Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Với lượng mưa trung bình hằng năm lớn cùng với việc có đường bờ biển chạy dài gần 3200km suốt lãnh thổ nên địa hình rất đa dạng. Trong đó, có trên 60% diện tích đất tự nhiên là đồi núi, thuộc đối tượng sản xuất lâm nghiệp, phần lớn diện tích này là đồi núi, thuộc đối tượng sản xuất lâm nghiệp, phần lớn diện tích này phân bố ở vùng cao thuộc vùng núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Địa bàn rừng núi là nơi cư trú của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nơi có địa hình cắt mạch, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế - xã hội chậm phát triển. Đời sống của một bộ phận không nhỏ đồng bào miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, du canh du cư... Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm tài nguyên rừng và ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh, tế chính trị xã hội và môi trường sinh thái của cả nước. Qua khảo nghiệm loài và xuất xứ keo thấy rằng Acasia crassicarpa sinh trưởng tốt trên các vùng đồi trọc khô hạn và vùng các nội đồng vùng Bắc Trung Bộ. Hiện nay các đơn vị trồng rừng và nhân dân trong vùng rất muốn phát triển loài cây này nhưng nguồn hạt giống còn ít, tốc độ phát triển của hom còn kém. Việc tìm hiểu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng tác dụng đến khả năng ra rễ và sinh khối của Acasia crassicarpa là một giải pháp tăng tỷ lệ ra rễ, sinh khối đáp ứng mục đích tạo được các cây con có chất lượng tốt, qua đó tạo được rừng có chất lượng đồng đều. Ngoài ra nếu kết hợp lựa chọn được những cây mẹ có phẩm chất tốt phù hợp với mục đích kinh doanh thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để góp phần vào công tác xây dựng quy trình, quy phạm và kỹ thuật gây trồng Keo lưỡi liềm bằng hom đồng thời phù hợp với phương hướng nghiên cứu và mục tiêu trồng rừng của ngành lâm nghiệp. Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến khả năng tạo rễ của hom Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở tỉnh Thừa Thiên Huế".
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á, là vùng có khí hậunhiệt đới gió mùa Với lượng mưa trung bình hằng năm lớn cùng với việc cóđường bờ biển chạy dài gần 3200km suốt lãnh thổ nên địa hình rất đa dạng.Trong đó, có trên 60% diện tích đất tự nhiên là đồi núi, thuộc đối tượng sảnxuất lâm nghiệp, phần lớn diện tích này là đồi núi, thuộc đối tượng sản xuấtlâm nghiệp, phần lớn diện tích này phân bố ở vùng cao thuộc vùng núi phíaBắc, miền Trung và Tây Nguyên Địa bàn rừng núi là nơi cư trú của cộngđồng các dân tộc Việt Nam nơi có địa hình cắt mạch, giao thông đi lại khókhăn, kinh tế - xã hội chậm phát triển Đời sống của một bộ phận không nhỏđồng bào miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, trình
độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, du canh du cư Đây là mộttrong những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm tài nguyên rừng và ảnhhưởng sâu sắc đến tình hình kinh, tế chính trị xã hội và môi trường sinh tháicủa cả nước
Trong vòng năm thập kỷ qua, diện tích rừng Việt Nam biến động rấtmạnh, thể hiện ở chỗ giảm liên tục trong suốt những năm 60, 70 và 80 của thế
kỷ 20 và việc tăng diện tích rừng với tốc độ nhanh trong vòng 15 năm trở lạiđây Nếu như diện tích rừng năm 1943 được ước tính vào khoảng 14,3 triệu
ha thì đến năm 1993 giảm xuống chỉ còn 9,3 triệu ha, tức là giảm khoảng 5triệu ha trong vòng 5 thập kỷ Nói cách khác, diện tích rừng Việt Nam đãgiảm một triệu ha trong mỗi thập kỷ hay 100.000 ha/ năm (Theo thống kêrừng toàn quốc năm 1999, Viện Điều tra Quy Hoạch Rừng) Nếu bỏ quanhững cố gắng của Việt Nam trong lĩnh vực trồng rừng trong giai đoạn nàythì tốc độ mất rừng bình quân của Việt Nam còn lớn hơn rất nhiều
Do ảnh hưởng của các chính sách khuyến khích phát triển Lâm Nghiệpcủa Đảng và Nhà nước trong thời gian qua, tình hình diện tích rừng của ViệtNam được cải thiện đáng kể Kết quả kiểm kê rừng năm 1999 theo chỉ thị286/TTg của Thủ tướng Chính phủ cho thấy tổng diện tích rừng của cả nước
là 10,9 triệu ha, tương đương với 33,2% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc.Trong những năm tiếp theo, độ che phủ rừng tiếp tục tăng, năm 2002 đạt
Trang 235,7%, tính đến cuối năm 2009, toàn quốc có gần 13,259 triệu ha rừng (hơn10,339 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2,919 triệu ha rừng trồng) Độ che phủ rừngtăng mạnh từ 37% năm 2005 lên 39,1% năm 2009, bình quân tăng mỗi năm tăng0,5% Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, đây là kết quả đáng mừng trong côngtác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của nước ta, bởi thực tế ở nhiều nước trênthế giới độ che phủ rừng đang suy giảm.
Tuy nhiên, theo Bộ NN&PTNT, thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu harừng giai đoạn 2006- 2009, cả nước trồng mới gần 864,5 nghìn ha rừng (trong
đó rừng phòng hộ, đặc dụng được hơn 190,6 nghìn ha; rừng sản xuất hơn 673,8nghìn ha), so với chỉ tiêu Nghị quyết 73 của Quốc hội mới chỉ đạt 86%
Để thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp đó Chính phủ có quyết định
số 661/QĐ-TTg về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự ántrồng mới 5 triệu ha rừng và sản xuất 1 triệu m3 ván nhân tạo Trước tình hình đóviệc chọn cơ cấu loài cây trồng hợp lý là vấn đề hết sức quan trọng Qua nhiềucông trình nghiên cứu 700 loài cây có tác dụng phù hợp Trong đó Keo látràm ,Keo tai tượng và Keo lưỡi liềm là một trong những loài cây có nhiều giá trị
và công dụng để phát triển rộng rãi đáp ứng nhiều mục đích quan trọng như phủxanh, chống xói mòn, cung cấp nguyên liệu làm bột giấy, ván nhân tạo
Qua khảo nghiệm loài và xuất xứ keo thấy rằng Acasia crassicarpa sinhtrưởng tốt trên các vùng đồi trọc khô hạn và vùng các nội đồng vùng BắcTrung Bộ Hiện nay các đơn vị trồng rừng và nhân dân trong vùng rất muốnphát triển loài cây này nhưng nguồn hạt giống còn ít, tốc độ phát triển củahom còn kém Việc tìm hiểu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng tácdụng đến khả năng ra rễ và sinh khối của Acasia crassicarpa là một giải pháptăng tỷ lệ ra rễ, sinh khối đáp ứng mục đích tạo được các cây con có chấtlượng tốt, qua đó tạo được rừng có chất lượng đồng đều Ngoài ra nếu kết hợplựa chọn được những cây mẹ có phẩm chất tốt phù hợp với mục đích kinhdoanh thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao
Để góp phần vào công tác xây dựng quy trình, quy phạm và kỹ thuật gâytrồng Keo lưỡi liềm bằng hom đồng thời phù hợp với phương hướng nghiên cứu
và mục tiêu trồng rừng của ngành lâm nghiệp Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
"Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến khả
năng tạo rễ của hom Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) ở tỉnh Thừa
Thiên Huế".
