1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ ở đảng bộ tỉnh thanh hoá trong giai đoạn hiện nay

126 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ ở đảng bộ tỉnh thanh hoá trong giai đoạn hiện nay
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 590 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát (CTKT,GS) có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng nội bộ và trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Vị trí, vai trò đó, đã được các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay khẳng định. CTKT, GS là hoạt động của các cấp ủy đảng, các ban của cấp ủy, các tổ chức đảng và đảng viên, hướng vào việc xây dựng, thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng; giải quyết những vấn đề nội bộ, tăng cường đoàn kết thống nhất, nâng cao uy tín chính trị của Đảng trước nhân dân. Làm tốt CTKT, GS góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo ( NLLĐ) và sức chiến đấu (SCĐ) của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn coi trọng CTKT,GS. Nhờ đó, Đảng được xây dựng ngày càng vững mạnh, có NLLĐ và SCĐ cao, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đang phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu, đặt ra cho Đảng ta và đội ngũ đảng viên những đòi hỏi và yêu cầu mới. Kinh tế thị trường (KTTT) ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và mở rộng, xuất hiện những thời cơ và thuận lợi, nhưng cũng có không ít khó khăn và thách thức, đặt ra cho CTKT,GS của Đảng, những yêu cầu mới với những nội dung, hình thức và phương pháp mới. Những mặt trái của KTTT, của quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động trực tiếp vào Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong những năm đổi mới vừa qua, phần đông cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; có nhận thức đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Nhiều cán bộ, đảng viên đã có bước trưởng thành, tự giác phấn đấu vươn lên, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu gắn bó với nhân dân. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội,... vẫn còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Điều đó, đặt ra cho Đảng, các cấp ủy, ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp phải nâng cao chất lượng CTKT,GS góp phần quan trọng ngăn chặn và đẩy lùi các tiêu cực đó, xây dựng Đảng vững mạnh, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị. Trong những năm qua, CTKT, GS của Đảng đã có chuyển biến rõ rệt, đạt được những thành tích quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, công tác kiểm tra (CTKT) vẫn còn yếu, chất lượng và hiệu quả kiểm tra chưa cao; nhiều khuyết điểm, vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện và khắc phục; chưa coi trọng kiểm tra phòng ngừa, phát huy nhân tố tích cực. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt CTKT. Công tác giám sát (CTGS) của Đảng và giám sát của nhân dân đối với các hoạt động của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng. Những yếu kém trong CTKT,GS là một trong những nguyên nhân quan trọng của việc không ngăn chặn và đẩy lùi được tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Trong thời gian qua, UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát do Điều lệ Đảng quy định, nhiệm vụ cấp ủy giao và tham mưu cho cấp uỷ thực hiện nhiệm vụ CTKT,GS; góp phần quan trọng thúc đẩy thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao NLLĐ và SCĐ của các tổ chức đảng. Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của UBKT huyện, thị, thành ủy vẫn còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm: chất lượng CTKT,GS, nhất là CTGS chưa cao, nhiều sai lầm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên chậm được phát hiện và khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Để xây dựng Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, mà trước hết là các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố vững mạnh, có NLLĐ và SCĐ cao; lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của từng đảng bộ và của Đảng bộ tỉnh, một vấn đề rất quan trọng đặt ra phải giải quyết là nâng cao chất lượng CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy trong tỉnh. Nghiên cứu tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng CTKT,GS của UBKT các huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá thực sự là vấn đề rất cần thiết và cấp bách. Là một cán bộ lãnh đạo của UBKT Tỉnh uỷ Thanh Hoá, có thời gian nhất định trực tiếp tham gia các hoạt động kiểm tra, lại được học tập, nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về khoa học xây dựng Đảng, trong đó có CTKT,GS của Đảng, tôi luôn trăn trở và xác định trách nhiệm của mình trong công việc này. Vì thế, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ: “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay”

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, là một bộphận quan trọng của công tác xây dựng Đảng Công tác kiểm tra, giám sát(CTKT,GS) có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng nội bộ vàtrong hoạt động lãnh đạo của Đảng Vị trí, vai trò đó, đã được các nhà kinhđiển của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và thực tiễncách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay khẳng định

