều trị cho người bệnh Tuy nhiên sau đó cần hướng dẫn tỉ mỉ cho người nhà người bệnh để có thể thực hiện thường xuyên khi người bệnh ra viện [11] Hiện nay tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, nhân viên y tế trong quá trình điều trị và chăm sóc có tiến hành hướng dẫn người nhà bệnh nhi biện pháp vỗ rung lồng ngực tuy nhiên do số lượng người bệnh nhiều, thời gian và các yếu tố nguồn lực còn hạn chế nên công tác hướng dẫn vỗ rung lồng ngực cho các bà mẹ chỉ được thực hiện thụ động một chiều mà chưa có sự đánh giá hiệu quả sau hướng dẫn.Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thay đổi kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực của bà mẹ có con nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục” nhằm mục đích đánh giá thực trạng kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực của các

bà mẹ có con bị NKHHCT trước và sau can thiệp giáo dục sức khỏe

Trang 11

MỤC TIÊU

1 Khảo sát kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của các bà mẹ có con nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2022

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của các

bà mẹ có con nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục sức khỏe

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương giải phẫu cơ quan hô hấp của trẻ [12]

Bộ phận hô hấp bao gồm đường dẫn khí từ mũi, thanh quản, khí quản, phế quản, phổi và màng phổi

Bộ phận hô hấp trẻ em nhỏ hơn về kích thước so với người lớn và có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu, sinh lý do các tổ chức tế bào của bộ phận hô hấp trẻ em chưa hoàn toàn biệt hóa và đang ở trong giai đoạn phát triển

1.1.1 Mũi

Ở trẻ nhỏ mũi và khoang hầu ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp làm cho

sự hô hấp về đường mũi bị hạn chế và dễ bị bít tắc

Niêm mạc mũi mỏng, mịn lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô rung hình trụ giàu mạch máu và bạch huyết Chức năng hàng dào bảo vệ của niêm mạc mũi ở trẻ nhỏ còn yếu do khả năng sát trùng của niêm mạc còn kém, vì vậy trẻ dễ

bị viêm nhiễm mũi họng

Tổ chức hang và cuộn mạch ở niêm mạc mũi chỉ phát triển ở trẻ từ 5 tuổi đến tuổi dậy thì, do đó trẻ nhỏ dưới 5 tuổi ít bị chảy máu cam

Các xoang hàm đến 2 tuổi mới phát triển Xoang sang có từ lúc mới sinh nhưng chưa biệt hóa đầy đủ Do đó trẻ ít bị viêm xoang

1.1.2 Họng - Hầu

Họng, hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hướng thẳng đứng, hình phễu hẹp, mềm và nhẵn Họng phát triển mạnh nhất trong năm đầu và tuổi dậy thì Dưới 3 tuổi họng trẻ em trai và gái dài như nhau Từ 3 tuổi trở đi họng trẻ

em trai dài hơn trẻ em gái

Niêm mạc họng được phủ một lớp biểu mô rung hình trụ

Vòng bạch huyết Waldayer phát triển từ 4 - 6 tuổi cho đến tuổi dậy thì Ở trẻ dưới 1 tuổi chỉ có VA (Amidan vòm) phát triển Từ 2 tuổi trở lên Amidan khẩu cái mới phát triển Khi các tổ chức này bị viêm nhiễm sẽ ảnh hưởng đến chức năng hô hấp vì trẻ phải thở bằng miệng

1.1.3 Thanh khí phế quản

Trang 13

Lòng thanh khí phế quản ở trẻ em tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi kém phát triển, vòng sụm mềm dễ biến dạng, niêm mạc nhiều mạch máu Do đó trẻ dễ bị nhiễm trùng đường hô hấp, niêm mạc thanh khí phê quản dễ bị phù nề, xuất tiết, biến dạng

1.1.4 Phổi

Phổi trẻ em lớn dần theo tuổi Ở trẻ sơ sinh trọng lượng phổi là 50 - 60 gam,

6 tháng tuổi tăng gấp 3 lần, 12 tuổi tăng gấp 10 lần và người lớn gấp 20 lần Thể tích phổi của trẻ sơ sinh là 65 - 67 ml, đến 12 tuổi tăng gấp 10 lần Tổng số phế nang ở trẻ sơ sinh là 30.000.000, đến 8 tuổi tăng gấp 10 lần, ở người lớn là 600 - 700 triệu

Phổi trẻ em, nhất là trẻ nhỏ có nhiều mạch máu, mạch hạch và sợi cơ nhãn

Vì vậy phổi trẻ em có khẳ năng co bóp lớn và tái hấp thu các chất dịch trong phế nang nhanh chóng

Tuy nhiên phổi trẻ nhỏ ít tổ chức đàn hồi, nhất là xung quanh các phế nang

và thành mao mạch, các cơ quan ở lồng ngực cũng chưa phát triển đầy đủ nên lồng ngực di động kém, trẻ dễ bị xẹp phổi, khí phế thũng, dãn phế nang…

Rốn phổi gồm phế quản gốc, thần kinh, mạch máu và nhiều hạch bạch huyết

ở trung thất, thượng đòn và cổ Các hạch có xoang rộng, nhiều mạch máu nên dễ

Trung thất trẻ em tương đối lớn hơn so với người lớn, mềm mại và dễ co giãn 1.1.7 Lồng ngực

Ở trẻ sơ trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, lồng ngực có đặc điểm:

Trang 14

- Ngắn, hình trụ, đường kính trước sau gần

- Xươn sườn nằm ngang và thẳng góc với cột sống

- Cơ hoành nằm cao và cơ liên sườn chưa phát triển đầy đủ

1.2.2 Nguyên nhân

Đa số các trường hợp NKHHCT ở trẻ em là do virus (60-70%) vì:

- Phần lớn các virus có ái lực với đường hô hấp

- Khả năng lây lan của virus rất dễ dàng

- Tỷ lệ người lành mang virus cao

- Khả năng miễn dịch đối với virus yếu và ngắn

Dựa vào kết quả nghiên cứu virus học, các tác giả nhận thấy các virus thường gặp gây NKHHCT ở trẻ em xếp thứ tự như sau:

- Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syricitial virus)