Trang 3TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Trên thế giới
2.1.1 Chất điều hòa sinh trưởng thực vật
Trong quá trình sinh trưởng, thực vật không những cần các chấtProtein, Gluxit, Lipit, Axit Nucleic để cấu tạo nên tế bào, mô và cung cấpnăng lượng cho hoạt động sống mà còn cần rất nhiều các hoạt tính sinh họcsinh lí cao, là những thành phần chiếm rất ít trong cơ thể của cây, nhưng lại
có vai trò hết sức quan trọng trong việc điều khiển sự thúc đẩy sinh trưởngcủa cây như: Vitamin, enzim, và chất điều hòa sinh trưởng, chất kích thíchsinh trưởng, hoomon thực vật trong đó chất kích thích sinh trưởng là nhómchất có nhiều ý nghĩa nhất trong sinh trưởng thực vật
Chất kích thích sinh trưởng được tổng hợp chủ yếu trên đỉnh sinhtrưởng của cây Ngoài ra, nó còn được tổng hợp trên các bộ phận đang pháttriển mạnh như lá, hoa quả, rễ non, phôi và chi phối sự hình thành các cơquan sinh trưởng
Năm 1980 Đacwin đã phát hiện hiện tượng hướng quang rất mạnh củangọn mầm cây hòa thảo nảy mầm khi chiếu sáng từ một hướng tất là sự sinhtrưởng uốn cong về nguồn chiếu sáng tới đầu ngọn cây nói chung và cây hòathảo nói riêng Ông cho rằng: đỉnh ngọn mầm cây là nơi tiếp nhận kích thíchcủa ánh sáng
Năm 1979, Paol đã cắt đỉnh 3 mầm cây và đặt lại chỗ củ Nếu đặtnguyên như cũ thì cây sinh trưởng binh thường, nhưng nếu đặt một bên hoặc
để trong tối thì xảy ra hiện tượng uốn cong hướng động của ngọn cây hòathảo như trường hợp chiếu sáng một hướng Ông kết luận rằng: đỉnh ngọn cây
đã hình thành một chất sinh trưởng nào đó vận chuyển xuống dưới cây và gâynên sự sinh trưởng của phần chồi dưới
Năm 1934, giáo sư người Hà Lan Kogl đã xác minh chất đó là acid βindol acetic, tiếp đó nhà khoa học đã chứng minh nó là auxin, một hocsmonthực vật (phytohocmon) quan trọng trong toàn bộ thế giới thực vật Bởi vìchúng có vai trò cơ bản trong quá trình phối hợp sinh trưởng và phân hóa tếbào cần thiết cho sự phát triển bình thường của thực vật Sự phát hiện ra cácchất điều hòa sinh trưởng là rất quan trọng trong lịch sử Từ đó, có rất nhiều
Trang 4công trình nghiên cứu về lĩnh vực sinh lý học thực vật và phát hiện nhiều chấtđiều hòa sinh trưởng khác Xác định được bản chất hóa học, đặc điểm tácdụng của nó trong cơ thể thực vật.
Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong ngành hóa học vàsinh học Nhiều nhà khoa học đã tìm ra nhiều chất hữu cơ nhân tạo có đặctính giống chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp chính trong cơ thể thực vật.Bằng con đường tổng hợp hóa học hàng loạt các chất hữu cơ, chất Auxin lầnlượt ra đời Các chất này được ứng dụng nhiều trong thực tế sản xuất nhằmnâng cao phẩm chất cây trồng
Qua kết quả trình bày của Lang (1961) thì Auxin có thể thúc đẩy và ứcchế sự khởi phát hoa nhưng ức chế phổ biến hơn thúc đẩy Sự thúc đẩythường thấy trong điều kiện cảm ứng quang kỳ mà liên quan đến ngưỡng của
sự ra hoa Tác động của auxin tùy thuộc rất lớn vào những yếu tố mà có thể
có lợi hoặc bất lợi trong cùng một loài
Thí dụ: Cây đậu nành Biloxi và cây Hyoscyamus: thì tác động củaauxin tùy thuộc vào nồng độ Ở nồng độ thấp thì sẽ thúc đẩy sự ra hoa nhưng
ở nồng độ cao lại ức chế Sự ức chế ra hoa ở nồng độ cao có lẻ không lạ bởi
nó liên quan đến nhiều Auxin ngăn cản kích thích sự sinh trưởng
Nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy Auxin không đối kháng với sựkhởi phát hoa như sự hiện diện của nó ở một nồng độ nhất định được yêu cầumột cách tuyệt đối nếu hoa được hình thành
Thí dụ: Trên cây cà chua, Zeeww tìm thấy rằng sự hiện diện của lá non
có thể ảnh hưởng rất lớn đến sự đáp ứng với NAA Auxin chỉ thúc đẩy sự rahoa khi không có sự hiện diện của Auxin và ngược lại không có hiệu quả khi
có sự hiện diện của nó Sự hoạt động của Auxin cũng tùy thuộc vào điều kiệnphổ biến của nhiệt độ
Thí dụ: Trên cây Xanthium và cây Hyoscyamus, nồng độ tối hảo củaauxin thay đổi với lượng bức xạ và thời gian của quang kỳ Nồng độ cũngvậy, dường như ảnh hưởng đến hiệu quả cuối cùng của auxin trong một số thínghiệm trên cây chrysanthenum
Thời gian xử lý có liên quan đến sự bắt đầu của cảm ứng hoặc nhữngthông số thời gian khác ảnh hưởng lên tác động của Auxin Trên cây SDPxanthium, Salisbury tìm thấy rằng NAA ngăn cản rất mạnh khi cảm ứng trong
Trang 5điều kiện đêm dài và hoạt động của nó sau đó Auxin áp dụng trên lá có thểđược chuyển đến chồi ngọn Tuy nhiên hoạt động của nó chỉ trước khi sựchuyển hiệu quả kích thích này, không loại trừ auxin can thiệp vào sự gợi sớmhơn của chồi ngọn Vị trí tác động của auxin nói chung hiệu quả trên đỉnh chồinhưng không loại trừ một loại khác hiệu quả trên lá hoặc phần khác của cây.
Auxin nói chung, IBA và NAA nói riêng có vai trò rất nhiều mặt đốivới cây trồng Vai trò quan trọng nhất của Auxin là kích thích quá trình tăngtrưởng của tế bào, kích thích pha giảm chủ yếu theo chiều ngang
Auxin tác động đến quá trình sinh trưởng của tế bào nhằm làm tăng quátrình đàn hồi, đồng thời kích thích quá trình trao đổi chất và năng lượng, từ đóthúc đẩy phân chia tế bào nhanh hơn Auxin còn ảnh hưởng đến quá trình sinhtrưởng của cây như nảy mầm, sinh trưởng của rễ, thân, lá
Trong những năm gần đây, người ta cho rằng ngoài tác động trực tiếpgây giản nở tế bào còn có tác động đến cơ chế tổng hợp protein Theo quanđiểm này thì Auxin được coi là nhân tố tác động lên bộ máy di truyền của tếbào Nó có tác dụng mở gen đã bị kìm hảm từ trước, xúc tiến tổng hợp ARNthông tin (mARN) và từ đó tổng hợp các protein - enzim chuyên tính gây nên
sự giản nở của tế bào
Cơ chế khái quát bằng mô hình sau:
Auxin
Vỏ tế bào Trong quá trình sinh trưởng của rễ Auxin gây nên hiện tượng ức chếphân nhánh phụ ở rễ như ở thân Đặc biệt Auxin là yếu tốt quyết định cử độngsinh trưởng hướng đất của rễ, tạo điều kiện cho rễ đi sâu vào đất để tìm kiếmthức ăn và nước cho trái cây
Trang 6Tác động của Auxin phụ thuộc vào nồng độ Nồng độ quá thấp chưa tớingưỡng kích thích thì chưa gây tác dụng Nồng độ cao quá lại tác dụng ức chếsinh trưởng Chỉ với nồng độ thích hợp thì mới có tác dụng kích thích.