CTKT, GS là hoạt động của các cấp ủy đảng, các ban của cấp ủy, các tổchức đảng và đảng viên, hướng vào việc xây dựng, thực hiện nghị quyết, chỉthị, quy định, quyết định của Đảng; giải quyết những vấn đề nội bộ, tăngcường đoàn kết thống nhất, nâng cao uy tín chính trị của Đảng trước nhândân Làm tốt CTKT, GS góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo ( NLLĐ) vàsức chiến đấu (SCĐ) của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thựchiện thắng lợi đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chínhsách, pháp luật của Nhà nước

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất làkhi trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta luôn coi trọng CTKT,GS Nhờ đó,Đảng được xây dựng ngày càng vững mạnh, có NLLĐ và SCĐ cao, đưa cáchmạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnhđạo, đang phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu, đặt ra cho Đảng ta và độingũ đảng viên những đòi hỏi và yêu cầu mới Kinh tế thị trường (KTTT) ngàycàng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và mở rộng, xuất hiệnnhững thời cơ và thuận lợi, nhưng cũng có không ít khó khăn và thách thức,đặt ra cho CTKT,GS của Đảng, những yêu cầu mới với những nội dung, hìnhthức và phương pháp mới Những mặt trái của KTTT, của quá trình mở cửa

và hội nhập kinh tế quốc tế tác động trực tiếp vào Đảng và đội ngũ cán bộ,

Trang 2

đảng viên Trong những năm đổi mới vừa qua, phần đông cán bộ, đảng viênkiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, ra sức phấn đấu thực hiện Cươnglĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách,pháp luật của Nhà nước; có nhận thức đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội(CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta Nhiều cán bộ, đảng viên đã

có bước trưởng thành, tự giác phấn đấu vươn lên, phát huy vai trò tiền phonggương mẫu gắn bó với nhân dân Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởngchính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí, tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, vẫn còn tồn tạitrong một bộ phận cán bộ, đảng viên Điều đó, đặt ra cho Đảng, các cấp ủy,

ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp phải nâng cao chất lượng CTKT,GS gópphần quan trọng ngăn chặn và đẩy lùi các tiêu cực đó, xây dựng Đảng vữngmạnh, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị

Trong những năm qua, CTKT, GS của Đảng đã có chuyển biến rõ rệt,đạt được những thành tích quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng Tuy nhiên, công táckiểm tra (CTKT) vẫn còn yếu, chất lượng và hiệu quả kiểm tra chưa cao;nhiều khuyết điểm, vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được pháthiện và khắc phục; chưa coi trọng kiểm tra phòng ngừa, phát huy nhân tố tíchcực Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt CTKT Công tác giám sát(CTGS) của Đảng và giám sát của nhân dân đối với các hoạt động của Đảng,Nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm, chưa đáp ứng yêu cầu xâydựng Đảng Những yếu kém trong CTKT,GS là một trong những nguyênnhân quan trọng của việc không ngăn chặn và đẩy lùi được tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí và sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộphận không nhỏ cán bộ, đảng viên

Trong thời gian qua, UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh ThanhHoá đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát doĐiều lệ Đảng quy định, nhiệm vụ cấp ủy giao và tham mưu cho cấp uỷ thực

Trang 3

hiện nhiệm vụ CTKT,GS; góp phần quan trọng thúc đẩy thực hiện thắng lợicác nhiệm vụ chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao NLLĐ

và SCĐ của các tổ chức đảng Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,giám sát của UBKT huyện, thị, thành ủy vẫn còn nhiều thiếu sót, khuyếtđiểm: chất lượng CTKT,GS, nhất là CTGS chưa cao, nhiều sai lầm, khuyếtđiểm của tổ chức đảng và đảng viên chậm được phát hiện và khắc phục; tệquan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; kết quả thựchiện nhiệm vụ chính trị ở nhiều tổ chức đảng còn hạn chế

Để xây dựng Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, mà trước hết là các đảng bộhuyện, thị xã, thành phố vững mạnh, có NLLĐ và SCĐ cao; lãnh đạo thựchiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của từng đảng bộ và của Đảng bộ tỉnh, mộtvấn đề rất quan trọng đặt ra phải giải quyết là nâng cao chất lượng CTKT,GScủa UBKT huyện, thị, thành ủy trong tỉnh Nghiên cứu tìm ra giải pháp nângcao chất lượng CTKT,GS của UBKT các huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnhThanh Hoá thực sự là vấn đề rất cần thiết và cấp bách