- Virus cúm (Influenzae virus)

- Virus á cúm (Parainfluenzae virus)

Trang 15

Ở Việt Nam các nghiên cứu bước đầu của Viện Bảo vệ sức khỏe trẻ em và khoa Nhi Bệnh phương pháp chẩn đoán huyết thanh (phản ứng kết hợp bổ thể) và phương pháp miễn dịch huỳnh quang cho thấy virus gây bệnh NKHHCT ở trẻ em đứng hàng đầu là virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitial Virus) Sau đó là các loại virus cúm, á cúm và adenovirus

Vi khuẩn còn là nguyên nhân quan trọng gây NKHHCT ở trẻ em, đặc biệt là các nước đang phát triển

Các loại vi khuẩn thường gặp xếp thứ tự như sau:

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự Sau đây

là một trong nhiều kết quả nghiên cứu về nguyên nhân vi khuẩn gây NKHHCT ở trẻ em Việt Nam (kết quả nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ phối hợp với Viện Bảo vệ sức khoẻ trẻ em tại một phường ở Hà Nội)

Bảng 1.1 Vi khuẩn gây NKHHCT ở trẻ em Việt Nam

Trang 16

Các kết quả nghiên cứu khác cũng tương tự, nghĩa là hai loại vi khuẩn thường gặp gây NKHHCT ở trẻ em Việt Nam vẫn là Streptococcus pneumoniae và Haemophilus influenzae

1.2.3 Yếu tố nguy cơ

- Tuổi: tuổi càng nhỏ càng dễ bị NKHHCT, thường gặp chủ yếu ở trẻ

dưới 3 tuổi

- Thời tiết: bệnh thường gặp vào mùa đông xuân, thời tiết lạnh, thay đổi độ

ẩm và chuyển mùa (tháng 4-5 và tháng 9-10 là những tháng chuyển mùa từ xuân sang hè và từ hè chuyển sang thu đông)

- Môi trường: môi trường vệ sinh kém nhà ở chật chội, ẩm thấp, nhiều bụi, khói (thuốc lá, bếp than )

- Yếu tố dinh dưỡng, bệnh tật: NKHHCT hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng,

đẻ non, không được bú sữa mẹ, tim bẩm sinh, tiêu chảy kéo dài

- Cơ địa: những trẻ có cơ địa dị ứng, thể tạng tiết dịch

1.2.4 Phân loại

Để phát hiện kịp thời và xử lý đúng các trường hợp NKHHCT ở trẻ em, trước hết phải đánh giá và phân loại đúng dựa theo vị trí tổn thương nhất là dựa theo mức độ nặng nhẹ của bệnh

a Phân loại theo vị trí giải phẫu:

Nhiễm khuẩn hô hấp dưới ít gặp hơn và thường là nặng bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và viêm phổi - màng phổi

Có nhiều cách nhưng hiện nay người ta đã thống nhất lấy nắp thanh quản làm ranh giới Nếu tổn thương trên nắp thanh quản là NKHH trên, tổn thương các

bộ phận dưới nắp thanh quản là NKHH dưới

Trang 17

Nhiễm khuẩn hô hấp trên bao gồm ho, cảm lạnh, viêm tai giữa, viêm mũi họng (trong đó có viêm VA, amidan ) phần lớn các trường hợp NKHHCT ở trẻ

em là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (70-80%) và thường là nhẹ

Nhiễm khuẩn hô hấp dưới ít gặp hơn và thường là nặng bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản và viêm phổi - màng phổi

b Phân loại theo mức độ nặng nhẹ: Thường được sử dụng trong thực tế để xây dựng phác đồ chẩn đoán và xử trí

- NKHHCT có thể nhẹ (không viêm phổi) không cần dùng kháng sinh, chăm sóc tại nhà

- NKHHCT thể vừa (viêm phổi) dùng kháng sinh điều trị tại nhà, trạm xá

- NKHHCT thể nặng (viêm phổi nặng) đến bệnh viên điều trị

- NKHHCT thể rất nặng (viêm phổi rất nặng hoặc bệnh rất nặng) cần

điều trị cấp cứu tại bệnh viện

Hình 1 1 Sự phân loại NKHHCT theo vị trí giải phẫu

Trang 18

Bảng 1.2 Phác đồ xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 2 tháng tuổi Phân loại

- Thở nhanh(60 lần/phút trở lên)

- Không co rút lồng ngực mạnh

- Không thở nhanh (dưới 60 lần/phút)

- Gửi gấp đi bệnh viện

- Giữ ấm ho trẻ

- Cho liều kháng sinh đầu (Nếu không có điều kiện gửi đi bệnh viện phải điều trị với một kháng sinh và theo dõi sát

- Hướng dẫn bà mẹ theo dõi

- Chăm sóc tại nhà

- Tăng cường cho bú

mẹ

- Làm sạch mũi nếu gây cản trở bú

- Đưa trẻ đến bệnh viện nếu:

+ Thở trở nên khó khăn + Nhịp thở nhanh + Ăn kém cho ăn khó khăn

+ Trẻ ốm hơn, mệt hơn

Trang 19

Dấu hiệu

- Không uống được thuốc

- Co giật

- Ngủ li bì khó đánh thức

- Thở rít khi nằm yên

Suy dinh dưỡng

- Co rút lồng ngực - Không co rút lồng

ngực Thở nhanh

- Không co rút lồng ngực mạnh

- Không thở nhanh)

Xử trí

- Gửi cấp cứu đi bệnh viện

- Cho liều kháng sinh đầu

- Điều trị sốt (nếu có)

- Điều trị khò khè (nếu có)

- Nếu nghi ngờ sốt rét cho uống thuốc chống sốt rét

- Gửi cấp cứu

đi bệnh viện

- Cho liều kháng sinh đầu

- Điều trị sốt (nếu có)

- Điều trị khò khè (nếu có)

- Nếu không

có điều kiện chuyển đi bệnh viện phải điều trị với một kháng sinh

và theo dõi sát sao

- Hướng dẫn

chăm sóc tại nhà

- Cho một kháng sinh

- Điều trị sốt (nếu có)

- Điều trị khò khè (nếu có)

