1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội khoa học (CNXHKH) đề tài Vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)

27 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH)
Tác giả Lê Đức Tính, Nguyễn Văn A, Nguyễn Thị B
Người hướng dẫn GVHD: ...
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 96,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM  TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC GVHD: … SVTH: Lê Đức Tính 12345678 Nguyễn Văn A 12345678 Nguyễn Thị B 12345678 LỚP: 19PLDC09 TP. Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2022 DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN HỌC KỲ II NĂM HỌC 2019 – 2020 NHÓM 1 Tên đề tài: Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam STT Họ và tên Mã số sinh viên 1 2 3 4 5 Nhóm trưởng: Nhận xét của giảng viên:   MỤC LỤC oOo Phần 1: Giới thiệu chung 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của đề tài 2 3. Mục đích của đề tài 3 LỜI NÓI ĐẦU CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT 1 1. Khái niệm vi phạm pháp luật 1 2. Dấu hiệu và cấu thành vi phạm pháp luật 4 2.1. Dấu hiệu vi phạm pháp luật 4 2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật 5 3. Phân loại vi phạm pháp luật 10 3.1. Vi phạm hình sự (tội phạm) 10 3.2. Vi phạm hành chính 10 3.3. Vi phạm dân sự 10 3.4. Vi phạm kỷ luật 10 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA 12 1. Hành vi vi phạm hình sự 12 1.1. Tình huống 12 1.2. Cấu thành vi phạm pháp luật 13 2. Hành vi vi phạm hành chính 16 2.1. Tình huống 16 2.2. Cấu thành vi phạm pháp luật: 16 3. Hành vi vi phạm dân sự 18 3.1. Tình huống 18 3.2. Cấu thành vi phạm pháp luật 18 4. Hành vi vi phạm kỷ luật 20 4.1. Tình huống 20 4.2. Cấu thành vi phạm pháp luật 20 KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23   PHẦN 1. GIỚI THIỆU CHUNG 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học kỹ thuật đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám càng ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, chúng ta, những con người càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại. Nhân tố con người đã trở thành yếu tố tiên quyết cho sự phát triển của xã hội. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định này của nhân tố con người. Thêm nữa, nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và vận khí mới, đặc biệt là trong thời đại ngày nay khi toàn cầu hóa trở nên tất yếu và cần thiết. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đang có thêm nhiều cơ hội và thách thức mới. Muốn phát triển và đi lên không còn con đường nào khác ngoài thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu. Đảng ta khẳng định: “Đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên nên nhóm quyết định lựa chọn đề tài “Vai trò của yếu tố con người và các giải pháp nhằm phát huy vai trò con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Hi vọng sẽ tiếp cận và làm rõ được các vấn đề của đề tài, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của đề tài Đối tượng được đề cập và nghiên cứu trong đề tài này chính là vai trò của yếu tố con người và các giải pháp nhằm phát huy vai trò con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sử dụng kiến thức được giảng dạy, cùng việc tham khảo giáo trình, sách, tài liệu giấy và các tư liệu Internet, tổng hợp và chắc lọc các thông tin liên quan để làm rõ vấn đề. Phân chia nghiên cứu và tổng hợp thông tin, sử dụng kiến thức được học để phân tích và phân loại các thông tin phù hợp. Sử dụng các kiến thức thực tiễn để tiến hành nghiên cứu, so sánh và rút ra kết luận về vấn đề nêu trên. 3. Mục đích của đề tài Sử dụng các dữ liệu và thông tin từ các phương tiện truyền thông cũng như thông tin thực tế để khái quát hiện trạng thực tế của vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Sơ bộ các vấn đề chung về con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Đi sâu phân tích, tìm hiểu chung về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ đó xác định vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cụ thể quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, nêu lên thực trạng nguồn lực con người Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nêu lên phương hướng và giải pháp khắc phục các mặt hạn chế trong vấn đề nhân lực. Và cuối cùng là chốt lại vấn đề. CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 1. Con người là gì Theo quan điểm của MácLênin Trong quan niệm của triết học Mácxít, con người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Con người sinh ra từ tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Luận điểm nổi tiếng về con người được C.Mác viết trong Luận cương về Phoiơbắc (1845): “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”. Với quan niệm đó, C.Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử. Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người. Ở đây, cá nhân được hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó. Hơn thế, mỗi cá nhân là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người. Vạch ra vai trò của mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất của con người, quan hệ giữa cá nhân và xã hội là một cống hiến quan trọng của triết học Mácxít. So sánh với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Con người trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động. Đó là một hệ thống cấu trúc bao gồm sức khoẻ, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức, đời sống tinh thần... Người cho con người là tài sản quý nhất, chăm lo, bồi dưỡng và phát triển con người, coi con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, nhân tố quyết định thành công của cách mạng. Nhận thức đúng đắn và khơi dậy nguồn lực con người chính là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, xem con người với tư cách là nguồn sáng tạo có ý thức, chủ thể của lịch sử. Việc đề cao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển là tư tưởng nhất quán của Đảng ta, trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở vật chất và văn hóa tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú. Lợi ích cá nhân ngày càng được chú ý, tạo cơ hội mới để phát triển cá nhân. Có thể khẳng định, Luận điểm của C.Mác về bản chất con người đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, đó là những bài học hết sức quý báu trong việc phát huy nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, góp phần sớm hiện thực hóa mục tiêu “đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. 2. Bản chất của con người Khi phê phán quan điểm của Phơ Bách, Mác đã khái quát bản chất con người, điều đó được Mác khẳng định: “Phơ Bách hoà tan bản chất tôn giáo và bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hợp những quan hệ xã hội.” Bản chất con người được thể hiện trên những nội dung sau: 2.1. Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, Mác với quan điểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng đã phân biệt rõ hai mặt sinh vật và xã hội thống nhất trong con người hiện thực. Khi tiếp cận bản chất con người ở góc độ này cần theo hướng: Thứ nhất, con người là một thực thể tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên, nhưng là sản phẩm cao nhất của tự nhiên. Vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của tự nhiên. Như vậy, tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự tồn tại của con người là giới tự nhiên. Con người là động vật cao cấp, là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới sinh vật, như thuyết tiến hoá của Đác uyn đã chứng minh. Vì vậy, con người là bộ phận của giới tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ xuất hiện một số giả thuyết cố chứng minh học thuyết của Đác uyn là không có cơ sở như: con người hiện tại là sự lai tạp giữa người ngoài hành tinh với con người ở trên trái đất, y học đã tạo ra được con người trong ống nghiệm và thực tế đã thành công như trước kia chúa tạo ra con người bằng cách đó… Trên thực tế, con người hiện đại có cấu trúc cơ thể không khác gì con người cách đây 50 vạn năm. Nhưng về mặt xã hội thì con người hiện đại có bước tiến xa hơn về năng lực, sự sáng tạo, lối sống. Thứ hai, là một thực thể tự nhiên, con người cũng có như động vật khác như nhu cầu về sinh lý và cũng có các hoạt động bản năng: đói phải ăn, khát phải uống, sinh hoạt tình dục… Nhưng giải quyết những nhu cầu đó ở con người có bước tiến xa hơn so với động vật, kể cả so với khi con người mới thoát thai khỏi động vật. Chính quá trình sinh thành, phát triển và mất đi của con người qui định bản tính sinh học trong đời sống con người. Như vậy, con người là một sinh vật có đầy đủ bản tính sinh vật. Thứ ba, mặt tự nhiên và mặt xã hội thống nhất trong con người, mặt tự nhiên là “nền” cho con người, mặt xã hội nâng mặt tự nhiên của con người lên trên động vật. Con người khác động vật ở chỗ có tư duy và hoạt động có mục đích. Mác không thừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tính sinh vật. Con người là một sinh vật nhưng có nhiều điểm khác với sinh vật. Vậy con người khác con vật ở chỗ nào? Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng lớn đưa ra tiêu chí về sự khác nhau giữa con người và con vật có sức thuyết phục như: Phranklin cho rằng con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụ lao động, Arixtốt đã gọi con người “là động vật có tính xã hội”. Pascal nhấn mạnh đặc điểm và sức mạnh của con người là ở chỗ biết suy nghĩ: con người là “một cây sậy nhưng là cây sâỵ biết suy nghĩ”. Các nhận định trên đều đúng khi nêu lên một khía cạnh về bản chất con người, nhưng đều phiến diện, không nói lên được nguồn gốc của những đặc điểm ấy và mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau. Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhìn vấn đề bản chất con người một cách toàn diện, cụ thể, xem xét không phải một cách chung chung trừu tượng, phiến diện như các nhà tư tưởng khác. Theo Mác mặt xã hội của con người, có điểm nổi bật, hơn hẳn và phân biệt với động vật là con người có hoạt động lao động sản xuất vật chất. Qua quá trình lao động sản xuất: con người sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống cho mình và cho đồng loại. Sản xuất ra các giá trị tinh thần làm phong phú thêm đời sống của mình. Lao động là yếu tố hình thành bản chất xã hội của con người, hình thành nhân cách ở con người. Thứ tư, là sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội nên ở con người luôn chịu sự chi phối của ba hệ thống qui luật: Hệ thống qui luật tự nhiên: qui định sự phù hợp của cơ thể sống với môi trường, qui luật trao đổi chất, qui luật biến dị, di truyền. Hệ thống qui luật tâm lý ý thức: như sự hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí… Hệ thống qui luật xã hội: qui định mối quan hệ giữa người với người, đó là qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, qui luật với cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng… Tóm lại, con người khác con vật ở cả ba mặt: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với bản than. Cả ba mối quan hệ đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao quát mọi hoạt động của con người, cả trong lao động sinh con đẻ cái và trong tư duy. 2.2. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội Luận điểm trên chỉ rõ: không có con người trừu tượng thoát ly khỏi điều kiện cụ thể, con người luôn tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định. Nghĩa là con người cùng với xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức. Luận điểm đó được biểu hiện trên các góc độ sau: Bản chất con người được qui định bởi tất cả các mối quan hệ xã hội, tức là bị qui định bởi mối quan hệ giữa người với người. Đó là các quan hệ giữa người với người ở một hình thái kinh tế xã hội đã bỏ qua, ở hình thái kinh tế xã hội đương đại, ở một ý nghĩa nào đó là quan hệ giữa người với người theo định tính, theo mục tiêu lý tưởng. Đó là các mối quan hệ về vật chất, quan hệ về tinh thần giữa người với người. Quan hệ giữa người với người trong xã hội đương đại qui định bản chất của con người thì suy đến cùng quan hệ vật chất, quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định nhất. Bởi vì đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần, động cơ chi phối hoạt động của con người là lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế là quyết định nhất. Bản chất con người phải đặt trong quan hệ đồng loại (cộng đồng) với cá nhân trong đó mặt cộng đồng có xu hướng xích lại gần hơn. Con người hoà nhập vào cộng đồng, mang bản chất của nó vào và thể hiện bản sắc của nó. Hoà nhập vào cộng đồng không có nghĩa là đánh mất bản sắc cá nhân mà ngược lại củng cố thêm bản sắc cá nhân. Khi đề cập tới yếu tố cộng đồng thì cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp là những cộng đồng cơ bản nhất chi phối con người. Nhấn mạnh vấn đề trên không có nghĩa là bỏ qua cộng đồng nhân loại, cộng đồng người. Bản chất con người vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thời đại. Con người luôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt tinh thần của thời đại. Thời đại nào có con người ấy. Tuy nhiên không được quá nhấn mạnh, đi đến chỗ tuyệt đối hoá thực tế của con người trong những điều kiện nhất định sẽ dẫn tới sai lầm vì không thể giải thích nổi những hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội. Luận đề khẳng định bản chất con người của Mác không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên của con người. Trái lại luận đề trên muốn nhấn mạnh sự khác biệt giữa con người và loài vật trước hết là ở bản chất xã hội của con người. Mặt khác cũng chỉ rõ sự biểu hiện phong phú ở mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu, lợi ích trong cộng đồng xã hội. 2.3. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh. Song điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử xã hội. Các Mác đã từng viết “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh và của giáo dục…cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân các nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục.” Điều đó cũng được Ăng ghen khẳng định trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”: thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu.” Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới động vật dựa vào những điều kiện sẵn có của tự nhiên, với xã hội loài người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn họ sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai của mình. Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người. Trên cơ sở nắm bắt qui luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu thực tiễn do con người đặt ra. Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Do vậy, bản chất con người trong mối quan hệ đối với điều kiện lịch sử xã hội, luôn vận động biến đổi cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà trái lại, là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Có thể nói rằng sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ qui định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi của bản chất con người. Do đó, để phát triển bản chất người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàn cảnh mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người. 