Auxin được tổng hợp tại đỉnh sinh trưởng và vận chuyển xuống thâncây với tốc độ từ 0,5 - 1,5cm/giờ, càng xa đỉnh ngọn lượng Auxin càng giảm
Ngày nay các nhà khoa học đã nghiên cứu được nhiều loại Auxin nhântạo khác nhau Nhưng do điều kiện hạn chế nên trong phạm vi đề tài này tôichỉ nghiên cứu chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp IBA và NAA
IBA (Indol Butyric Axit) là một dẫn xuất của indol thuộc nhóm Auxinđược nhà bác học người Đức Kogl đã chiết dưới dạng tinh thể từ nước tiểuđộng vật IBA có kết tinh màu trắng tan trong dung môi hữu cơ, cồn, Benzen
IBA và NAA có độ bền hóa học
Công thức phân tử: C12H8O2N
Trọng lượng phân tử: 203,2
Hàm lượng Auxin cũng như IBA, NAA có trong acid, ngay trong các
mô đang sinh trưởng tích cực hàm lượng Auxin cũng không đáng kể Vì vậymuốn kích thích quá trình ra rễ của hôm giâm nhân giống thì phải sử dụngkích thích sinh trưởng tác động vào
2.1.3 Cơ sở di truyền
Trong phân bào nguyên nhiễm, nhờ có quá trình tự tái bản và phân lyđồng đều của nhiễm sắc thể về hai cực của tế bào từ một tế bào mẹ Nhờ vậycác tế bào con không những duy trì được bộ nhiễm sắc thể đặc trưng cho loài
mà dữ liệu kiểu di truyền của tế bào mẹ Trên cơ sở đó, các cá thể của dòng
vô tính có kiểu di truyền là bản sao của cây đầu dòng
Trang 7Khả năng sinh sản sinh dưỡng còn phụ thuộc vào bản chất di truyền củaloài cây Trong thiên nhiên có loài sinh sản sinh dưỡng là chủ yếu như Dương(populus), Criptomeria có loài vừa sinh sản sinh dưỡng vừa sinh sản hữutính như Dâu tằm (Morusalla) và nhiều loài sinh sản hữu tính như Bạch đàn(Eucaluplus), Thông (Pinus) Tuy nhiên nếu chúng ta có các biện pháp tácđộng thích hợp thì chúng có thể sinh sản sinh dưỡng.
2.1.4 Cơ sở phát sinh và phát triển
Quá trình phát sinh, phát triển cá thể của mỗi sinh vật nói chung và câyrừng nói riêng được điều khiển bởi bộ gen đặc trưng cho cá thể đó Chất hoạtđộng của bộ gen lại bị chi phối bởi môi trường xung quanh (tế bào chất, các tếbào lân cận, môi trường bên ngoài ) thông qua một hệ enzim đặc hiệu Qua
đó mà tất cả các gen trong tế bào không phải hoạt động đồng thời liên tục màmỗi giai đoạn nhất định sẽ có một tập hợp các gen nhất định, hoạt động trongđiều kiện môi trường nhất định và theo một chương trình định sẵn đặc trưngcho từng loài sinh vật
Có thể phân chia phát triển của cây rừng thành 3 giai đoạn: Non trẻ,chuyển tiếp và thành thục Các bộ phận sinh dưỡng ở các giai đoạn khác nhau
có đặc điểm khác nhau thể hiện là:
- Khả năng tái sinh của bộ phận sinh dưỡng (Chồi, rễ ) đây là một dấuhiệu quan trọng xác định sự di chuyển giai đoạn từ non trẻ sang thành thục vàđược chú trọng trong nhân giống sinh dưỡng Những vật liệu lấy từ bộ phậnnon trẻ sẽ có khả năng ra chồi và rễ bất định lớn hơn vật liệu lấy từ các bộphận thành thục
Chính vì việc làm trẻ hóa vật liệu sinh dưỡng là rất quan trọng trongnhân giống sinh dưỡng Các phương pháp làm trẻ hóa vật liệu sinh dưỡngthường dùng là:
+ Tạo chồi bất định từ các chồi chặt để dùng làm hom giâm, cần chiết.+ Tạo chồi bất định từ các mô sẹo, từ rễ hoặc từ các mô nuôi cấy
+ Ghép cành lên gốc ghép non (như Cao su, Quế )
+ Xử lý các loại hoocmon trẻ
- Đặc điểm hình thái, giải phẩu sinh lý: Tất cả các đặc điểm khác biệtgiữa các giai đoạn phát triển của các bộ phận sinh dưỡng đều có ảnh hưởngtới quá trình nhân giống sinh dưỡng
Trang 82.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng
Môi trường bên ngoài bao gồm nhiều nhân tố như nhiệt độ, độ ẩm, ánhsáng, chất điều hòa sinh trưởng …có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình nhângiống sinh dưỡng nói chung và quá trình tạo rễ và sinh khối nói riêng Do đó,cần tạo điều kiện bên ngoài phù hợp nhất cho sinh trưởng, phát triển của vậtliệu giống sinh dưỡng Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với các biện phápnhân giống sinh dưỡng, mà vật liệu giống hoàn toàn tách rời cây mẹ sống phụthuộc vào môi trường bên ngoài
- Ảnh hưởng của ẩm độ.
Sự phân chia tế bào rất cần nước Vì vậy, độ ẩm của môi trường bênngoài ( độ ẩm đất, độ ẩm không khí ) là nhân tố quan trọng đối với nhângiống sinh dưỡng Đối với phương pháp giâm hom thì độ ẩm à nhân tố ảnhhưởng rất lớn đến khả năng ra rễ và sinh tồn của hom giâm
- Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phân chia tế bào cũng nhưcác quá trình sinh lý, sinh hóa xảy ra trong cây.Khoảng nhiệt độ tối thích cho
sự hình thành, sinh trưởng phát triển của sinh dưỡng phụ thuộc vào loài cây
cụ thể, nhưng đối với đa số các loài cây rừng thì nhiệt độ ban ngày thích hợpvào khoảng 210C – 270C và nhiệt độ tối thích ban đêm là 170C – 180C
- Ảnh hưởng của ánh sáng.
Ánh sang ảnh hưởng đến qúa trình tổng hợp chất hữu cơ ( thong quaquá trình quang hợp ) và sự hình thành các chất điều hòa nội sinh, nên qua đóảnh hưởng đến quá trình nhân giống sing dưỡng.Ánh sáng không những ảnhhưởng đến sinh trưởng một cách trực tiếp thông qua quang hợp mà còn tácđộng trực tiếp đến sự sinh trưởng của tế bào Các chỉ tiêu cần chú ý sau:
+ Cường độ ánh sáng: cường độ ánh sáng mạnh ức chế pha giãn của tébào làm cho giai đoạn này kết thúc sớm hơn nên cây ở nơi có ánh sáng chiếumạnh thường có chiều cao cây thấp Còn trong bóng tối hoặc có bóng dâmgiai đoạn giãn kéo dài hơn, cây vươn dài hơn và gây ra hiện tượng “vống”( cây cao gầy, màu sắc nhạt, rễ phát triển kém, dễ đổ gãy…) Vì vậy, nên hạnchế ánh sáng trực xạ và duy trì ánh sáng tán xạ
+ Chu kỳ quang: cần điều chỉnh chu kỳ quang phù hợp cho từng loàicây Chu kỳ quang phù hợp sẽ làm tăng hàm lượng Hydrocacbon có lợi cho
sự ra rễ và nảy chồi của hom giâm
Trang 9+ Chất lượng ánh sáng: Ánh sáng có bước song dài như ánh sáng đỏhay tia hồng ngoại kích thích giai đoạn giãn của tế bào làm tăng chiều cao,chiều dài của cây Ngược lại, ánh sáng có bước song ngắn như tia xanh, tím,tia tử ngoại thì kích thích sự phân chia tế bào và ức chế giai đoạn giãn củachúng làm cho cây thấp lùn.