- Theo dõi sát sau 2 ngày (hoặc sớm hơn nếu tình trạng xấu) phải đánh giá lại

- Nếu ho trên

30 ngày cần đến bệnh viện khám tìm nguyên nhân

- Đánh giá và

xử trí vấn đề tai hoặc họng (nếu có)

- Đánh giá và

xử trí các vấn đề khác

- Hướng dẫn

bà mẹ:

+ Điều trị sốt (nếu có) +Điều trị khò khè (nếu có) 1.3 Kỹ thuật vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT [13]

Trang 20

quả điều trị, giảm biến chứng, giảm số ngày nằm viện và cải thiện chức năng phổi cho người bệnh

- Tình trạng viêm nhiễm sau phẫu thuật phổi

- Ứ đọng đờm dãi do nằm lâu: Tai biến mạch máu não, liệt tủy

- Người bệnh cởi bỏ bớt quần áo chật, trang sức, cúc áo và khóa quanh vùng

cổ, ngực và thắt lưng; mặc quần áo mỏng, nhẹ, có thể dùng thêm một khăn đặt lên vùng vỗ rung để giảm đau khi vỗ rung, không vỗ rung trực tiếp lên da trần

Trang 21

- Để người bệnh ở tư thế thích hợp cho dẫn lưu tư thế tùy theo vị trí tổn thương phổi

1.3.5 Các bước tiến hành

- Vỗ: Kỹ thuật viên khum bàn tay vỗ đều trên thành ngực sao cho các cạnh của bàn tay tiếp xúc với thành ngực Việc vỗ được tiến hành liên tục, nhịp nhàng tạo ra áp lực dương dội đều vào lồng ngực người bệnh gây long đờm mà không gây đau cho người bệnh

- Rung: Kỹ thuật viên đặt lòng bàn tay phẳng áp vào thành ngực người bệnh tương ứng với thùy phổi bị tổn thương, căng các cơ vùng cánh tay và vai để tạo

ra sự rung và ấn nhẹ lên vùng được rung (kỹ thuật viên có thể đặt tay còn lại lên bàn tay áp vào thành ngực người bệnh và đẩy tay để tạo ra sự rung)

- Yêu cầu người bệnh thở ra thật từ từ hết sau đó hít sâu và ho khạc đờm vào chậu đựng đờm Vệ sinh mũi miệng sạch sau ho

- Mỗi lần vỗ rung kéo dài khoảng 15 - 30 phút, với những người bệnh có thể trạng yếu hoặc sức chịu đựng kém, ban đầu thời gian vỗ rung có thể ngắn, nhưng sau đó kéo dài dần Mỗi ngày nên làm 3 lần (sáng, chiều và tối)

- Thời gian đầu, việc vỗ rung cho người bệnh thường được đảm trách bởi các nhân viên y tế, sau đó cần hướng dẫn tỷ mỉ cho người nhà người bệnh kỹ thuật vỗ rung để có thể thực hiện thường xuyên khi người bệnh ra viện đặc biệt những người bệnh mắc bệnh giãn phế quản

Hình 1.2 Tư thế bàn tay đúng khi vỗ rung

Trang 22

1.3.6 Chú ý

- Kỹ thuật vỗ rung dẫn lưu tư thế tốt nhất nên tiến hành trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn 1-2 giờ để hạn chế nguy cơ người bệnh bị nôn (thường vào buổi sáng sớm hoặc trước khi đi ngủ)

- Việc vỗ rung chỉ nên thực hiện trên vùng ngực có khung xương sườn, tránh vùng cột sống, vú, dạ dày và vùng bờ sườn để hạn chế nguy cơ chấn thương lách, gan và thận

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay các nước đang phát triển, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp vẫn

là nguyên nhân mắc bệnh và tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi [14], [15] Theo số liệu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), mỗi trẻ em trung bình trong 1 năm mắc NKHHCT từ 4 đến 9 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2

tỷ lượt trẻ mắc NKHHCT chiếm 19 - 20% số trẻ dưới 5 tuổi tử vong trên toàn cầu

Tỷ lệ tử vong do NKHHCT ở các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam cao gấp 30 - 50 lần ở các nước phát triển Theo số liệu của WHO, hàng năm có khoảng

4 triệu trẻ em tử vong vì NKHHCT, trong đó trên 90% là các nước đang phát triển [16] Tỷ lệ trẻ tử vong do viêm phổi chiếm gần 1/5 số trẻ tử vong trên toàn thế giới Ở Châu Âu, tỷ lệ viêm phổi chiếm từ 30 đến 40 trường hợp/1000 trẻ/năm [17], [18]

Viêm phổi gây ra khoảng 750.000 trẻ em tử vong mỗi năm ở các nước châu Phi, vùng hạ Sahara Việc thiếu khả năng tiếp cận để tư vấn và xử lý nguyên nhân gây ra gánh nặng này[19]

Theo nghiên cứu của Kumar SGanesh, Majumdar A và cộng sự (2015) trên

509 bà mẹ của trẻ dưới 5 tuổi NKHHCT Tỷ lệ mắc NKHHCT được quan sát là 59,1%, thành thị 63,7% và nông thôn 53,7% Trình độ học vấn, điều kiện kinh tế của người mẹ có liên quan đáng kể đến NKHHCT Cải thiện điều kiện sống có thể giúp giảm gánh nặngNKHHCT trong cộng đồng [20]

Trang 23

Nghiên cứu của Leslie H Kirilloff, Gregory R Owens, Robert M Rogers, Marion C Mazzocco về “Vỗ rung lồng ngực và dẫn lưu tư thế ở bệnh nhân giãn phế quản” đánh giá trên 13 bệnh nhân giãn phế quản ổn định để xác định ảnh hưởng của vật lí trị liệu lồng ngực lên chức năng phổi, oxy động mạch và xuất tiết đờm Kết quả cho thấy vật lí trị liệu lồng ngực an toàn, dung nạp tốt và hỗ trợ bệnh nhân tống đờm ra ngoài [21]

Nghiên cứu của A Gallon “Đánh giá tác dụng phương pháp vỗ rung lồng ngực trong điều trị bệnh nhân có nhiều đờm” Tác dụng của phương pháp vỗ rung lồng ngực đã được nghiên cứu trên 9 bệnh nhân có số lượng đờm nhiều Điều trị bao gồm dẫn lưu tư thế (PD) và kỹ thuật thở cưỡng bức (FET) tạo ra đờm với tốc