3. Sự phát triển của xã hội loài người Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Phù hợp với bốn hình thái kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ tiền sử: Ở thời kỳ tiền sử, hình thái kinh tế xã hội của nhân loại là cộng sản nguyên thủy. Thời kỳ này là thời kỳ dài nhất trong lịch sử xã hội loài người, kéo dài hàng triệu năm. Tất cả các dân tộc trên trái đất đều phải trải qua giai đoạn này. Đây là thời kỳ đặt nền tảng cho đặc trưng và truyền thống của từng dân tộc. Là thời “thơ ấu” của từng dân tộc, tộc người. Thời kỳ cổ đại: Xã hội chiếm hữu nô lệ ở thời kì cổ đại xuất hiện ở phương Đông sớm nhất. Từ khoảng 3000 năm TCN, tại các nước Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ và nhiều quốc gia khác. Tại các nước châu Âu xã hội này xuất hiện muộn hơn. Thời kỳ trung đại: Chế độ phong kiến (4761640) là một chế độ được hình thành nên bởi sự phân phong ruộng đất. Xuất hiện trong thời kì trung đại, quá trình phong kiến hóa diễn ra và được xác lập sớm nhất ở Trung Quốc. Khi nhà Tần thống trị Trung Quốc, chế độ phong kiến Trung Quốc bắt đầu. Tần Thủy Hoàng chính là vị “vua phong kiến” đầu tiên trong lịch sử. Trước và sau đầu công nguyên các nước châu Á đều lần lượt bước sang xã hội phong kiến. Ở Tây Âu, xã hội loài người với hình thái phong kiến được xác lập vào năm 476 – sau khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Thời kỳ cận đại: Khi chế độ phong kiến trên thế giới suy tàn vào thế kỷ thứ XVXVI. Xã hội tư bản chủ nghĩa (16401917) được thiết lập. Cuộc cách mạng tư sản Hà Lan thắng lợi năm 1609 đã lật đổ ách thống trị của Tây Ban Nha. Hà Lan sau đó đã thành lập nhà nước tư sản đầu tiên trên thế giới. Điều này đã báo hiệu một thời đại mới – thời đại của cách mạng tư sản. Vào năm 1640, cách mạng tư sản Anh thắng lợi đã mở đầu lịch sử cho thời kỳ cận đại trên toàn thế giới. Thời kỳ hiện đại: Từ năm 1917 đến nay, xã hội loài người lúc này hầu như tồn tại dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi đã mở ra thời kỳ hiện đại. Năm 1922, nhà nước Xôviết thành lập Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô) đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá khứ và hiện tại, vẫn có nhiều nước tự nhận là nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tiêu chuẩn nào cho việc một quốc gia đi theo chế độ chủ nghĩa xã hội. Trải qua nhiều năm, hiện nay có 4 quốc gia được công nhận là xã hội cộng sản chủ nghĩa. Bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Lào. Ở hình thái kinh tế – xã hội này, không có giai cấp, con người tự do, bình đẳng. Sự bình đẳng dựa trên cơ sở sở hữu chung và điều khiển chung với các phương tiện chung. Trên lý thuyết, nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã hội loài người. Là tổ chức mà thông qua đó, đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội; là một tổ chức chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội; đó là một nhà nước kiểu mới, thay thế nhà nước tư sản nhờ kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là hình thức chuyên chính vô sản được thực hiện trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.   CHƯƠNG 2. VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY 1. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1.1. Công nghiệp hóa Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản và toàn diện hầu hết các hoạt động sản xuất từ việc sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động phổ thông dựa trên sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí. Ngoài ra, Công nghiệp hóa còn được hiểu là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, năng suất lao động, … Có thể nói quá trình công nghiệp hóa là quá trình chuyển biến kinh tế xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp. Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa. Sự chuyển biến kinh tế – xã hội này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện kim quy mô lớn. Công nghiệp hóa còn gắn liền với thay đổi các hình thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên. 1.2. Hiện đại hóa Hiện đại hóa được hiểu là việc ứng dụng, trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội. Từ việc sử dụng sức lao động thủ công sang sử dụng sức lao động phổ thông ứng dụng những thành tựu công nghệ. Đây là một thuật ngữ tổng quát nhằm biểu đạt tiến trình cải biến nhanh chóng khi con người nắm được khoa học kỹ thuật tiên tiến và dựa vào đó để phát triển xã hội với một tốc độ mau chóng chưa từng thấy trong lịch sử. Vì vậy, công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động kinh tế và kinh tế – xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động phổ thông cũng như công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại để tạo ra năng suất lao động xã hội lớn. Có thể thấy rằng công nghiệp hóa hiện đại hóa theo tư tưởng mới không còn bị giới hạn về phạm vi trình độ những lực lượng sản xuất và kỹ thuật đơn thuần mà chỉ nhằm chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí giống như các quan niệm trước đây vẫn nghĩ. 2. Vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay Lịch sử công nghiệp hóa trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm. Vào giữa thế kỷ XVII, một số nước phương Tây, mở đầu là nước Anh đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí. Đây là mốc đánh dấu sự khởi đầu cho tiến trình công nghiệp hóa của thế giới. Tuy vậy, phải đến thế kỷ XIX, khái niệm “công nghiệp hóa” mới được dùng để thay thế cho khái niệm “cách mạng công nghiệp”, mặc dù sau cách mạng công nghiệp ở Anh, một thế hệ công nghiệp hóa đã diễn ra ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Trong điều kiện của Việt Nam, Đảng ta xác định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. Vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong việc phát triển nền kinh tế: Giúp đảm bảo và tạo điều kiện cho sự thay đổi về nền sản xuất xã hội, làm tăng năng suất lao động và tăng sức chế ngự của con người với thiên nhiên. Từ đó sẽ góp phần phát triển kinh tế, cải thiện được đời sống của nhân dân và một phần quyết định tới sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo các điều kiện vật chất đối việc củng cố và tăng cường vai trò của nền kinh tế Nhà nước. Nhờ đó con người sẽ được phát triển một cách toàn diện nhất trong mọi hoạt động kinh tế và xã hội. Giúp cho nền khoa học và công nghệ có điều kiện được phát triển nhanh chóng và đạt tới trình độ hiện đại, tiên tiến. Tạo điều kiện bổ sung lực lượng vật chất và kỹ thuật cho hệ thống quốc phòng, an ninh, giúp đảm bảo về đời sống kinh tế, chính trị và xã hội trong đất nước ngày càng phát triển hơn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xem là một nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tạo điều kiện để phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao năng suất lao động xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân. Tạo ra lực lượng sản xuất mới, tạo tiền đề cho việc củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa công nhân, nông dân và tri thức. Tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, kết hợp với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, củng cố, tăng cường quốc phòng và an ninh quốc gia. 3. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa hiện đại hóa trong hoàn cảnh hiện tại của nước ta và thế giới 3.1. Hoàn cảnh Nhịp độ chuyển biến của thế giới nhanh chóng đến mức khó hình dung. Quá trình đó làm cho tính chất của thời đại càng phức tạp thêm bởi những biểu hiện mới của nó. Sau khi Liên Xô tan rã, chủ nghĩa tư bản thay đổi chiến lược ra sức lợi dụng quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa để tư bản hóa toàn thế giới. Đó là sự áp đặt giá trị, đồng hóa thế giới theo màu sắc tư bản chủ nghĩa; là sự đe dọa, chà đạp, phá vỡ các giá trị truyền thống của các dân tộc và các quốc gia có chủ quyền. Vì thế, vấn đề nổi bật trên đời sống chính trị quốc tế hiện nay là các tầng lớp, giai cấp bị áp bức, bóc lột và các dân tộc, các quốc gia độc lập quyết tâm chống lại sự áp đặt và can thiệp, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ giá trị truyền thống và định hướng phát triển xã hội của mình. Trong bối cảnh ấy, định hướng xã hội chủ nghĩa là xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người. Quá trình toàn cầu hóa, một mặt, tạo điều kiện cho sự hội nhập và vươn lên của tất cả các nước, nhưng mặt khác, nó cũng là sự phân chia thành hai thái cực giàu ngèo, tạo thế độc quyền chưa từng thấy của các trung tâm công nghiệp phát triển trong các lĩnh vực tài chính, kỹ thuật công nghệ. Do đó, một số nước sinh sau đẻ muộn khi bước vào quá trình công nghiệp hóa gặp rất nhiều khó khăn. Bản thân các nước tư bản phát triển cũng gặp nhiều thách thức lớn. Do tư bản tập trung cao độ, do sự phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình toàn cầu hóa ngày càng đi vào chiều sâu, trong khi đó các thể chế thuộc kiến trúc thượng tầng vẫn chưa vượt khỏi phạm vi các quốc gia, dân tộc tư sản, nên mâu thuẫn vốn có giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội tư bản không hề giảm, mà ngày càng tăng. Quá trình toàn cầu hóa khi được gắn với việc tập trung tư bản thì đồng thời cũng làm cho quy mô bóc lột của chủ nghĩa tư bản mở rộng, làm cho mâu thuẫn thời đại thêm sâu sắc. Vì thế việc giải quyết những mâu thuẫn thời đại đòi hỏi phải có sự tự giác cao, đồng thời cần có sự phối hợp khu vực và quốc tế, cần có nội dung, phương pháp thích hợp. Chính trong bối cảnh thế giới phức tạp như vậy, các dân tộc càng phải độc lập, tự chủ và không ngừng sáng tạo, càng hội nhập thì càng cần phải phát huy bản sắc dân tộc, giá trị chuẩn mực của dân tộc hội nhập mà không hòa tan. Đúng là thế giới phát triển theo quy luật của nó, nhưng cách thức phát triển và bước đi là vô cùng phong phú, đa dạng. Mỗi nước phải tìm ra định hướng phát triển cho mình trên cơ sở những xu hướng vận động của thời đại. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam đang ra sức phát huy những thành tựu đã đạt được, tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới có bước phát triển mới, sáng tạo mô hình phát triển kinh tế xã hội đậm nét Việt Nam, đưa nước ta tiến bước vững chắc trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, phù hợp với xu thế thời đại. 3.2. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa hiện đại hóa Một là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quy luật phổ biến của sự phát triển lực lượng sản xuất, của sự phát triển xã hội mà mọi quốc gia đều phải trải qua khi muốn phát triển. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thực hiện sẽ tạo cơ sở vật chất để tăng cường tiềm lực củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và tạo môi trường kinh tế – xã hội ổn định cho sự phát triển kinh tế. Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một phương thức sản xuất là hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với một trình độ kỹ thuật mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để tiến hành quá trình lao động sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất có cơ sở vật chất – kỹ thuật tương ứng đặc trưng cho xã hội đó. Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Như vậy, cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội có trình độ xã hội quá cao hơn cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, từ chủ nghĩa tư bản hay trước chủ nghĩa tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, một quy luật kinh tế phổ biến và được thực hiện thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với nước ta, từ một nước kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, làm cho nền sản xuất xã hội không ngừng phát triển, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, trên cơ sở đó từng bước nâng dần văn minh của xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn làm cho khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức ngày càng được tăng cường, củng cố, đồng thời nâng cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân. Tóm lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhân tố quyết định thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì thế, Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 4. Mục tiêu của con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể. Đại hội X xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới. Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII nêu ra và được phát triển, bổ sung qua các Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng. Dưới đây khái quát lại những quan điểm cơ bản của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời kỳ đổi mới: Một là, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi trên thế giới kinh tế tri thức đã phát triển. Chúng có thể và cần thiết không trải qua các bước phát triển tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức. Đó là lợi thế của các nước đi sau, không phải là nóng vội duy ý chí. Vì vậy, Đại hội X của Đảng chỉ rõ: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế ở nước ta liiện nay diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tể đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới… sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Trong các yếu tố tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yếu tố con người luôn được coi là yếu tố cơ bản. Để tăng trưởng kinh tế cần 5 yếu tố chủ yếu là: vốn; khoa học và công nghệ; con người; cơ cấu kinh tế; thể chế chính trị và quản lý nhà nước, trong đó con người là yếu tố quyết định. Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hỏa đất nước cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục, đào tạo. Bốn là, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định đến tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung. Nước ta nên lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển và tiềm lực khoa học, công nghệ còn ở trình độ thấp. Muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu cầu tất yếu và bức xúc. Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế kết họp với phát triển công nghẹ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới. Năm là, phát triển nhanh và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Xây đựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Chỉ như vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng... Mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì con người, mọi con người đều được hưởng thành quả của phát triển. 5. Thực trạng về nguồn lực ở nước ta hiện nay Hiện nay, dân số nước ta hơn 98 triệu người, trong đó tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chiếm khoảng 68,7%. Đây là một lợi thế vô cùng thuận lợi để chúng ta khai thác, sử dụng vào các mục đích phát triển kinh tế – xã hội, phục vụ cho sự nghiệp dựng xây, kiến thiết đất nước. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 64,5% (theo đánh giá của Tổng cục Thống kê quý I2021); năng suất lao động của Việt Nam được cải thiện rõ nét, bình quân giai đoạn 2016 – 2020 tăng 5,8%năm, cao hơn giai đoạn 2011 – 2015 (4,3%) và vượt mục tiêu đề ra (5%). Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân 5 năm đạt khoảng 45,2% (mục tiêu đề ra là 30 – 35%). Về số lượng nguồn nhân lực: Việt Nam hiện có lực lượng lao động dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Tổng số dân của Việt Nam năm 2020 là 97.757.118 người, là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có 54,56 triệu người (chiếm gần 58% dân số) đang trong độ tuổi lao động. Tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất ở nhóm tuổi 2529. Về chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Lao động Việt Nam đã chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Về đặc trưng vùng địa lý: Lực lượng lao động đã được đào tạo có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) ở khu vực thành thị cao gấp 2,5 lần khu vực nông thôn. Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Hồng (31,8%) và Đông Nam Bộ (27,5%); thấp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (13,6%). Về năng suất lao động: Theo số liệu thống kê mà Bộ Kế hoạch – Đầu tư năm 2019, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7,6% mức năng suất của Singapore; 19,5% của Malaysia; 37,9% của Thái Lan; 45,6% của Indonesia; 56,9% của Philippines, 68,9% của Brunei. So với Myanmar, Việt Nam chỉ bằng 90% và chỉ bằng 88,7% Lào. Trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia. Những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay: Bên cạnh kết quả đã đạt được, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là những đòi hỏi của thị trường lao động thời kỳ hội nhâp. Lao động ở nước ta vẫn chủ yếu là lao động phổ thông, thiếu hụt nhiều lao động có tay nghề kỹ thuật cao; lao động vẫn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp; nhiều ngành, nghề, lĩnh vực luôn ở trong tình trạng thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao như: kinh doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, cơ khí chế tạo…; cơ cấu nhân lực lao động của Việt Nam cũng còn nhiều bất cập. Cơ cấu trình độ của nhân lực lao động Việt Nam là: 1 đại học trở lên0,32 cao đẳng 0,61 trung cấp0,37 sơ cấp. Trong khi đó, theo quy luật của thị trường lao động, những người lao động trực tiếp (trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng) phải nhiều hơn rất nhiều lần so với lao động gián tiếp (trình độ đại học). Tính đến hết tháng 32021, cả nước có 417,3 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật bị thất nghiệp (chiếm 39,7%), nhưng người có trình độ đại học trở lên có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất (155,5 nghìn người) . Những hạn chế, tồn tại trên là do: Một số cấp ủy nhận thức chưa đầy đủ về vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; Chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ…, thực hiện chưa hiệu quả; Việc phân công, phân nhiệm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa hợp lý; công tác phối hợp giữa các cơ sở đào tạo, giữa cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo và cơ sở đào tạo chưa chặt chẽ; công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; Việc bố trí nguồn nhân lực chưa đúng chuyên môn, năng lực cũng phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả, năng suất lao động; Chưa thực hiện tốt việc dự báo nguồn nhân lực, giáo dục hướng nghiệp và công tác phân luồng học sinh sau trung học. 6. Giải pháp cho nguồn lực ở nước ta hiện nay Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các tổ chức, cơ quan, đơn vị về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là nội dung quan trọng có ý nghĩa hàng đầu bảo đảm cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được diễn ra thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm để đạt được mục đích, yêu cầu đề ra. Các tổ chức, cơ quan, đơn vị và bản thân người được đào tạo, bồi dưỡng nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là để phục vụ cho đất nước, chứ không phải để phục vụ cho một cá nhân, tổ chức nào. Hai là, có cơ chế, chính sách sử dụng hợp lý, phù hợp nguồn nhân lực chất lượng cao. Trên cơ sở nền tảng những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về tiền lương, trọng dụng nhân tài thì mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương căn cứ vào tình hình cụ thể của mình để hỗ trợ phần nào điều kiện về vật chất hoặc tạo điều kiện thuận lợi về môi trường công tác cho nguồn nhân lực chất lượng cao được phát huy thế mạnh, sở trường của mình. Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Cần có sự tham gia đầy đủ, có trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành trong đề xuất, xây dựng chương trình phối kết hợp đào tạo bồi dưỡng, lựa chọn nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của từng ngành, lĩnh vực. Bốn là, các cơ quan, ban, ngành tổ chức hội nghị lắng nghe ý kiến của các nhà tuyển dụng, từ đó xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp. Với tinh thần đổi mới, sáng tạo, hành động, liêm chính, các cơ quan, ban, ngành cần thường xuyên lắng nghe người dân và doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, bất cập, tạo điều kiện thuận lợi nhất để đánh thức, khơi dậy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển bền vững ổn định ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương. Đẩy mạnh chuyển đổi số vào thực hành làm việc ở các doanh nghiệp để người lao động được tiếp cận với công nghệ mới, từ đó tích cực, chủ động trong tự học, tự nghiên cứu để áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào sản xuất, ứng dụng, giải quyết công việc; các cơ quan, ban, ngành phải thực hiện nghiêm túc những cam kết, kế hoạch, lộ trình và lời hứa trong hội nghị gặp gỡ, đối thoại giữa lãnh đạo các tỉnh với doanh nghiệp, nhà đầu tư, cũng như nguyện vọng, mong muốn của nguồn nhân lực chất lượng cao. Năm là, tăng cường công tác phối hợp, liên kết với các trường, viện, học viện, cơ sở đào tạo của trung ương, các trường ở địa phương. Khuyến khích các cơ sở đào tạo của địa phương phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, gắn kết các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, mở rộng hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và thu hút doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào đào tạo nhân lực. Có cơ chế tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong việc liên kết với các cơ sở đào tạo để đặt hàng nguồn nhân lực. Tạo điều kiện cho các cơ sở kinh tế thành lập cơ sở đào tạo, hằng năm tổ chức tốt hội chợ việc làm để giải quyết việc làm, đồng thời, nắm bắt kịp thời nhu cầu sử dụng lao động trên thị trường.   KẾT LUẬN Với vị thế như hiện tại, Việt Nam dù không phải là nước phát triển hay dẫn đầu về bất kỳ xu thế nào. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang cố gắng hết mình trên trường hội nhập quốc tế, biểu hiện rõ nét nhất chính là nỗ lực hoàn thành nhanh nhất quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Và hiển nhiên, trong quá trình lâu dài đó không thể phủ nhận tầm quan trọng của nhân tố con người. Qua nghiên cứu trên đây, nhóm cũng muốn chứng minh tầm quan trọng của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dù ở thời đại nào, dù đối chiếu với phương diện hay tư tưởng, quan điểm nào, thì nhân tố con người vẫn đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Và để góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta, mỗi công dân Việt Nam, cũng chính là nhân tố con người, cần tích cực trau dồi, học hỏi cũng như chủ động tiếp cận với những thay đổi mới mẻ từ quá trình hội nhập mang đến. Đồng thời cũng không quên giữ vững thái độ trân trọng bản sắc dân tộc, quyết tâm phát triển bản thân để phát triển đất nước nhưng không được đánh mất bản sắc của chính mình.   TÀI LIỆU THAM KHẢO Văn bản: 1. C.Mác Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tập II, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, tr. 42. 3. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4. Hội đồng Lý luận Trung ương, Những điểm mới trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nxb Lý luận chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội 2021, tr 83, 84; 27. 5. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam. Tạp chí Tổ chức nhà nước, tháng 112016. 6. Nguyễn Văn Khánh, Nguồn lực trí tuệ Việt Nam, lịch sử, hiện trạng và triển vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2012. Internet: 1. Dân số Việt Nam, đường dẫn: https:danso.org, ngày truy cập 0732022. 2. Việt Nam nỗ lực cải thiện năng suất lao động, đường dẫn: https:dangcongsan.vn, ngày truy cập 2842021. 3. Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đường dẫn: https:tapchicongsan.org.vn, ngày truy cập 21022020.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM



TIỂU LUẬN VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

GVHD: … SVTH: Lê Đức Tính 12345678

Nguyễn Văn A 12345678 Nguyễn Thị B 12345678 LỚP: 19PLDC09

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN

HỌC KỲ II NĂM HỌC 2019 – 2020

NHÓM 1 Tên đề tài: Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

1 2 3 4 5

- Nhóm trưởng:

Nhận xét của giảng viên:

Trang 3

MỤC LỤC

-oOo -Phần 1: Giới thiệu chung LỜI NÓI ĐẦU CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT 1

1 Khái niệm vi phạm pháp luật 1

2 Dấu hiệu và cấu thành vi phạm pháp luật 4

2.1 Dấu hiệu vi phạm pháp luật 4

2.2 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật 5

3 Phân loại vi phạm pháp luật 10

3.1 Vi phạm hình sự (tội phạm) 10

3.2 Vi phạm hành chính 10

3.3 Vi phạm dân sự 10

3.4 Vi phạm kỷ luật 10

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA 12

1 Hành vi vi phạm hình sự 12

1.1 Tình huống 12

1.2 Cấu thành vi phạm pháp luật 13

2 Hành vi vi phạm hành chính 16

2.1 Tình huống 16

2.2 Cấu thành vi phạm pháp luật: 16

3 Hành vi vi phạm dân sự 18

3.1 Tình huống 18

3.2 Cấu thành vi phạm pháp luật 18

4 Hành vi vi phạm kỷ luật 20

Trang 4

4.2 Cấu thành vi phạm pháp luật 20 KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 5

PHẦN 1 GIỚI THIỆU CHUNG

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học kỹ thuật đã thực sự trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp với sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và côngnghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám càng ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong mỗi sảnphẩm làm ra, chúng ta, những con người càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình trongtiến trình phát triển của xã hội, của lịch sử nhân loại Nhân tố con người đã trở thànhyếu tố tiên quyết cho sự phát triển của xã hội

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải hiểu sâusắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định này của nhân tố con người

Thêm nữa, nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và vận khí mới, đặc biệt làtrong thời đại ngày nay khi toàn cầu hóa trở nên tất yếu và cần thiết Điều đó cũng cónghĩa là chúng ta đang có thêm nhiều cơ hội và thách thức mới Muốn phát triển và đilên không còn con đường nào khác ngoài thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu

Đảng ta khẳng định: “Đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nângcao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đưa nước

ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên nên nhóm quyết định lựa

chọn đề tài “Vai trò của yếu tố con người và các giải pháp nhằm phát huy vai trò con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Hi vọng sẽ tiếp cận và

làm rõ được các vấn đề của đề tài, tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn không thểtránh khỏi thiếu sót

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đối tượng được đề cập và nghiên cứu trong đề tài này chính là vai trò của yếu tốcon người và các giải pháp nhằm phát huy vai trò con người trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa

Sử dụng kiến thức được giảng dạy, cùng việc tham khảo giáo trình, sách, tài liệugiấy và các tư liệu Internet, tổng hợp và chắc lọc các thông tin liên quan để làm rõ vấn

đề Phân chia nghiên cứu và tổng hợp thông tin, sử dụng kiến thức được học để phân

Trang 6

Sử dụng các kiến thức thực tiễn để tiến hành nghiên cứu, so sánh và rút ra kếtluận về vấn đề nêu trên.

3 Mục đích của đề tài

Sử dụng các dữ liệu và thông tin từ các phương tiện truyền thông cũng như thôngtin thực tế để khái quát hiện trạng thực tế của vấn đề con người trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Sơ bộ các vấn đề chung về con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiệnnay

Đi sâu phân tích, tìm hiểu chung về quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ

đó xác định vai trò của nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa

Cụ thể quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, nêu lên thực trạngnguồn lực con người Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nêu lên phương hướng và giải pháp khắc phục các mặt hạn chế trong vấn đềnhân lực Và cuối cùng là chốt lại vấn đề

Trang 7

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN VỀ CON

NGƯỜI

1 Con người là gì

Theo quan điểm của Mác-Lê-nin

Trong quan niệm của triết học Mác-xít, con người là một thực thể trong sự thốngnhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Con người sinh ra từ tự nhiên, tuântheo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồntại và phát triển của xã hội

Luận điểm nổi tiếng về con người được C.Mác viết trong Luận cương về bắc (1845): “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cánhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà nhữngquan hệ xã hội”

Phoi-ơ-Với quan niệm đó, C.Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừutượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử Con người là một thực thểthống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chấtđích thực của con người

Ở đây, cá nhân được hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạocác quan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú củanhững mối liên hệ xã hội của nó Hơn thế, mỗi cá nhân là sự tổng hợp không chỉ củacác quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó

Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổichính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người Vạch ra vai trò củamối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bản chất của con người, quan hệ giữa cá nhân

và xã hội là một cống hiến quan trọng của triết học Mác-xít

So sánh với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Con người trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thốngnhất giữa thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động Đó là một hệ thống cấu trúc baogồm sức khoẻ, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức, đời sống tinh thần

Người cho con người là tài sản quý nhất, chăm lo, bồi dưỡng và phát triển conngười, coi con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, nhân tố quyết địnhthành công của cách mạng

Trang 8

Nhận thức đúng đắn và khơi dậy nguồn lực con người chính là sự phát triển sángtạo chủ nghĩa Mác - Lênin, xem con người với tư cách là nguồn sáng tạo có ý thức,chủ thể của lịch sử.