số cây như: Keo lai, keo tai tượng, keo lưỡi kiềm, ươi
2.2.1.2 Kích thích sự hình thành rễ của cành giâm, cành chiết.
Phương pháp nhân giống vô tính đối với các loại cây trồng là mộtphương pháp nhân giống phổ biến trong trồng trọt Trong giâm cành và chiếtcành của các loại cây như cây ăn quả, cây công nghiệp, cây cảnh, cây thuốc
Trang 10thường sử dụng các chất kích thích sinh trưởng Việc sử dụng một số các chấtkích thích trưởng đã nâng cao hiệu quả rõ rệt vì nó kích thích sự phân chia tếbào của mô phân sinh tượng tầng để hình thành mô sẹo (callus) rồi từ đó hìnhthành rễ mới Ðể xử lý ra rễ người ta thường dùng các chất như:Axit β- indolaxetic (IAA); Axit β-indol butiric (AIB); ∝-NAA; 2,4-D; 2,4,5-T Nồng độ
sử dụng tùy thuộc vào phương pháp ứng dụng, đối tượng sử dụng và mùa vụ
Hiện nay có 2 phương pháp chính xử lý cho cành giâm và cành chiết
- Phương pháp xử lý ở nồng độ đặc hay phương pháp xử lý nhanh.Nồng độ chất kích thích dao động từ 1.000 - 10.000 ppm Với cành dâm thìnhúng phần gốc vào dung dịch từ 3-5 giây, rồi cắm vào giá thể Phương pháp
xử lý nồng độ đặc có hiệu quả cao hơn cả đối với hầu hết các đối tượng cànhgiâm và nồng độ hiệu quả cho nhiều loại đối tượng là 4.000 - 6.000 ppm Vớicành chiết thì sau khi khoanh vỏ, tẩm bông bằng dung dịch chất kích thíchđặc rồi bôi lên trên chỗ khoanh vỏ, nơi sẽ xuất hiện rễ bất định Sau đó bó bầubằng đất ẩm Phương pháp này có ưu điểm là hiệu quả cao vì gây nên “cái sốcsinh lý” cần cho giai đoạn đầu của sự xuất hiện rễ
2.2.1.3 Tăng sự đậu quả và tạo quả không hạt
Sau quá trình thụ phấn, thụ tinh thì quả bắt đầu được hình thành và sinhtrưởng nhanh chóng Sự lớn lên của quả là do sự phân chia tế bào và đặc biệt
là sự giãn nhanh của tế bào trong bầu Sự tăng kích thước, thể tích của quảmột cách nhanh chóng là đặc trưng sự sinh trưởng của quả Sự sinh trưởngnhanh chóng như vậy là do được điều chỉnh bằng phytohormone được sản
Trang 11sinh trong phôi hạt Hạt được hình thành là do quá trình thụ phấn, thụ tinh xảy
ra Nếu chúng ta xử lý auxin và gibberellin ngoại sinh cho hoa trước khi thụphấn thụ tinh thay nguồn phytohormone nội sinh từ phôi thì quả sẽ được hìnhthành mà không cần thụ tinh, trong trường hợp này quả sẽ không có hạt.Người ta thường dùng các chất kích thích như α-NAA, GA phun cho hoamới nở thì có thể loại bỏ được sự thụ phấn, thụ tinh mà quả vẫn lớn được Vìvậy làm cho quả lớn lên nhưng không có hạt hoặc ít hạt, năng suất cao vàphẩm chất tốt Nồng độ sử dụng tùy thuộc vào các chất khác nhau và các loàikhác nhau Có thể tạo ra quả không hạt đối với nhiều đối tượng cây trồng như
cà chua, nho, cam, quýt, ớt, dưa hấu, dưa chuột Chẳng hạn phun α-NAAnồng độ 10 - 20 ppm cho cà chua, phun GA cho nho hai lần trong thời kỳ rahoa rộ và hình thành bầu quả với nồng độ 0,01 - 0,02% (100 - 200 ppm) làmtăng kích thước và trọng lượng quả Phun GA cho cây trồng thuộc họ cam,chanh trong giai đoạn nở hoa với nồng độ dung dịch 0,025 - 0,1% làm tăngnăng suất và phẩm chất quả (vỏ mỏng, màu đẹp, hàm lượng vitamin C tăng).Với táo có thể dùng GA nồng độ 400 ppm hoặc phối hợp giữa GA (250 ppm)với auxin (10 ppm)
Việc xử lý tạo quả không hạt có ý nghĩa quan trọng trong việc làm tăngphẩm chất của quả, đặc biệt là các loại quả chứa nhiều thịt quả
2.2.1.4 Ngăn ngừa sự rụng nụ, hoa và quả
Ðể tăng năng suất cây trồng, bên cạnh biện pháp xúc tiến hình thànhquả, cần ngăn ngừa hiện tượng rụng nụ, hoa và quả non Nguyên nhân củahiện tượng này là khi quả sinh trưởng nhanh thì hàm lượng Auxin nội sinh từhạt không đủ để cung cấp cho quả lớn Nếu gặp một số điều kiện bất thuận thì
sự tổng hợp axit abxixic và etylen tăng nhanh làm cho sự cân bằng hormonethuận lợi cho sự rụng, tầng rời xuất hiện nhanh chóng
Ðể ngăn chặn sự hình thành tầng rời thì phải bổ sung thêm Auxin ngoạisinh Người ta sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng như α-NAA, GA,SADH cho cây Nồng độ xử lý thích hợp phụ thuộc vào từng loại chất và loạicây trồng Ðể ngăn chặn giai đoạn rụng quả non người ta phun lên hoa hoặcquả non của nho dung dịch GA với nồng độ từ 1- 20 ppm Ðối với lê phun α-NAA với nồng độ 10 ppm hoặc SADH 1000 ppm đều có hiệu quả tốt trongviệc ngăn chặn sự rụng của quả trước và lúc thu hoạch Ðối với táo xử lý α-
Trang 12NAA nồng độ 20 ppm vào lúc quả có biểu hiện bắt đầu rụng thì kéo dài thờigian tồn tại của quả trên cây thêm một số ngày nữa
2.2.1.5 Ðiều chỉnh thời gian ngủ nghỉ của các loại củ, hạt:
Sự ngủ nghỉ thường xảy ra với các loại hạt sau khi chín, các loại củ, cănhành cũng như các chồi ngủ Nguyên nhân quyết định sự ngủ nghỉ là do cácchất ức chế sinh trưởng Trong hạt, củ, chồi đang ngủ nghỉ tích lũy một lượnglớn chất ức chế sinh trưởng mà chủ yếu là axit abxixic, đồng thời hàm lượngchất kích thích sinh trưởng giảm đến mức tối thiểu, đặc biệt là gibberellin
Để phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ, người ta sử dụng chủ yếu GA3 GA3 khixâm nhập vào các cơ quan đang ngủ nghỉ sẽ làm lệch cân bằng hormonethuận lợi cho sự nảy mầm Khi hạt nảy mầm thì quá trình tổng hợp gibberellindiễn ra mạnh, gibberellin hoạt hóa tổng hợp các loại enzyme thủy phân cầnthiết cho quá trình nảy mầm Vì vậy muốn hạt nảy mầm thì tăng hàm lượnggibberellin trong chúng
Ðể phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ cho khoai tây thu hoạch vụ đông để trồng
vụ xuân bằng cách xử lý GA3 nồng độ 2 ppm cho khoai tây mới thu hoạch kếthợp với xông hơi hỗn hợp rindit hoặc CS2 trong hầm đất kín sẽ kích thích nảymầm trong thời gian từ 5 - 7 ngày Ngoài ra nếu kết hợp xử lý GA3 với xử lýnhiệt độ thấp (4 – 100C) thì có khả năng phá bỏ sự ngủ nghỉ của nhiều đốitượng khác nhau
Trong kho bảo quản, nhiều trường hợp phải kéo dài thời gian ngủ nghỉ
Ðể kéo dài thời gian ngủ nghỉ củ khoai tây, người ta thường phun MH vớinồng độ 200 - 500 ppm trước thu hoạch Ðể chống tóp và chống nảy mầm củacác loại củí hành, tỏi trong bảo quản, người ta có thể xử lý IPCC (Izo - Propyl
- Cloro - Carbamat) với nồng độ 500 - 2000 ppm
2.2.1.6 Ðiều chỉnh sự ra hoa của cây