Là một cán bộ lãnh đạo của UBKT Tỉnh uỷ Thanh Hoá, có thời giannhất định trực tiếp tham gia các hoạt động kiểm tra, lại được học tập, nghiêncứu một cách cơ bản, hệ thống về khoa học xây dựng Đảng, trong đó cóCTKT,GS của Đảng, tôi luôn trăn trở và xác định trách nhiệm của mình trong

công việc này Vì thế, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ: “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ

ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vềCTKT,GS của Đảng đã được nghiệm thu, kết quả nghiên cứu của nhiều côngtrình đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng:

* Các đề tài khoa học:

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 2000 – 2005: “Đổi mới công tác kỷ luật trong Đảng nhằm nâng cao SCĐ của Đảng trong giai đoạn cách

Trang 4

mạng mới”, mã số KX.03.07, do GS, TS Nguyễn Thị Doan, làm Chủ nhiệm,

đã nghiệm thu năm 2005 và in thành sách

- Đề tài khoa học cấp bộ "CTGS trong Đảng giai đoạn hiện nay" của

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007 do Tiến sỹĐặng Đình Phú làm Chủ nhiệm, đã nghiệm thu và in thành sách

- Đề tài khoa học cấp tỉnh:

+ “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của UBKT đảng uỷ cơ sở ở tỉnh Thanh Hoá”, năm 2003 do UBKT Tỉnh uỷ

Thanh Hoá thực hiện, đã nghiệm thu

+ “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng CTKT đảng viên khi

có dấu hiệu vi phạm ở tỉnh Thanh Hoá”, năm 2006 do UBKT Tỉnh uỷ Thanh

Hoá thực hiện, đã nghiệm thu

* Luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ:

- “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay”, năm 1996, Luận án PTS của Trương Thị

Thông, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- “CTKT của Thành uỷ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, năm 2004, Luận

án Tiến sĩ của Lê Tiến Hào, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- “Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT huyện uỷ ở các tỉnh Duyên hải Miền Trung hiện nay”, năm 2004, Luận án

Tiến sĩ của Nguyễn Thế Tư, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- “Chất lượng CTKT của các đảng uỷ xã, thị trấn ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai hiện nay - Thực trạng và giải pháp”, năm 2005, Luận văn Thạc

sĩ của Hoàng Thị Lài, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- “Chất lượng CTKT của UBKT các quận, huyện uỷ ở Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, năm 2004, Luận văn Thạc sĩ của Phạm Huy

Giáp, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- “CTGS của UBKT Tỉnh uỷ Bình Định trong giai đoạn hiện nay”, năm

2007, Luận văn Thạc sĩ của Lê Minh Sơn, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh

Trang 5

- "Chất lượng CTKT, GS của UBKT các huyện, thị ủy ở tỉnh Kon Tum giai đoạn hiện nay" của Lê Thị Ngân, năm 2007, bảo vệ tại Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh

- "Chất lượng CTKT, GS của UBKT các huyện, thị ủy ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay" của Nguyễn Khắc Bát, năm 2007, bảo vệ tại Học

viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

* Một số bài viết đăng trên các tạp chí:

- GS, TS Nguyễn Thị Doan: Nâng cao vai trò, vị trí của CTKT và vị thế của UBKT các cấp (Tạp chí kiểm tra số 8, năm 2003).

- Tiến sĩ Trần Nam - Lê Quang Giản: CTKT góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; Tạp chí Kiểm tra số 10, năm 2005

- Nguyễn Văn Chi: CTKT của Đảng qua 20 năm đổi mới; Tạp chí Cộng

sản số 23, tháng 12 năm 2005

Từ nhiều góc độ và cách tiếp cận, với mục đích khác nhau, các tác giả đãphân tích, nêu lên những căn cứ lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; đềxuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả CTKT, GS Song đến nay,chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về chất lượng CTKT, GS củaUBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ hơn một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn vềchất lượng CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh ThanhHoá; khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác này; luận văn đề xuất phươnghướng và những giải pháp chủ yếu, khả thi nâng cao chất lượng CTKT,GScủa UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đến năm 2015

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ thêm các khái niệm, cơ sở lý luận của CTKT, GS và chất

lượng CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoátrong giai đoạn hiện nay

Trang 6

- Khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng CTKT,GS của UBKT

huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá giai đoạn từ năm 2001 đến năm2007; chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng CTKT, GS

của UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đến năm 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng CTKT, GS của

UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá

- Phạm vi nghiên cứu, khảo sát thực tế chủ yếu ở 27 UBKT huyện, thị,

thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, ngoài ra còn nghiên cứu ở UBKT Tỉnh

ủy Thanh Hoá

- Thời điểm khảo sát, nghiên cứu thực tế: từ năm 2001 đến năm 2007.

- Phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận văn có giá trị từ năm

2008 đến năm 2015

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về CTKT, GS của Đảng

- Cơ sở thực tiễn là thực trạng CTKT,GS của UBKT huyện, thị,thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2007

- Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là tổng kết thựctiễn, khảo sát và thống kê; đồng thời luận văn sử dụng các phương pháp lôgíc-lịch sử, phân tích - tổng hợp; trao đổi ý kiến với cán bộ lãnh đạo, quản lý củacác cấp ủy

6 Những đóng góp của luận văn

- Quan niệm về chất lượng CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ởĐảng bộ tỉnh Thanh Hoá và tiêu chí đánh giá

- Những kinh nghiệm về hoạt động nâng cao chất lượng CTKT,GS củaUBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá giai đoạn từ năm 2001đến năm 2007

Trang 7

- Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng CTKT,GS củaUBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đến năm 2015.

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu thamkhảo cho UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá trong quátrình nâng cao chất lượng CTKT, GS trong giai đoạn hiện nay, cũng như cáchuyện, thị, thành uỷ, Tỉnh uỷ Thanh Hoá trong việc lãnh đạo, chỉ đạoCTKT,GS Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được dùng làm tàiliệu tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy và học tập ở Trường Chính trịtỉnh, các trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị cấp huyện, thị xã, thành phố ởtỉnh Thanh Hoá, cũng như việc bồi dưỡng cán bộ kiểm tra của UBKT Tỉnh ủyThanh Hoá

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 8

Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

CỦA UỶ BAN KIỂM TRA HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 UỶ QUAN KIỂM TRA CÁC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA UỶ BAN KIỂM TRA CÁC HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ

1.1.1 Ủy ban kiểm tra các huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá

1.1.1.1 Khái quát về ủy ban kiểm tra các huyện, thị, thành uỷ

Thanh Hoá là tỉnh thuộc Bắc Trung bộ, có diện tích tự nhiên là 11.120

km2; dân số hơn 3,7 triệu người; gồm có các dân tộc: Kinh, Mường, Thái,Thổ, Hmông, Dao, Khơ mú, trong đó dân tộc Kinh chiếm 83,9%, dân tộcMường, Thái có số dân đông hơn các dân tộc thiểu số khác

Phía Bắc tỉnh Thanh Hoá tiếp giáp với tỉnh Ninh Bình; phía Đông giápvới biển Đông (Vịnh Bắc bộ) có chiều dài bờ biển 102 km; phía Tây giáp vớitỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào có đường biên giới dài

192 km; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An

Thanh Hóa được chia thành ba vùng sinh thái: Vùng Trung du, Miềnnúi gồm 11 huyện: Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, LangChánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thủy, ThạchThành; vùng đồng bằng, gồm 10 huyện, thị xã, thành phố: Vĩnh Lộc, ĐôngSơn, Yên Định, Thiệu Hóa, Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, Thọ Xuân, thị

xã Bỉm Sơn, Thành phố Thanh Hóa; vùng ven biển gồm 6 huyện, thị xã: NgaSơn, Hậu Lộc, thị xã Sầm Sơn, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Quảng Xương

Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá có 35 đảng bộ trực thuộc, trong đó: 24 đảng bộhuyện, 02 đảng bộ thị xã, 01 đảng bộ thành phố và 8 đảng bộ cơ quan, đơn vị,doanh nghiệp Toàn tỉnh có 176.679 đảng viên; sinh hoạt ở 1.671 tổ chức cơ sởđảng, trong đó: có 958 đảng bộ cơ sở và 713 chi bộ cơ sở; có 10.083 chi bộ

Trang 9

Như vậy, Thanh Hóa có 27 huyện, thị xã và thành phố; số đảng viên là166.574; sinh hoạt ở 1.523 tổ chức cơ sở đảng, trong đó: 872 đảng bộ cơ sở

và 651 chi bộ cơ sở; có 9.366 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở [Phụ lục số 2].