Việc đề cao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lượcphát triển là tư tưởng nhất quán của Đảng ta, trong điều kiện nền kinh tế thị trườngđang thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ

sở vật chất và văn hóa tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú Lợi ích cá nhân ngàycàng được chú ý, tạo cơ hội mới để phát triển cá nhân

Có thể khẳng định, Luận điểm của C.Mác về bản chất con người đến nay vẫn cònnguyên giá trị lý luận và thực tiễn, đó là những bài học hết sức quý báu trong việc pháthuy nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, góp phần sớmhiện thực hóa mục tiêu “đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa”

2 Bản chất của con người

Khi phê phán quan điểm của Phơ Bách, Mác đã khái quát bản chất con người,điều đó được Mác khẳng định: “Phơ Bách hoà tan bản chất tôn giáo và bản chất conngười Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhânriêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hợp những quan hệ

xã hội.”

Bản chất con người được thể hiện trên những nội dung sau:

2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội

Kế thừa quan niệm đúng đắn về con người trong lịch sử triết học, Mác với quanđiểm duy vật triệt để và phương pháp biện chứng đã phân biệt rõ hai mặt sinh vật và

xã hội thống nhất trong con người hiện thực

Khi tiếp cận bản chất con người ở góc độ này cần theo hướng:

Thứ nhất, con người là một thực thể tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên, nhưng là

sản phẩm cao nhất của tự nhiên Vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của tự nhiên

Như vậy, tiền đề vật chất đầu tiên qui định sự tồn tại của con người là giới tựnhiên Con người là động vật cao cấp, là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quátrình tiến hoá lâu dài của giới sinh vật, như thuyết tiến hoá của Đác uyn đã chứng

2

Trang 9

minh Vì vậy, con người là bộ phận của giới tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơcủa con người Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ xuất hiện một sốgiả thuyết cố chứng minh học thuyết của Đác uyn là không có cơ sở như: con ngườihiện tại là sự lai tạp giữa người ngoài hành tinh với con người ở trên trái đất, y học đãtạo ra được con người trong ống nghiệm và thực tế đã thành công như trước kia chúatạo ra con người bằng cách đó… Trên thực tế, con người hiện đại có cấu trúc cơ thểkhông khác gì con người cách đây 50 vạn năm Nhưng về mặt xã hội thì con ngườihiện đại có bước tiến xa hơn về năng lực, sự sáng tạo, lối sống.

Thứ hai, là một thực thể tự nhiên, con người cũng có như động vật khác như nhu

cầu về sinh lý và cũng có các hoạt động bản năng: đói phải ăn, khát phải uống, sinhhoạt tình dục… Nhưng giải quyết những nhu cầu đó ở con người có bước tiến xa hơn

so với động vật, kể cả so với khi con người mới thoát thai khỏi động vật Chính quátrình sinh thành, phát triển và mất đi của con người qui định bản tính sinh học trongđời sống con người Như vậy, con người là một sinh vật có đầy đủ bản tính sinh vật

Thứ ba, mặt tự nhiên và mặt xã hội thống nhất trong con người, mặt tự nhiên là

“nền” cho con người, mặt xã hội nâng mặt tự nhiên của con người lên trên động vật.Con người khác động vật ở chỗ có tư duy và hoạt động có mục đích Mác khôngthừa nhận quan điểm cho rằng: cái duy nhất tạo nên bản chất con người là đặc tínhsinh vật Con người là một sinh vật nhưng có nhiều điểm khác với sinh vật Vậy conngười khác con vật ở chỗ nào? Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng lớn đưa ra tiêuchí về sự khác nhau giữa con người và con vật có sức thuyết phục như:

Phranklin cho rằng con người khác con vật ở chỗ biết sử dụng công cụ lao động,Arixtốt đã gọi con người “là động vật có tính xã hội” Pascal nhấn mạnh đặc điểm vàsức mạnh của con người là ở chỗ biết suy nghĩ: con người là “một cây sậy nhưng làcây sâỵ biết suy nghĩ” Các nhận định trên đều đúng khi nêu lên một khía cạnh về bảnchất con người, nhưng đều phiến diện, không nói lên được nguồn gốc của những đặcđiểm ấy và mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau

Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhìn vấn đề bản chất conngười một cách toàn diện, cụ thể, xem xét không phải một cách chung chung trừutượng, phiến diện như các nhà tư tưởng khác

Trang 10

Theo Mác mặt xã hội của con người, có điểm nổi bật, hơn hẳn và phân biệt vớiđộng vật là con người có hoạt động lao động sản xuất vật chất Qua quá trình lao độngsản xuất: con người sản xuất ra của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống cho mình vàcho đồng loại Sản xuất ra các giá trị tinh thần làm phong phú thêm đời sống của mình.Lao động là yếu tố hình thành bản chất xã hội của con người, hình thành nhân cách ởcon người.

Thứ tư, là sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội nên ở con người luôn chịu sự chi

phối của ba hệ thống qui luật:

Hệ thống qui luật tự nhiên: qui định sự phù hợp của cơ thể sống với môi trường,qui luật trao đổi chất, qui luật biến dị, di truyền

Hệ thống qui luật tâm lý ý thức: như sự hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin,

ý chí…

Hệ thống qui luật xã hội: qui định mối quan hệ giữa người với người, đó là quiluật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, qui luậtvới cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng…

Tóm lại, con người khác con vật ở cả ba mặt: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với

xã hội và quan hệ với bản than Cả ba mối quan hệ đều mang tính xã hội, trong đóquan hệ xã hội là quan hệ bản chất nhất, bao quát mọi hoạt động của con người, cảtrong lao động sinh con đẻ cái và trong tư duy

2.2 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan

hệ xã hội

Luận điểm trên chỉ rõ: không có con người trừu tượng thoát ly khỏi điều kiện cụthể, con người luôn tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định Nghĩa là con người cùngvới xã hội mình khai thác thiên nhiên, sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức

Luận điểm đó được biểu hiện trên các góc độ sau:

Bản chất con người được qui định bởi tất cả các mối quan hệ xã hội, tức là bị quiđịnh bởi mối quan hệ giữa người với người Đó là các quan hệ giữa người với người ởmột hình thái kinh tế xã hội đã bỏ qua, ở hình thái kinh tế - xã hội đương đại, ở một ýnghĩa nào đó là quan hệ giữa người với người theo định tính, theo mục tiêu lý tưởng

Đó là các mối quan hệ về vật chất, quan hệ về tinh thần giữa người với người Quan hệgiữa người với người trong xã hội đương đại qui định bản chất của con người thì suy

4

Trang 11

đến cùng quan hệ vật chất, quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định nhất.Bởi vì đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần, động cơ chi phối hoạt động củacon người là lợi ích, trong đó lợi ích kinh tế là quyết định nhất.