Việc sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng để kích thích sự ra hoa sớmcũng là một trong những ứng dụng phổ biến và có hiệu quả trong trồng trọt
Ðể cho dứa ra hoa trái vụ làm tăng thêm một vụ thu hoạch, người taphun α-NAA với nồng độ 25 ppm hoặc bỏ 1g đất đèn (CaC2) lên nõn dứa, khigặp mưa hoặc tưới nước đất đèn sẽ tác dụng với nước giải phóng axetylenkích thích dứa ra hoa Táo, lê, hồng khi xử lý ADHS (Acid Dimetyl HydrazidSucxinic) nồng độ 500 - 5.000 ppm có tác dụng kích thích ra hoa sớm và làm
Trang 13tăng năng suất quả Ðối với đu đủ phun axit benzotiazon axetic nồng độ 30
-50 ppm sẽ ra hoa nhiều, tăng năng suất quả Xử lý GA3 cho cây hai năm cóthể làm cho cây ra hoa vào năm đầu (xử lý cho su hào, bắp cải, xà lách)
Xử lý các chất điều hòa sinh trưởng để tăng số lượng hoa và rút ngắnthời gian ra hoa của một số loài hoa và cây cảnh Ví dụ xử lý GA3 cho cây hoaloa kèn với nồng độ 10 - 30 ppm làm cho cây ra hoa sớm
2.2.1.7 Ðiều chỉnh giới tính của hoa:
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng auxin sẽ làm thay đổi tỷ lệgiữa hoa đực và hoa cái của một số loại cây Nếu sử dụng gibberellin sẽ kíchthích sự hình thành hoa đực, sự phát triển của bao phấn và hạt phấn Còn nếu
sử dụng xytokinin và ethrel sẽ kích thích hình thành hoa cái Ở cây họ bầu bí
và các cây đơn tính khác: sử dụng ethrel 50 - 250 ppm sẽ tạo nên 100% hoacái nên đã làm tăng năng suất của các cây họ bầu bí Trong việc sản xuất hạtlai F1 của bầu bí, người ta phun GA3 để tạo cây mang hoàn toàn hoa đực vàtrồng cây chỉ mang hoa cái ở cạnh cây hoa đực và sẽ tạo quả cho hạt lai
2.2.1.8 Ðiều chỉnh sự chín của quả:
Trong thực tiễn sản xuất, việc làm quả chín nhanh và chín đồng loạt đểthu hoạch cơ giới có ý nghĩa rất quan trọng Một số các loại quả khác nhưchuối, cà chua thường thu hoạch xanh để dễ vận chuyển và bảo quản đượclâu, vì vậy việc điều khiển quả chín đồng loạt, có màu sắc đẹp là cần thiết.Chất được sử dụng phổ biến hiện nay để điều chỉnh sự chín của quả là ethrel ởdạng dung dịch, khi xâm nhập vào quả sẽ bị thủy phân và giải phóng raetylen Phun ethrel cho quả trước khi thu hoạch hai tuần với nồng độ 500 -
5000 ppm sẽ kích thích quả chín đồng loạt Sử dụng ADHS 5000 ppm cũng
có hiệu quả rõ rệt lên sự chín của quả Xử lý ethrel để kích thích sự chín củanho với nồng độ 500 - 1000 ppm Phun ethrel với nồng độ 100 - 500 ppm cho
hồ tiêu vào thời kỳ quả bắt đầu chín sẽ làm cho quả chín nhanh Phun ethrelvới nồng độ 700 - 1400 ppm làm quả cà phê chín sớm hơn 2 - 4 tuần so vớikhông xử lý Sử dụng ADHS với nồng độ 1000 - 5000 ppm để xúc tiến nhanh
sự chín của quả đào và anh đào
2.2.1.9 Nuôi cây mô tế bào:
Trang 14Trong kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thì việc ứng dụng các chất điều hòasinh trưởng là hết sức quan trọng Hai nhóm chất được sử dụng nhiều nhất làauxin và xytokinin Ðể nhân nhanh invitro, trong giai đoạn đầu cần phải điềukhiển mô nuôi cấy phát sinh nhiều chồi để tăng hệ số nhân Vì vậy người tatăng nồng độ xytokinin trong môi trường nuôi cấy Ðể tạo cây hoàn chỉnhngười ta tách chồi vào cấy trong môi trường có hàm lượng auxin cao để kíchthích ra rễ nhanh Như vậy, sự cân bằng auxin/xytokinin trong môi trườngnuôi cấy quy định sự phát sinh rễ hay chồi
Các chất thuộc nhóm auxin được sử dụng là IAA, α-NAA và các chấtthuộc nhóm xytokinin là kinetin, axit benzoic hoặc lấy từ dung dịch hữu cơnhư nước dừa, dịch chiết nấm men Ngoài các chất kích thích sinh trưởng vàdịch hữu cơ, còn bổ sung thêm các hợp chất như đường, axít amin, lipít, một
số vitamin, các nguyên tố đa và vi lượng vào môi trường nuôi cấy
Nồng độ và tỷ lệ của các chất kích thích phụ thuộc vào các loài khácnhau, các giai đoạn nuôi cấy khác nhau Tỷ lệ auxin/xytokinin cao thì kíchthích sự ra rễ, thấp thì kích thích sự ra chồi và trung bình thì hình thành môsẹo (callus)
2.2.1.10 Các chất điều hòa sinh trưởng với mục đích diệt trừ cỏ dại (herbicid):
Các chất diều hòa sinh trưởng khi sử dụng với nồng độ rất cao cũng cóthể gây nên sự hủy diệt Các chất như 2,4D; 2,4,5T; MH cũng được sử dụngkhá phổ biến vào mục đích diệt cỏ Nguyên tắc cơ bản khi sử dụng thuốc trừ
cỏ là phải quan tâm tính chọn lọc của thuốc là chỉ diệt các loại cỏ dại màkhông mà không ảnh hưởng xấu đến cây trồng
Thuốc phòng trừ cỏ dại có thể chia làm hai nhóm vô cơ và hữu cơ.Nhóm hữu cơ lại chia thành hai nhóm nhỏ: nhóm các chất không chứa nitơ vànhóm các chất chứa nitơ
Nhóm các chất không chứa nitơ thường là dẫn xuất Cl của axitphenoxyaxetic, axit α-phenoxypropionic, axit α-phenoxybutyric, axit β-phenoxyethyl Các đại diện của nhóm này như: 2,4-D; 2,4,5-T; ACMP Cácdẫn xuất của axit benzoic, axit phenylaxetic như: 2,3,6-ATB; 2,3,5,6- ATB Nhóm các chất này có ảnh hưởng nghiêm trọng lên quá trình trao đổi
Trang 15chấttrong cây và ức chế hoạt tính của các enzyme làm cho quá trình phân chia
tế bào trong mô phân sinh và sự sinh trưởng giãn của tế bào bị ngừng
Nhóm các chất chứa nitơ như các amit, các dẫn xuất của urea,thicacbamat, dithiocacbamat, dinitrophenol Các amit kìm hãm enzyme chứanhóm -SH, các dẫn xuất của urea kìm hãm sự cố định CO2 và thải O2 ở ngoàisáng, các hợp chất chứa nitơ khác cũng vi phạm đến quá trình quang hợp và
hô hấp của cây Các loại thuốc trừ cỏ được sử dụng rất thành công cho một sốloại cây trồng như lúa mì, lúa mạch, lúa gạo, cao lương, bông, cà chua, đậutương, củ cải đường
Người ta dùng 2,4-D để diệt cỏ hai lá mầm trong ruộng ngô, phun trướchoặc sau khi cỏ xuất hiện với các liều lượng như sau:
- Muối Na của 2,4-D:1,5 - 2 kg/ha.- Muối amôn của 2,4-D: 1,0 - 1,5 kg/ha
- Este của 2,4-D: 0,8 - 1,0 kg/ha
Có thể kết hợp phun 2,4-D và 2,4,5-T với một số loại thuốc trừ cỏ khác
có chứa nitơ để diệt cỏ gà và các loại cỏ khác trong ruộng ngô mà không ảnhhưởng đến cây trồng
Trong một số trường hợp việc duy trì tuổi thọ và hình dạng của cỏ lạirất có ý nghĩa Ví dụ trong lĩnh vực trang trí, để duy trì các thảm cỏ trang trí ởcông viên người ta thường phun các dung dịch kìm hãm sinh trưởng Ðặc biệt