độ 0.831 g 𝑚𝑖𝑛 Khi phương pháp vỗ rung lồng ngực được đưa vào phác đồ điều trị thì tốc độ tống đờm ra ngoài lớn hơn đáng kể (p<0,05), là 1.231g 𝑚𝑖𝑛 đối với phương pháp vỗ rung nhanh và 1.040g 𝑚𝑖𝑛 đối với phương pháp vỗ rung chậm Chức năng phổi và độ bão hòa oxy không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ phác đồ điều trị nào Nghiên cứu này chứng minh rằng vỗ rung lồng ngực là một phương pháp hỗ trợ hữu ích trong điều trị bệnh nhân có nhiều đờm [22]

Theo nghiên cứu của J.A Pryor và cộng sự vỗ rung lồng ngực cũng đã được chứng minh giúp tăng oxy máu [23], [24] Nhưng khi vỗ rung lồng ngực trong thời gian ngắn (<30 giây) kết hợp với các bài tập giãn nở lồng ngực thì không thấy giảm độ bão hòa oxy [25] Những bệnh nhân bị yếu hoặc liệt thần kinh cơ, những người bị suy giảm trí tuệ vỗ rung lồng ngực là một kỹ thuật khai thông đường thở hữu ích, giúp kích thích ho

1.4.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, NKHHCT là bệnh phổ biến có tỷ lệ mắc và tử vong cao [14], đứng đầu các bệnh trong nhóm nhiễm trùng cấp tính, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi (Theo ước tính hàng năm có khoảng 30 –50% số trẻ đến khám vì NKHHCT) [26] Mỗi năm có khoảng 20 ngàn đến 30 ngàn trẻ dưới 5 tuổi chết vì NKHHCT chủ yếu là do bệnh viêm phổi chiếm khoảng 22 -24 ngàn trẻ tử vong [27]

Theo nghiên cứu của Mai Anh Tuấn (2008) trên 552 trẻ em tại Bắc Kạn: Không viêm phổi, ho hoặc cảm lạnh chiếm 35,69 %; viêm phổi là 4,17 %; viêm

Trang 24

phổi nặng hoặc bệnh rất nặng là 0,91% Tỷ lệ mắc NKHHCT tăng dần theo nhóm tuổi Nhóm tuổi từ 12 –35 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất 45,02% Ở thể không viêm phổi, ho hoặc cảm lạnh trẻ có tỷ lệ mắc tăng dần theo nhóm tuổi, mắc cao nhất ở nhóm 36 – 59 tháng tuổi: 39,37% Trẻ nam tại khu vực nghiên cứu có tỷ lệ mắc NKHHCT là 38,36%, tỷ lệ mắc ở trẻ nữ là 43,72% [28]

Nghiên cứu của Hoàng Thúy Hằng và Hoàng Thị Nguyệt về “Đánh giá tình trạng hô hấp trước và sau vỗ rung liệu pháp ở trẻ dưới 2 tháng mắc viêm phế quản phổi điều trị nội trú tại khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp”, nhằm so sánh mức độ cải thiện tình trạng hô hấp với liệu pháp vỗ rung Với 58 trẻ được chọn can thiệp vỗ rung, nghiên cứu nhận ra rằng có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê về SpO2 (74,2%), nhịp thở (43.1%), rút lõm lồng ngực 25.9%, khò khè 44.8% Và không có ca nào xảy ra tai biến [29]

Nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Vân và cộng sự (2012) “15 nhận xét kết quả của vỗ rung liệu pháp trong điều trị viêm phổi sơ sinh không thở máy tại Bệnh viện Nhi Trung ương” trên 43 bệnh nhân Trong đó, chủ yếu là bệnh nhân s uy hô hấp nhẹ đến vừa, bệnh nhân có nhịp thở nhanh (> 60 l/p) chiếm 69,77%, SpO2 từ 85% trở lên, co kéo cơ hô hấp (15/43 chiếm 33,85%) không có bệnh nhân nào có nhịp thở chậm Kết thúc đợt điều trị liệu pháp cho 43 bệnh nhi trên lâm sàng chỉ còn 14% bệnh nhân có nhịp thở nhanh, khò khè được cải thiện 69,8%, co rút lồng ngực chỉ còn có 4,65% Kết quả nghiên cứu vỗ rung trên 43 trẻ sơ sinh (dưới 28 ngày tuổi), 100% số trẻ được vỗ rung từ 1- 3 lần trở lên, các trẻ được vỗ rung ít nhất 2 ngày, kết quả sau mỗi lần vỗ rung cho thấy: Các chỉ số hô hấp có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với kiểm định trung bình trước và sau [30]

Nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Thị Thành “ Những nhận xét ban đầu về thực hiện vỗ rung liệu pháp hô hấp trong điều trị viêm phổi ở trẻ em khoa hô hấp Nhi bệnh viện Xanhphôn’’ [29]

1.5 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với việc nâng cao kiến thức và thực hành

1.5.1 Khái niệm

Trang 25

Truyền thông giáo dục sức khoẻ giống như giáo dục chung, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành gia đình và cộng đồng [8] Truyền thông giáo dục sức khoẻ nói chung tác động vào 3 lĩnh vực: Kiến thức của con người về sức khoẻ, thái độ của con người đối với sức khoẻ, thực hành hay cách ứng xử của con người đối với bảo vệ và nâng cao sức khoẻ Thực chất truyền thông giáo dục sức khoẻ là quá trình dạy và học, trong đó tác động giữa người thực hiện giáo dục sức khỏe và người được giáo dục sức khỏe theo hai chiều Người thực hiện truyền thông giáo dục sức khoẻ không phải chỉ là người "Dạy"

mà còn phải biết "Học" từ đối tượng của mình Thu nhận những thông tin phản hồi từ đối tượng được truyền thông giáo dục sức khoẻ là hoạt động cần thiết đển gười thực hiện truyền thông giáo dục sức khoẻ điều chỉnh, bổ sung hoạt động của mình nhằm nâng cao kỹ năng, nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ

Sự tập trung của truyền thông giáo dục sức khoẻ là vào lý trí, tình cảm và các hành động nhằm thay đổi hành vi có hại, thực hành hành vi có lợi mang lại cuộc sống khỏe mạnh, hữu ích.Truyền thông giáo dục sức khoẻ cũng là phương tiện nhằm phát triển ý thức con người, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh trong giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng Truyền thông giáo dục sức khoẻ không phải chỉ là cung cấp thông tin hay nói với mọi người những gì họ cần làm cho sức khỏe của họ mà là quá trình cung cấp kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi về môi trường để nâng cao nhận thức, chuyển đổi thái độ về sức khỏe và thực hành hành vi sức khỏe lành mạnh Điều cần phải ghi nhớ là không nên hiểu truyền thông giáo dục sức khoẻ đơn giản như trong suy nghĩ của một số người coi truyền thông giáo dục sức khoẻ chỉ là cung cấp thật nhiều thông tin về sức khỏe cho mọi người Mục đích quan trọng cuối cùng của truyền thông giáo dục sức khoẻ là làm cho mọi người từ bỏ các hành vi có hại và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe, đây là một quá trình lâu dài, cần phải tiến hành theo kế hoạch, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, với sự tham gia của ngành y tế và các ngành khác Trong truyền thông giáo dục sức khoẻ chúng ta quan tâm nhiều đến

Trang 26

vấn đề là làm thế nào để mọi người hiểu được các yếu tố nào có lợi và yếu tố nào

có hại cho sức khỏe, từ đó khuyến khích, hỗ trợ nhân dân thực hành hành vi có lợi cho sức khỏe và từ bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe

1.5.2 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khoẻ

- Vai trò của truyền thông:

Truyền thông giúp trang bị cho người dân các thông tin về các sự việc, quan đểm và thái độ họ cần có để đưa ra các quyết định về các hành vi sức khỏe: Truyền thông diễn ra khi các thông điệp về sức khỏe được truyền đi và thu nhận Những thông điệp về sức khỏe là những điều quan trọng cần được cân nhắc cho mọi người trong cộng đồng biết và làm Nguồn phát thông tin về sức khỏe có thể từ các cán bộ y tế địa phương hoặc trung ương, cũng có thể chính các thành viên trong cộng đồng nhận ra những nhu cầu cần thay đổi [31] [32]

Một vấn đề quan trọng là điều gì sẽ xảy ra khi thông điệp được chuyển đến đối tượng? Đó chính là mục đích của truyền thông giáo dục Nếu đối tượng nghe

và hiểu thông điệp và tin tưởng vào nó chứng tỏ rằng quá trình truyền thông đã được thực hiện tốt Nếu như chỉ truyền thông đơn giản rất khó thay đổi được các hành vi Như chúng ta đã biết quá trình thay đổi hành vi rất phức tạp Nhưng các sự kiện và quan điểm được nghe, được hiểu và tin tưởng rất cần thiết để mở đường cho những thay đổi mong muốn trong hành vi và hình thành sự tham gia của cộng đồng [33]

- Vai trò của giáo dục sức khỏe:

Giáo dục sức khỏe là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của hệ thống y

tế là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan

y tế từ trung ương đến cơ sở Giáo dục sức khoẻ cũng là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của cơ sở y tế[33]

Giáo dục sức khỏe là một hệ thống các biện pháp Nhà nước, xã hội và y tế, nghĩa là phải xã hội hoá công tác này, nhằm lôi cuốn mọi ngành, mọi giới, mọi tổ chức xã hội cùng tham gia, trong ngành y tế làm nòng cốt và tham mưu [33]

Trang 27

1.6 Địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định được thành lập từ năm 2009, tọa lạc trên số

16 Hà Huy Tập, phường Trần Đăng Ninh, TP Nam Định, là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, hạng 3 với quy mô 150 giường bệnh và có 6 khoa lâm sàng: Khoa Khám bệnh, Khoa Xét nghiệm, Khoa Dược, Khoa Cấp cứu sơ sinh, Khoa Hô hấp

và Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện có 150 cán bộ y tế với trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, hết lòng phục vụ nhân dân Theo báo cáo của phòng Kế hoạch tổng hợp, lưu lượng bệnh nhi đến khám tại khoa khám bệnh của bệnh viện: Trung bình 150 trẻ/ngày, bệnh nhi điều trị nội trú khoảng 800 bệnh nhi/tháng Hàng ngày tiếp nhận nhiều trẻ mắc NKHHCT phải nhập viện trong tình trạng nặng Theo thống kê, số trẻ mắc NKHHCT phải nhập viện điều trị trung bình là 735 lượt trẻ/tháng trong 9 tháng đầu năm 2016 Trẻ mắc khi nhập viện được điều trị tại Khoa Cấp cứu sơ sinh và Khoa Hô hấp của bệnh viện Bệnh viện tiếp nhận các bệnh nhi từ tuyến trung ương chuyển về và nhiều bệnh nhi từ tuyến huyện chuyển lên, cùng các bệnh nhi trong địa bàn thành phố Nam Định

Hình 1 3 Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

Trang 28

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tương nghiên cứu

Các bà mẹ có con được chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả các bà mẹ có con được chẩn đoán nhiễm khuẩn

hô hấp cấp tính đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Những bà mẹ có con đang trong tình trạng cấp cứu

+ Những bà mẹ trong tình trạng bệnh nặng về thể chất và/hoặc tinh thần 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 10 năm 2021 đến tháng tháng 5 năm 2022

Thời gian thu thập số liệu: Tháng 3 năm 2022

Địa điểm: Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu can thiệp một nhóm có so sánh trước sau

2.3.2 Chương trình can thiệp

Đánh giá sau đánh giá lần một 7 ngày – Lần 3

So sánh, bàn luận, kết luận

Trang 29

Bà mẹ có con nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định đủ tiêu chuẩn lựa chọn

 Người thực hiện can thiệp

Sinh viên thực hiện nghiên cứu

 Thời gian, địa điểm thực hiện chương trình can thiệp

Thời gian: Tháng 3 năm 2022

Địa điểm: Phòng giáo dục sức khỏe của khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