Bản chất con người phải đặt trong quan hệ đồng loại (cộng đồng) với cá nhântrong đó mặt cộng đồng có xu hướng xích lại gần hơn Con người hoà nhập vào cộngđồng, mang bản chất của nó vào và thể hiện bản sắc của nó Hoà nhập vào cộng đồngkhông có nghĩa là đánh mất bản sắc cá nhân mà ngược lại củng cố thêm bản sắc cánhân Khi đề cập tới yếu tố cộng đồng thì cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp lànhững cộng đồng cơ bản nhất chi phối con người Nhấn mạnh vấn đề trên không cónghĩa là bỏ qua cộng đồng nhân loại, cộng đồng người

Bản chất con người vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thời đại Con ngườiluôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất, điều kiện sinh hoạt tinh thần của thờiđại Thời đại nào có con người ấy Tuy nhiên không được quá nhấn mạnh, đi đến chỗtuyệt đối hoá thực tế của con người trong những điều kiện nhất định sẽ dẫn tới sai lầm

vì không thể giải thích nổi những hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội

Luận đề khẳng định bản chất con người của Mác không có nghĩa là phủ nhận mặt

tự nhiên của con người Trái lại luận đề trên muốn nhấn mạnh sự khác biệt giữa conngười và loài vật trước hết là ở bản chất xã hội của con người Mặt khác cũng chỉ rõ sựbiểu hiện phong phú ở mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu, lợi ích trong cộng đồng xãhội

2.3 Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh.Song điều quan trọng hơn cả là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội CácMác đã từng viết “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩmcủa hoàn cảnh và của giáo dục…cái học thuyết ấy quên rằng chính những con ngườilàm thay đổi hoàn cảnh và bản thân các nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục.”Điều đó cũng được Ăng ghen khẳng định trong tác phẩm “Biện chứng của tựnhiên”: thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiệnnay của chúng Nhưng lịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực màchúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết

Trang 12

và không phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểutheo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người càng tự mình làm ra lịch sử củamình một cách có ý thức bấy nhiêu.”

Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, qua hoạt động thực tiễn, con người tácđộng vào tự nhiên, cải biến tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xãhội Thế giới động vật dựa vào những điều kiện sẵn có của tự nhiên, với xã hội loàingười thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn họ sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai củamình

Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Conngười là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bảnthân con người Trên cơ sở nắm bắt qui luật của lịch sử xã hội, con người thông quahoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp vớimục tiêu và nhu cầu thực tiễn do con người đặt ra

Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn pháttriển nhất định của lịch sử Do vậy, bản chất con người trong mối quan hệ đối với điềukiện lịch sử xã hội, luôn vận động biến đổi cũng phải thay đổi cho phù hợp Bản chấtcon người không phải là một hệ thống đóng kín, mà trái lại, là một hệ thống mở, tươngứng với điều kiện tồn tại của con người Có thể nói rằng sự vận động và tiến lên củalịch sử sẽ qui định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổicủa bản chất con người

Do đó, để phát triển bản chất người theo hướng tích cực, cần phải làm cho hoàncảnh mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là môi trường tự nhiên và xã hộitác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tínhmục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó con người tiếp nhậnhoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diệnkhác nhau

Đó là mối quan hệ biện chứng giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giaiđoạn nào của lịch sử xã hội loài người

3 Sự phát triển của xã hội loài người

Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: chiếm hữu

nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Phù hợp với bốn hình thái

6

Trang 13

kinh tế xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhànước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Thời kỳ tiền sử:

Ở thời kỳ tiền sử, hình thái kinh tế xã hội của nhân loại là cộng sản nguyên thủy.Thời kỳ này là thời kỳ dài nhất trong lịch sử xã hội loài người, kéo dài hàng triệu năm.Tất cả các dân tộc trên trái đất đều phải trải qua giai đoạn này Đây là thời kỳ đặt nềntảng cho đặc trưng và truyền thống của từng dân tộc Là thời “thơ ấu” của từng dântộc, tộc người

Thời kỳ cổ đại:

Xã hội chiếm hữu nô lệ ở thời kì cổ đại xuất hiện ở phương Đông sớm nhất Từkhoảng 3000 năm TCN, tại các nước Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ và nhiều quốc giakhác Tại các nước châu Âu xã hội này xuất hiện muộn hơn

Thời kỳ trung đại:

Chế độ phong kiến (476-1640) là một chế độ được hình thành nên bởi sự phânphong ruộng đất Xuất hiện trong thời kì trung đại, quá trình phong kiến hóa diễn ra vàđược xác lập sớm nhất ở Trung Quốc Khi nhà Tần thống trị Trung Quốc, chế độphong kiến Trung Quốc bắt đầu Tần Thủy Hoàng chính là vị “vua phong kiến” đầutiên trong lịch sử

Trước và sau đầu công nguyên các nước châu Á đều lần lượt bước sang xã hộiphong kiến Ở Tây Âu, xã hội loài người với hình thái phong kiến được xác lập vàonăm 476 – sau khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ

Thời kỳ cận đại:

Khi chế độ phong kiến trên thế giới suy tàn vào thế kỷ thứ XV-XVI Xã hội tưbản chủ nghĩa (1640-1917) được thiết lập Cuộc cách mạng tư sản Hà Lan thắng lợinăm 1609 đã lật đổ ách thống trị của Tây Ban Nha Hà Lan sau đó đã thành lập nhànước tư sản đầu tiên trên thế giới Điều này đã báo hiệu một thời đại mới – thời đại củacách mạng tư sản Vào năm 1640, cách mạng tư sản Anh thắng lợi đã mở đầu lịch sửcho thời kỳ cận đại trên toàn thế giới

Thời kỳ hiện đại:

Từ năm 1917 đến nay, xã hội loài người lúc này hầu như tồn tại dưới chế độ xãhội chủ nghĩa

Ngày đăng: 29/12/2022, 15:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w