là dùng MH với liều lượng 3-6 kg/ha làm kìm hãm sinh trưởng của cỏ, duy trìthảm cỏ bền lâu, đỡ công xén mà lại nâng cao chất lượng trang trí
2.2.2.Về chất điều hòa sinh trưởng:
Acasia crassicarpa được xác định là cây có khả năng hấp thu CO2 tốt,chính phủ Australia đã đầu tư một dự án lớn đề trồng các loài cây có khả nănghấp thụ khí CO2 tốt trên 9 nước khác nhau Trong đó ở Việt Nam được sự hợptác của chính phủ Australia thông qua Viện CSIRO và Trung tâm nghiên cứugiống cây trồng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết lâp 05 vườngiống gồm 2 loài Acasia crassicarpa và Eucalipus tereticornis Những vườngiống này nhằm cung cấp giống có chất lượng cao và có khả năng hấp thụ khíCO2 tốt phục vụ trồng rừng tại Việt Nam (Stephen Midgley) Việc áp dụngcác chất điều hòa sinh trường thuộc nhóm Auxin như NAA, IBA cũng đượcnghiên cứu và áp dụng rộng rãi vào loài Crassicarpa và mang lại những hiệuquả khả quan
Trang 162.2.3 Về khảo nghiệm xuất xứ:
Ở Việt Nam một số khảo nghiệm loài và xuất xứ trên vùng đồi cho kếtquả Acasia Crassicarpa sinh trưởng nhanh hơn Acasia auriculiformic vàAcasia mangium Trong đó các xuất xứ từ Papua New Guinea sinh trưởngnhanh nhất là các loài xuất xứ Manta prov, Gubam, Derideri và Pongaki.( Nguyễn Hoàng Nghĩa và Lê Đình Khả- 1998)
2.2.4 Tác dụng phòng hộ và môi trường sinh thái:
Một số nghiên cứu của viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam cho một
số loài cây trồng trên cát vùng Bặc Trung Bộ gồm có: Phi lao, Keo lá tràm,Keo tai tượng, Keo lưỡi liềm và các loài Keo chịu hạn, các loài Bạch đàn,muồng đen kết quả cho thấy Phi lao có khả năng thích ứng rộng nhưng cũngchỉ trên đất cát vàng và cát di động Theo TS Nguyễn Hoàng Nghĩa và GS.TS
Lê Đình Khả thì Acasia Crassicarpa vừa có khả năng sinh trưởng nhanh, lạivừa có thể thích ứng được với vùng cát nội đồng úng ngập và khô hạn nên rất
có triển vọng đối với các tỉnh miền Trung
Theo một số khảo nghiệm của WFT trên cát nội đòng tại Đông Phong Thừa Thiên Huế cho một số loài cây lá rộng và lá kim thì sau 2 năm tuổi chothấy Acasia crssicarpa có tỷ lệ sống đạt >90% và cao tới 6,0m; trong khi đóAcasia mangium chỉ sống 40% và cao 3,0m còn các loài khác thì không thểsống được (Lê Đình Khả)
-Tuy nhiên những nghiên cứu trên cát nội đồng chỉ với qui mô nhỏ vàchưa đi sâu vào các chỉ tiêu cụ thể và chưa đánh giá đầy đủ
Trang 17PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tên Việt Nam: Tên thường gọi là Keo lưỡi liềm hoặc Keo lá liềm, cónơi gọi là Keo mũi mác
Tên khoa học: Acasia crassicarpa
Họ: Mimosaceae (Họ Trinh Nữ)
Bộ: Leguminosales (Bộ đậu)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ ngày 10/1/2012 đến ngày 15/5/2012
3.2.2 Không gian
Địa điểm thực hiện đề tài là tỉnh Thừa Thiên Huế
Địa điểm tiến hành thí nghiệm là công ty lâm nghiệp Phong Điền – Thịtrấn Phong Điền - huyện Phong Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế
3.3 Mục tiêu nghiên cứu
3.3.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến khảnăng tạo rễ của hom keo lá liềm (Acasia crassicarpa)
3.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, điều kiện sinh thái vùng trồng cây
Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) làm cơ sở chọ địa điểm gây trồng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinhtrưởng thực vật đến khả năng tạo rễ của hom keo lá liềm (Acasia crassicarpa)làm cở sở xác định loại chất điều hòa sinh trưởng, nồng độ chất điều hòa sinhtrưởng thích hợp nhất cho sự phát triển của hom keo lá liềm
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học và giá trí kinh tế của loài cây Keo lưỡi liềm
- Đặc điểm hình thái
- Đặc điểm sinh thái
- Giá trị kinh tế
Trang 183.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến khả năng tạo rễ, sinh khối của các dòng keo lá liềm
- Ảnh hưởng của các loại chất điều hòa sinh trưởng (IBA,NAA) ở dạngbột đến khả năng ra rễ
- Ảnh hưởng của nồng độ các chất IBA, NAA ở dạng bột đến khả năng
ra rễ
3.5 Phương pháp nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu là các chồi gốc được lấy đồng đều tại sở câygiống huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Chất điều hòa sinh trưởng được sử dụng là IBA, NAA ở dạng bột theocác nồng độ khác nhau
- Thí nghiệm được bố trí tại Lâm Trường Phong Điền, huyện PhongĐiền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Luống giâm hom có chiều rộng 1,2m, cao 10cm Nền được xây bằnggạch có độ dốc cần thiết để thoát nước
- Tưới phun nước trên các luống bằng hệ thống vòi phun tự động vớivòi phun cao 35cm, đặt cách nhau 1m
- Đất đóng bầu: Chọn loại đất cấu tượng tốt, tơi xốp, thoáng khí Đất cókhả năng giữ nước và thoát nước tốt Tại địa phương sử dụng hỗn hợp đấtgồm 40% đất tầng B, 30% đất ràng ràng và 30% đất cây bụi
IBA 300ppm
IBA 500ppm
IBA 700ppm
IBA 900ppmNAA
000ppm
NAA 100ppm
NAA 300ppm
NAA 500ppm
NAA 700ppm
NAA900ppm
3.6 Tiến hành thí nghiệm
+ Dụng cụ: Cân tiểu li, ống đong, lọ thuỷ tinh, tô
+ Hoá chất: NAA, IBA nguyên chất
+ Phụ gia: Bột Talcum, cồn 90o
+ Phương pháp pha chế
- Thuốc pha chế ở dạng bột
Trang 19* Xác định khối lượng hoá chất cần pha: 1 hom cần 50mg hoá chất
Xác định thể tích cồn: Muốn hoà tan 1kg bột tan cần khoảng 1lít cồn
Xác định mIBA,IAA nguyên chất theo công thức
mIBA,NAA
CDDM = x 1.000.000
mIBA,NAA nguyên chất + mbột tan
Cách pha: Cho thuốc bột NAA, IBA vào cồn 90o trong dụng cụ phalắc đều Cho bột tan vào đánh đều 10 - 15 phút Dung dịch bột loãng đó đổ rakhay để trong phòng 1 - 2 ngày cho cồn bốc hơi hết ta được dạng bột NAAhoặc IBA
3.7 Xử lý số liệu
Hom giâm được xử lý ở hai loại thuốc NAA, IBA ở các nồng độ khácnhau nhằm tìm ra loại thuốc nào và ở nồng độ nào cho tỷ lệ ra rễ cao nhất ápdụng phương pháp so sánh mẫu về chất (Thống kê ứng dụng trong Nông Lâmnghiệp của PGS - TS Ngô Kim Khôi, 1993), mỗi dấu hiệu quan sát chia c cấpchất lượng với r mẫu Cần kiểm tra giả thiết Ho Các mẫu là thuần nhất
Kết quả quan sát được sắp xếp với r hàng ngang và c hàng dọc
Bảng sắp xếp kết quả thí nghiệm với r mẫu và 2 cấp chất lượng.