 Nội dung can thiệp

Nội dung can thiệp kiến thức (phụ lục 2): Được thiết kế dựa trên những thông tin cung cấp về vỗ rung lồng ngực của Bộ Y tế [9] gồm 2 phần: Lý thuyết và thực hành Đối với lý thuyết:

- Hình thức can thiệp là tư vấn giáo dục sức khỏe

- Thời gian can thiệp: 15 phút

- Phương tiện: Powerpoint, tờ rơi, tài liệu truyền thông

+ Các tư thế khi vỗ rung

+ Các bước tiến hành vỗ rung

+ Các lưu ý khi thực hiện vỗ, rung

Đối với thực hành:

- Hình thức can thiệp: Xem video hướng dẫn của chuyên gia, thực hành trực tiếp

- Thời gian: 30 phút

- Phương tiện: Máy tính, video chuẩn bị sẵn, khăn, ca cốc

- Nội dung can thiệp thực hành (phụ lục 3) bao gồm:

Trang 30

+ Kỹ thuật vỗ lồng ngực

+ Kỹ thuật rung lồng ngực

Trình tự một buổi can thiệp:

Người nghiên cứu tư vấn kiến thức, thực hành trực tiếp nhóm nhỏ 2 – 3 bà

mẹ tham gia nghiên cứu

- Sau khi thu thập số liệu trước can thiệp (T1) vào buổi sáng, đến buổi chiều cùng ngày bà mẹ được mời sang phòng giáo dục sức khỏe của Khoa Hô hấp để được tư vấn

- Người nghiên cứu tthuyết trình các nội dung liên quan đến kiến thức về vỗ rung lồng ngực cho ĐTNC Sau đó nhóm nghiên cứu tiến hành giải đáp các thắc mắc của ĐTNC

- Người nghiên cứu cho các bà mẹ xem video hướng dẫn thực hành vỗ rung lồng ngực của chuyên gia, sau đó thực hành mẫu từng bước vỗ, rung lồng ngực cho bà mẹ quan sát Đồng thời tiến hành giải thích ý nghĩa và cách làm từng bước cho ĐTNC Sau thực hành mẫu nếu ĐTNC có thắc mắc người nghiên cứu sẽ giải thích ngay

- Mời một bà mẹ lên thực hiện lại các bước vỗ, rung lồng ngực cho trẻ Những bà mẹ còn lại quan sát, nhận xét những bước thực hiện đúng và chưa đúng

để chỉnh sửa cho mình

- Nghiên cứu viên nhận xét, chỉnh sửa lại các bước thực hiện chưa đúng của

bà mẹ Giải thích đầy đủ và củng cố lại một lần nữa từng nội dung của buổi giáo dục sức khỏe

- Ngay sau can thiệp sẽ tiến hành đánh giá lại kiến thức và thực hành về vỗ rung lồng ngực của ĐTNC (T2)

2.3.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

Cỡ mẫu: Trong một tháng thu thập số liệu có 30 bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu 2.3.4 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.3.4.1 Công cụ thu thập số liệu

Trang 31

môn “Hướng dẫn quy trình nội khoa chuyên khoa nghành hô hấp’’ của bộ Y tế (2014)

Công cụ thu thập số liệu đánh giá kiến thức của ĐTNC về vỗ rung lồng ngực gồm 2 phần:

Phần A: Là bộ câu hỏi phỏng vấn thông tin chung của đối tượng nghiên cứu bao gồm 8 câu hỏi đánh số từ A1 đến A8

Phần B: Là bộ câu hỏi phỏng vấn đánh giá kiến thức chung của ĐTNC về

vỗ rung lồng ngực bao gồm 14 câu hỏi từ câu B1 đến câu B14

Công cụ thu thập số liệu về thực hành của ĐTNC là bảng kiểm quan sát kỹ thuật vỗ rung lồng ngực bao gồm 9 bước: Từ bước 1 đến bước 9

2.3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu như sau: Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra (phụ lục 2), điều tra viên đọc từng câu hỏi cho ĐTNC, giải thích những

từ ngữ mà đối tượng không rõ ĐTNC trả lời câu hỏi và điều tra viên ghi lại vào phiếu thu thập số liệu Quan sát thực hành vỗ rung của bà mẹ và tích vào bảng kiểm (phụ lục 3) đã được thiết kế sẵn

Tiến trình thu thập số liệu

Bước 1: Xây dựng và thử nghiệm bộ công cụ

- Bộ công cụ được xây dựng dựa trên “Hướng dẫn quy trình nội khoa chuyên khoa nghành hô hấp’’ của bộ Y tế (2014) [9] Sau đó nhóm tác giả xin ý kiến của ba chuyên gia về nội dung, hình thức, đáp án của bộ công cụ Sau đó nhóm tác giả tiến hành chỉnh sửa, bổ sung các câu hỏi trong nghiên cứu cho phù hợp với đối tượng, địa bàn nghiên cứu

- Thử nghiệm và hoàn thiện: Bộ công cụ xây dựng xong được sử dụng điều tra thử trên 10 bà mẹ đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu (những người này không được chọn lại vào mẫu nghiên cứu) Nhập số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0 Xác định

độ tin cậy bằng cách xác định hệ số Cronbach’s Alpha, kết quả thu được như sau: Phần khảo sát kiến thức có hệ số Cronbach’s Alpha bằng 0,67 Phần khảo sát thực hành có hệ số Cronbach’s Alpha = 0,62 Do đó, bộ công cụ có độ tin cậy và được

sử dụng để thu thập số liệu

Trang 32

Bước 2: Tập huấn cho điều tra viên

- Đối tượng tập huấn: Nhóm nghiên cứu gồm 5 thành viên

- Nội dung tập huấn: Mục đích của cuộc điều tra, nội dung câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc bà mẹ, kỹ năng quan sát thực hành khách quan và các nội dung can thiệp

- Thời gian, địa điểm tập huấn: 01 ngày tại phòng giáo dục sức khỏe của Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định

- Người tập huấn: ThS Nguyễn Thị Thu Hường – Giảng viên TT Thực hành Tiền lâm sàng