Tai: là tổng tần số quan sát ở cấp chất lượng i
Tbi: là tổng tần số quan sát ở mẫu j
Trang 21PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế ,xã hội khu vực nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Phong Điền nằm phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thànhphố Huế 30km, có toạ độ địa lý từ 16035’41” – 16057’ vĩ độ Bắc, 107021’41”kinh Đông
- Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
- Phía Đông Bắc giáp biển Đông
- Phía Đông Nam giáp huyện Quảng Điền, Hương Trà
- Phía Nam giáp huyện A Lưới
Trên địa bàn huyện có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt xuyên Việt chạyqua với chiều dài khoảng 17km là điều kiện thuận lợi giao lưu hội nhập, trao đổihàng hoá, thông tin khoa học kỹ thuật, khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổchức, cá nhân trong và ngoài huyện cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Vị trí địa lý của huyện còn được thiên nhiên phú cho nguồn tài nguyênphong phú ở đất liền và ngoài biển khơi là một tiềm năng to lớn để phát triểnmột nền kinh tế đa dạng kể cả nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp Tuy nhiên là một huyện ở xa thành phố Huế, khí hậu khắcnghiệt nên bộc lộ một số hạn chế, thách thức do đó cần có biện pháp để đẩynhanh tốc độ phát triển và mở rộng liên kết kinh tế với toàn tỉnh, toàn vùng
Biểu 4.1: Bản đồ hành chính huyện Phong Điền
Trang 224.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Huyện Phong Điền nằm trên một dải đất hẹp được giới hạn bởi 2 consông lớn là sông Ô Lâu ở phía Bắc và sông Bồ ở phía Nam với chiều dài 17
km, chiều rộng trung bình 48km với đầy đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồngbằng và ven biển - đầm phá
Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, đơn giản ít bị chia cắt, phần phíaTây của huyện là núi đồi, tiếp đến là các lưu vực sông Bồ, sông Ô Lâu tạo nêncác bồn đại trũng với vùng đồng bằng và các dải cát nội đồng khá bằng phẳng
Căn cứ vào các đặc điểm địa hình có thể phân huyện Phong Điền thành
3 vùng chủ yếu sau:
- Vùng đồi núi
Là vùng đất phía Tây Nam của huyện thuộc địa phận các xã Phong
Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn, Phong An, và một phần xã Phong Thu và thịtrấn Phong Điền Gồm những dãy núi cao với độ cao trung bình khoảng
1000 m, độ dốc bình quân 350, nhiều nơi địa hình hiểm trở Địa hình thấpdần từ Tây Nam xuống Đông Bắc, với vị trí là khu vực đầu nguồn sông Bồ,sông Ô Lâu nên thảm thực vật ở đây có ảnh hưởng lớn đến khu vực hạ lưu.Đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển các vùng chuyên canh, câycông nghiệp dài ngày… Nhưng cần có biện pháp để tổ chức khai thác cóhiệu quả và khắc phục những khó khăn trong sản xuất là khô hạn trong mùakhô và xói mòn, rửa trôi mạnh trong mùa mưa
- Vùng đồng bằng
Bao gồm các xã Phong Hoà, Phong Bình, Phong Chương, Phong Hiền
và một phần xã Phong Thu và thị trấn Phong Điền Đây là vùng đất hẹp, bằngphẳng chạy dài theo quốc lộ 1A và phần lớn là đất phù sa do sông Bồ và sông
Ô Lâu bồi đắp hàng năm nên thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như lúanước và các cây công nghiệp ngắn ngày Một yếu tố địa hình đặc trưng củavùng là đất cát nội đồng chưa được khai thác sử dụng với tính chất là vùng đấttương đối bằng phẳng và lượn theo các trằm nước có độ cao trung bình 7,8m
và phân bố theo 3 kiểu địa hình:
Vùng vòm cao trên 8,5m, vùng tiếp giáp với các trằm nước gần 8m vàvùng lòng trằm 4-5m Vùng đất này có nhiều khả năng đưa vào sản xuất cácloại cây công nghiệp ngắn ngày, rau, đậu đỗ và các vùng nguyên liệu
Trang 23- Vùng ven biển, đầm phá
Bao gồm các xã vùng ngũ điền với những bãi cát bằng phẳng ven biểntuỳ theo độ xâm thực của biển mà có chiều rộng khác nhau tạo nên nhữngvùng cát nội đồng Bên cạnh việc khai thác phát triển lâm nghiệp đặc biệt làtrồng rừng phòng hộ nhằm chống cát bay, cát lấp thì vùng đất này còn có khảnăng nuôi tôm cao triều ven biển, đây là một khả năng mới đang được tỉnh vàhuyện rất quan tâm, có hướng đầu tư phát triển
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Huyện Phong Điền nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnhhưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Do địa hình củadải Trường Sơn có ảnh hưởng mạnh đến hoán lưu khí quyển tạo nên sự khácbiệt lớn trong phân hoá khí hậu của huyện
+ Chế độ nhiệt:
Huyện Phong Điền có 2 mùa rõ rệt, mùa khô nóng và mùa mưa ẩmlạnh Nhiệt độ trung bình năm từ 240C-250C tương đương với tổng nhiệt nămkhoảng 9000 – 92000C, số giờ nắng trung bình 5 - 6giờ/ngày Biên độ nhiệtgiữa các tháng trong năm chênh lệch 70C – 90C
- Muà nóng: Từ tháng 3 đến tháng 8 do chịu ảnh hưởng của gió TâyNam nên khô nóng, nhiệt độ cao trung bình lớn hơn 250C, tháng nóng nhấtthường là tháng 6 hoặc tháng 7 nhiệt độ trung bình 290C Nhiệt độ cao nhấttuyệt đối 39-400C
Mùa lạnh: Từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, chịu ảnh hưởng của giómùa Đông Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về muà lạnh ởvùng đồng bằng từ 200C - 220C, ở miền núi từ 170 – 190, tháng có nhiệt độthấp nhất (tháng 1) xuống dưới 150C
+ Chế độ mưa ẩm
Huyện Phong Điền có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình hàngnăm đạt 2800 – 3000 mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yếu trong mùa mưa,hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 10 và 11 chiếm tới 45% tổng lượngmưa toàn năm nên thường có lũ lụt xảy ra vào thời gian này
Độ ẩm không khí trong vùng trung bình đạt 84%, trong mùa mưa độ
ẩm lên tới 90%
Do mùa mưa trùng với mùa có gió bão nên hay gây ra lũ lụt, ngập úngnhiều vùng trong huyện Mùa khô kéo dài lại chịu ảnh hưởng của gió Tây khô
Trang 24nóng nên mực nước của các con sông xuống thấp gây ra việc tại hạ lưu cácsông nước mặn xâm nhập vào sâu trong đất liền ảnh hưởng nghiêm trọng đếnsản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.