Bước 3 (T1): Thu thập số liệu trước can thiệp - Đánh giá lần 1

- Hàng ngày, vào buổi sáng, tại khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định, nhóm tác giả tiến hành mời các bà mẹ có con được chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính nhập khoa trong vòng 24h tham gia nghiên cứu

- Điều tra viên tiến hành giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu, quyền lợi khi tham gia nghiên cứu Các bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào bản đồng thuận (phụ lục 1)

- Điều tra viên đọc nội dung bộ câu hỏi phỏng vấn, ĐTNC trả lời, điều tra viên khoanh vào đáp án tương ứng (phụ lục 2)

- Động viên bà mẹ thực hành vỗ rung lồng ngực cho trẻ và quan sát trực tiếp thực hành bằng bảng kiểm đã được xây dựng trước (phụ lục 3)

- Sau đánh giá, nhóm nghiên cứu tiến hành phát tài liệu, tờ rơi cho ĐTNC

- Sau khi thu thập số liệu, kiểm tra lại và đảm bảo các nội dung trả lời đã đầy đủ theo yêu cầu của nghiên cứu

Bước 4: Can thiệp giáo dục sức khỏe

- Trong buổi chiều cùng ngày với đánh giá trước can thiệp, những bà mẹ đã được đánh giá trước can thiệp ở buổi sáng sẽ được mời sang phòng Giáo dục sức khỏe của khoa Hô hấp để được tư vấn trực tiếp về kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực cho trẻ (can thiệp nhóm nhỏ 3 bà mẹ/lần)

- Can thiệp theo nội dung chương trình đã chuẩn bị sẵn (phụ lục 5)

Trang 33

Đánh giá lại kiến thức vỗ rung lồng ngực cho trẻ ngay sau khi can thiệp (đánh giá lần 2 – T2) bằng bộ câu hỏi và bảng kiểm đánh giá giống trước can thiệp (Bộ công cụ giống lần 1 bỏ qua phần thông tin chung) Sau khi đánh giá lại bà mẹ có kiến thức và thực hành nào chưa đúng thì điều tra viên đã nhắc nhở, bổ sung luôn cho bà mẹ Cảm ơn và hẹn gặp lại ở lần đánh giá sau (sau đánh giá lần một 7 ngày)

Bước 6 (T3): Đánh giá lần 3

Đánh giá lại kiến thức và thực hành vỗ rung lồng ngực cho trẻ của các bà

mẹ vào thời điểm sau đánh giá lần một 7 ngày Sử dụng cùng nội dung đánh giá kiến thức và thực hành như đánh giá trước can thiệp (T1) Sau khi đánh giá lại bà

mẹ có kiến thức và thực hành nào chưa đúng đã được điều tra viên nhắc nhở, bổ sung luôn cho bà mẹ Cảm ơn bà mẹ và thông báo kết thúc điều tra

2.6 Các biến số nghiên cứu

2.6.1 Các biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Tuổi: Là số tuổi hiện có của đối tượng nghiên cứu khi trả lời phỏng vấn, đây

là một biến định lượng được tính bằng công thức sau Tuổi = 2022 - (năm sinh) Trình độ học vấn: Là mức độ bằng cấp cao nhất mà bà mẹ có được hiện tại,

là biến định danh với các giá trị là: < THPT, ≥ THPT

Nghề nghiệp: Là hình thức công việc hiện tại của người mẹ đang làm, là biến định tính gồm các giấ trị sau: Cán bộ, viên chức, công nhân, nông dân,…

Nơi cư trú: Là khu vực hiện nay bà mẹ đang sinh sống, là biến định gồm các giá trị sau: Thành thị, nông thôn

Nguồn thông tin: Là biến định tính, xác định người mẹ nhận được các thông tin về vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT gồm các giá trị: Nhân viên y tế, thông tin đại chúng, bạn bè/người thân

2.6.2 Biến số kiến thức của bà mẹ về vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT Kiến thức của bà mẹ về vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT là sự ghi nhận những hiểu biết về vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT bao gồm định nghĩa, tác dụng, chỉ định và chống chỉ định của vỗ rung lồng ngực cho trẻ NKHHCT Cách thức đo lường: Sử dụng bộ công cụ được nhóm nghiên cứu xây dựng

Trang 34

Bà mẹ trả lời câu hỏi phỏng vấn đúng được 1 điểm, không đúng hoặc không biết được 0 điểm Điểm kiểm tra càng cao thì kiến thức càng cao

Trả lời đúng ≥ 50% (tương ứng ≥ 15 điểm) là kiến thức đạt, < 50 % (tương ứng < 15 điểm) là kiến thức chưa đạt

2.6.3 Biến số thực hành vỗ rung lồng ngực của bà mẹ có con NKHHCT Thực hành vỗ rung lồng ngực của bà mẹ có con NKHHCT là kỹ năng vỗ rung lồng ngực của bà mẹ bao gồm tư thế và thao tác vỗ rung lồng ngực

Cách thức đo lường: Sử dụng bảng kiểm quan sát

Quan sát và tích vào bảng kiểm đánh giá từng bước thực hiện, mỗi bước thực hành làm đúng, đủ được 1 điểm còn làm đúng, không đủ hoặc làm sai, không làm thì được 0 điểm Điểm thực hành càng cao thì bà mẹ thực hành càng tốt Kết quả thực hành đúng ≥ 50% (tương ứng ≥ 5 điểm) là thực hành đạt, < 50% (tương ứng < 5 điểm) là thực hành chưa đạt

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

Nhập số liệu, làm sạch và xử lí số liệu bằng phần mền SPSS 22.0

Tính các giá trị phần trăm, giá trị trung bình, trước và sau can thiệp

Sử dụng test kiểm định Mcnemar

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu này tiến hành thu thập số liệu tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định sau khi được sự đồng ý và cho phép của lãnh đạo bệnh viện,

Nghiên cứu được hội đồng xét duyệt đề cương nghiên cứu trường Đại học Điều dưỡng Nam Định nhất trí thông qua

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể, rõ ràng

về mục đích của nghiên cứu và đối tượng tự nguyện hợp tác tham gia nghiên cứu Tất cả các thông tin thu thập được từ đối tượng nghiên cứu chỉ phục vụ vào mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích khác

Mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ bí mật

Trang 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=30)

Trang 36

Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy: Bà mẹ làm công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 43,3%; còn lại là nghề khác như kinh doanh buôn bán 26,7%; cán bộ, viên chức 16,7%; nông dân, nội trợ 13,3%

Bảng 3.2 Các đặc điểm về thông tin giáo dục sức khỏe

3.2 Thực trạng kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu về vỗ rung lồng ngực trước can thiệp

3.2.1 Thực trạng kiến thức của đối tượng nghiên cứu về vỗ rung lồng ngực trước can thiệp

Ngày đăng: 03/02/2023, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Mark Nand Mimi N (2010), "Acute respiratory illness: Popular health culture and mother's knowledge in the Philippines", Cross-Cultural Studies in Health and Illness, Medical Anthropology, 15(4), 353 -375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cross-Cultural Studies in Health and Illness
Tác giả: Mark Nand Mimi N
Năm: 2010
16. Phạm Ngọc Hà (2005), Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Tân Túc huyện Bình Chánh-thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ y khoa, Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của những bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại thị trấn Tân Túc huyện Bình Chánh-thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Ngọc Hà
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
18. Bradley J.S, Byington C.L, Shah S.S and et al (2011), "The Management of Community -Acquired Pneumonia in Infants and Children Older Than 3Months of Age: Clinical Practice Guidelines by the Pediatric Infectious Diseases Society and the Infectious Diseases Society of American Clinical Infectious Diseases"American Clinical Infectious Diseases, 53(7), 25 -76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Management of Community -Acquired Pneumonia in Infants and Children Older Than 3Months of Age: Clinical Practice Guidelines by the Pediatric Infectious Diseases Society and the Infectious Diseases Society of American Clinical Infectious Diseases
Tác giả: Bradley J.S, Byington C.L, Shah S.S
Nhà XB: American Clinical Infectious Diseases
Năm: 2011
19. Druetz T, Siekmans K, Goossens S and et al (2013), "The community case management of pneumonia in Africa: a review of the evidence", Oxford Journals, Health Policy and Planning, 30(2), 253 -266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The community case management of pneumonia in Africa: a review of the evidence
Tác giả: Druetz T, Siekmans K, Goossens S and et al
Năm: 2013
27. Nguyễn Thị Kim Sơn (2013), Tìm hiểu kiến thức, thái độ xử trí chăm sóc của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa Nhi Hô Hấp, Bệnh viện Trung ương Huế, tr. 8 -26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kiến thức, thái độ xử trí chăm sóc của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa Nhi Hô Hấp, Bệnh viện Trung ương Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Sơn
Năm: 2013
28. Mai Anh Tuấn (2008). Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã miền núi tỉnh Bắc Kạn. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y dược - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã miền núi tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Mai Anh Tuấn
Nhà XB: Trường Đại học Y dược - Đại học Thái Nguyên
Năm: 2008
25. Pryor JA, Webber BA, Hodson ME. Effect of chest physiotherapy on oxygen saturation in patients with cystic fibrosis. Thorax 1990; 45: 77 26. https://benhviennhitrunguong.gov.vn/vai-tro-cua-lieu-phap-vo-rung-trong-dieu-tri-mot-so-benh-ho-hap-o-tre-so-sinh.html Link
15. Sarkar A and Bhavsar S (2017), "Assessment of common childhood diseases in 1 - 5yr age group children and determination of knownedge health care practices &amp; health seeking behaviour of parents in Jamnagar dictrict", Global Journal for research analysis, 6(4), 53 -55 Khác
17. Đoàn Thị Mai Thanh và Trần Thanh Tú (2015), "Một số căn nguyên đồng nhiễm của viêm phổi ở trẻ em có liên quan đến tình trạng nhiễm Cytomegalovirus", Tạp chí Y Học Thực Hành, 6(967), tr. 13 -15 Khác
20. Kumar S.G, Majumdar A, Kumar V.et al (2015). Prevalence of acute respiratory infection among under-five children in urban and rural areas of puducherry, India. Journal of natural science, biology, and medicine, 6(1), 3-6 Khác
21. Leslie H. Kirilloff, Gregory R. Owens, Robert M. Rogers, Marion C. Mazzocco. Chest Percussion and Postural Drainage in Patients with Bronchiectasis. Chest, Volume 88, Issue 3, September 1985, Pages 436-44 Khác
22. A.Gallon. Evaluation ò chét percussion in the treatment ò patients with copious spotum production. Volume 85, Issue, January 1991, Pages 45 – 51 23. Falk M, Kelstrup M, Andersen JB, et al. Improving the ketchup bottle method with positive expiratory pressure, PEP, in cystic fibrosis. Eur J Respir Dis 1984; 65: 423± 432 Khác
24. McDonnell T, McNicholas WT, FitzGerald MX. Hypoxaemia during chest physiotherapy in patients with cystic fibrosis. Ir J Med Sci 1986; 155:345±348 Khác
29. Hoàng Thị Nguyệt, Hoàng Thúy Hằng (2019), “Đánh giá tình trạng hô hấp trước và sau vỗ rung liệu pháp ở trẻ dưới 2 tháng mắc viêm phế quản phổi điều trị nội trú tại khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp” Khác
30. Đỗ Thị Bích Vân, Khu Thị Khánh Dung và Đỗ Mạnh Hùng (2012), 15 nhận xét kết quả của vỗ rung liệu pháp trong điều trị viêm phổi sơ sinh không thở máy tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu Y học. Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 16, Phụ bản của Số 4, 2012 Khác
31. Figueira A. L. G &amp; et al (2017). Educational interventions for knowledge on the diesase, treatment adherence and control of diabetes mellitus. Rev Lat Am Enfermagem, 25, 2863 Khác
32. Musyoka K (2013). Factorassociatiated with Peptic ulcers among adult patient attending St Michael digestive diseases and medical care in Nairobi Khác
34. Đỗ Thị Hòa, thay đổi kiến thức và thái độ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính sau gaiaos dục sức khỏe của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định năm 2017 Khác
35. Nguyễn Thị Lý, thay đổi kiến thức và thực hành của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ 6 – 24 tháng mắc nhiễm khuẩn ho hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh Nam Định Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w