+ Gió, bão
Huyện Phong Điền chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
- Gió mùa Tây Nam: bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 tốc độ gió bìnhquân từ 2 – 3m/s có khi lên tới 7 – 8m/s Gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khôhạn kéo dài
- Gió màu Đông Bắc: bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tốc độgió đạt 4 – 6m/s, trong mùa mưa bão có thể lên tới 30-40m/s Gió kèm theomưa lớn dễ gây ra lũ lụt ngập úng ở nhiều vùng
Đây cũng là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của bão thường tập trung vàocác tháng 8,9,10 bão có cường suất lớn tạo ra lũ quét nên ảnh hưởng nghiêmtrọng đến đời sống của người dân
Nhìn chung huyện Phong Điền có điều kiện khí hậu, thời tiết khắcnghiệt thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa do đó việcxây dựng các công trình thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn để giữ nước, chống lũlụt có ý nghĩa to lớn, cần được quan tâm, chú trọng
4.1.1.4 Thủy văn
Do địa hình dốc nghiêng ra biển nên sông ngòi có đặc điểm là ngắn,dốc, lắm thác ghềnh, cửa sông hẹp Vào mùa mưa lưu lượng nước lên cao, lưulượng nước trung bình khoảng 3.000m/s, mùa khô lòng sông nước khô cạn,lưu lượng nước xuống thấp 3 – 4m/s Huyện Phong Điền có các hệ thốngsông chính sau:
+ Phía Bắc và Tây Bắc có hệ thống sông Ô Lâu và sông Mỹ Chánh.Đây là 2 con sông ngắn có lưu vực thượng lưu nằm toàn bộ trong xã Phong
Mỹ và có vai trò hết sức quan trọng trong việc đi lại cũng như cung cấp nướccho khu vực vùng hạ lưu
+ Phần ranh giới phía Nam có sông Bồ với các nhánh suối của thượngnguồn là Khe Quao, Rào Trăng
Ngoài ra trong vùng còn có các hệ thống khe rạch, sông cụt chỉ hoạtđộng vào muà mưa, cạn kiệt vào muà khô
Trang 25Bảng 4.2: Đặc điểm thuỷ văn các sông lớn ở huyện Phong Điền
Số
TT Tên sông
Chiềudài(km)
Chiềurộng(m)
D.tíchlưuvực(km2)
Lưu lượng
BQ Modun dòng chảyMùa
lũ(m3/s)
Mùakiệt(m3/s)
Mùa lũ(m3/s/km)
Mùakiệt(m3/s/km)
Được chia các loại đất chính như sau :
- Đất cát (C): Diện tích 16.091,0ha chiếm 17,80% diện tích điều tra,được hình thành ven biển và các cửa sông gồm 2 loại : đất cát ven biển (C) vàcồn cát trắng vàng (Cc) Do hoạt động của biển và sông đã tạo thành nhữngdòng chảy mạnh, các hạt cát lắng đọng tạo thành những dải có mức độ dàingắn khác nhau, sự tác động của gió đã làm những cồn cát di động Đặc điểmnhóm đất này là sự phân hoá phẫu diện không rõ, thành phần cơ giới rời rạc,hạt khô, khả năng giữ nước và độ phì kém
- Trong nhóm này, diện tích đất cát phân bố dọc bờ sông Ô Lâu, venphá Tam Giang và vùng cát nội đồng là có giá trị trong sản xuất nông nghiệpnhưng đất có thành phần cơ giới nhẹ, không có kết cấu, dung tích hấp thụthấp, các chất dinh dưỡng (mùn, đạm, lân…) đều nghèo, Kali tổng số caonhưng Kali trao đổi thấp Loại đất này thích hợp cho trồng các loại hoa màu,cây công nghiệp ngắn ngày như : mía, lạc, đậu đỏ, cây ăn quả, cam, chanh…
Hiện nay, đất cát và cồn cát biển đang được sử dụng vào mục đích nôngnghiệp và lâm nghiệp (chủ yếu là trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất để bảo vệvùng đất nội đồng, chống cát bay, cát di động và giữ nguồn nước ngọt)
- Đất phù sa : gồm 3 loại là đất phù sa được bồi hàng năm (Pb), đất phù
sa ít được bồi (Pi) và đất phù sa không được bồi (Pk) có tổng diện tích4.019,2ha, chiếm 4,45% diện tích điều tra, thành phần cơ giới chủ yếu là thịtnhẹ, thịt trung bình Đây là loại đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp đặcbiệt là lúa, màu….phân bố chủ yếu ở Phong Chương, Phong Bình, PhongHoà, Phong Hiền
Trang 26- Đất đỏ vàng trên đá sét biến chất (Fs) : diện tích 17.114,4ha, chiếm18,93% diện tích điều tra được phát triển trên sản phẩm phong hoá của đámacma bazơ và trung tính, đá vôi… phân bố ở địa hình tương đối cao đếnbằng thoải lượn sóng Đất có thành phần cơ giới nặng đến trung bình, hàmlượng dinh dưỡng cao, tầng đất trung bình đến dày, thoát nước tốt Nhóm đấtnày rất thích hợp cho việc trồng cây ăn quả, nông lâm kết hợp (cao su, hồtiêu, mía, thông, keo, màu….).
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): diện tích 42.855,9 chiếm 47,41% diệntích điều tra được phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau : granit,macmaaxit, trầm tích và biến chất… đất có màu vàng nhạt do giàu Silic, thành phần
cơ giới nhẹ Độ dày tầng đất mặt trung bình, độ phì tự nhiên nghèo, khả năngthấm nước khá nhưng giữ nước kém
Nhìn chung đây là nhóm đất có khả năng trồng được cây công nghiệpngắn ngày và dài ngày như : mía, cao su, hồ tiêu……
- Đất xói mòn trơ sỏi đá (E) : diện tích 2.087,5ha chiếm 2,31% diện tíchđiều tra phân bố trên đất dốc, tầng mặt bị xói mòn rửa trôi Đất này chỉ có khảnăng sử dụng cho việc khai thác vật liệu xây dựng hoặc khoanh nuôi bảo vệrừng Diện tích này cần được phủ xanh sớm bằng các chương trình phát triểnlâm nghiệp
Ngoài ra, còn có một số diện tích đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất nâuvàng trên sản phẩm dốc tụ… nhưng với diện tích không đáng kể
Tài nguyên đất ở Phong Điền khá đa dạng trên cả 3 vùng sinh thái nênthích hợp với nhiều loại cây trồng, song việc canh tác hiện nay còn phân tánmanh mún, điều kiện cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá còn gặp nhiều khó khăn Nhìnchung đất của Phong Điền nghèo dinh dưỡng, hiện tượng chua hoá, cát bay vàxâm thực của biển cũng thường xảy ra đòi hỏi phải có biện pháp khắc phụckịp thời những hiện tượng thay đổi về môi trường đất, cần phải bảo vệ tíchcực và có phương thức canh tác hợp lý để làm cho đất ngày càng tốt hơn
4.1.1.6 Tài nguyên rừng
Theo thống kê diện tích đất đai tính đến ngày 01/01/2009 của huyệnPhong Điền có 56380,02ha đất lâm nghiệp có rừng chiếm 59,09% diện tích tựnhiên.Trữ lượng gỗ khoảng 800.000m3 với nhiều loại gỗ quý như : lim, kiềnkiền, sến……và nhiều loại lâm sản khác như : mây, tre, nứa, lồ ô… Rừngtrồng có diện tích 15080.25ha tập trung chủ yếu ở các vùng đồi núi thấp gần
Trang 274.1.1.7 Tài nguyên biển và đầm phá
Với chiều dài bờ biển khoảng 16km, Phong Điền có nhiều chủng loạihải sản có giá trị kinh tế cao như : tôm hùm, cá thu,… trữ lượng khai thácbình quân 1000tấn/năm Phong Điền có ưu thế về phát triển thuỷ sản ở cả 3vùng : biển, đầm phá và nước ngọt Vùng ven biển và vùng đầm phá cónhững đặc thù của hệ sinh thái ven bờ nên có khả năng nuôi tôm trên cát chohiệu quả cao Đặc biệt phá Tam Giang có thể nuôi trồng và đánh bắt nhiềuloại thuỷ sản có giá trị như : tôm sú, cua… Vùng nước ngọt hiện đang triểnkhai nuôi cá bằng cá bằng cách khoanh nuôi, sử dụng các hồ đập tự nhiên
4.1.1.8 Tài nguyên khoáng sản
Huyện Phong Điền có nhiều mỏ đá vôi lớn tập trung ở Phong Xuân vớitrữ lượng đạt 240 triệu m3 thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp sảnxuất xi măng các loại Ngoài ra huyện còn có mỏ nước khoáng lớn ở PhongSơn có khả năng sản xuất thành nước giải khát và phục vụ chữa bệnh
4.1.1.9 Tài nguyên nước
Huyện Phong Điền có nguồn nước mặt khá phong phú được cung cấp bởi
2 con sông lớn Ô Lâu (dài 54km) và sông Bồ (dài 26km) Ngoài ra còn có cácsông nhánh, các ao, hồ, trằm, bàu….cùng với hệ thống đập phân bố khá dày đặc,đảm bảo đủ lượng nước phục vụ tốt cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.Nguồn nước ngầm dồi dào đáp ứng được nhu cầu của nhân dân tuy nhiên cần cóbiện pháp đảm bảo vệ sinh, tránh bị nhiễm mặn, phèn và chất thải
4.1.1.10 Tài nguyên du lịch
Với những nét văn hoá truyền thống lâu đời, những di tích đấu tranhcách mạng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kết hợp cùngnhững cảnh quan đẹp như : phá Tam Giang, Tràng Chiêu, hồ Quao, rừngThông, động Adon, Khe Me, suối nước khoáng Thanh Tân…….đã tạo nên
điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch của huyện phát triển.
* Đánh giá về điều kiện tự nhiên
+ Tài nguyên khoáng sản khá phong phú, trữ lượng một số khoáng sảnlớn đủ để đầu tư khai thác công nghiệp như : đá vôi, than bùn, nướckhoáng….tạo điều kiện đẩy mạnh nền kinh tế của huyện