Thanh Hóa là một tỉnh có điều kiện và nhiều tiềm năng, thế mạnh đểphát triển kinh tế - xã hội, là tỉnh có vị trí rất quan trọng về kinh tế, chính trị,quốc phòng, an ninh đối với khu vực bắc Trung bộ và cả nước Qua hơn 20năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, mà trước hết là các cấp ủy đảngtrong tỉnh, sự nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, tích cực và sáng tạo của độingũ cán bộ, đảng viên và hơn 3,7 triệu người dân trong tỉnh, Thanh Hóa đãvươn lên mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn Tốc độ tăng trưởng kinh

tế hàng năm khá cao (10,8%); thu nhập (GDP) bình quân đầu người hàng nămtrên 450USD; các tiềm năng và thế mạnh đã được khai thác, phát huy phục vụcho phát triển kinh tế - xã hội Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trongtỉnh được cải thiện và nâng lên đáng kể Chính trị ổn định, trật tự - an ninhđược giữ vững; các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), các tổ chức xãhội được củng cố, hoạt động ngày càng có hiệu quả; công tác xây dựng Đảngđược coi trọng và đã đạt được những kết quả quan trọng

Tuy nhiên, Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nghèo; thu nhập (GDP) bình quânđầu người của tỉnh mới bằng hơn một nửa thu nhập (GDP) bình quân của cảnước; khoa học và công nghệ còn ở trình độ thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém,nhiều nơi xuống cấp Trên địa bàn tỉnh còn nhiều vấn đề bức xúc cần giảiquyết, nhất là những vấn đề xã hội, như: việc làm, thu nhập của dân, chấtlượng dạy và học, khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, Bên cạnh đó, làcác tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, ma túy, mại dâm, chưa được ngăn chặn mộtcách triệt để, còn diễn biến phức tạp Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên vàcông chức còn một bộ phận suy thoái về phẩm chất, đạo đức lối sống; tìnhtrạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí chưa được ngăn chặn, tình trạng viphạm kỷ luật đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước là một trong những vấn

đề bức xúc cần được quan tâm giải quyết Điều đó đặt ra cho Tỉnh ủy, cấp ủy

Trang 10

huyện, thị xã, thành phố Thanh Hóa, UBKT các cấp và các cơ quan chứcnăng của tỉnh, trong đó UBKT huyện, thị, thành ủy có nhiệm vụ rất nặng nề,phải tập trung giải quyết để đưa tỉnh Thanh Hóa tiến lên, giành thắng lợi tolớn trong những năm tới.

UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã được thành lậpcùng với các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Từ 12 UBKT huyện,thị ủy (năm 1964), đến nay Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đã có 27 UBKT huyện,thị, thành ủy, trong đó: 24 UBKT huyện ủy, 02 UBKT thị ủy, 01 UBKTThành ủy Thành phố Thanh Hóa

Từ Đại hội V đến Đại hội IX của Đảng quy định tổ chức bộ máy củaUBKT huyện, thị, thành uỷ không có sự thay đổi lớn Đến Đại hội X, Đảngquy định: UBKT huyện, thị, thành ủy có từ 05 đến 09 thành viên, trong đóchủ nhiệm là ủy viên ban thường vụ cấp uỷ, từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm,trong đó: phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên và một số uỷ viên chuyêntrách; 02 ủy viên kiêm chức gồm trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức làcấp ủy viên và chánh thanh tra cùng cấp

Thực hiện các quy định đó, hiện nay tổng số thành viên của 27 UBKThuyện, thị, thành ủy nhiệm kỳ (2005-2010) là 155 đồng chí, trong đó: nam 136đồng chí chiếm 87,74%; nữ 19 chiếm 12,26 %; có 27 chủ nhiệm, 36 phó chủnhiệm (phó chủ nhiệm là huyện, thị, thành ủy viên là 25), 40 ủy viên chuyêntrách, 52 ủy viên kiêm chức; Về tuổi đời: dưới 35 tuổi là 30 chiếm 19,35% sovới nhiệm kỳ (2001- 2005) tăng 24; từ 36 tuổi đến 45 tuổi 79 chiếm 51 %; từ

46 tuổi đến 55 tuổi là 44 chiếm 28,38%; trên 55 tuổi là 02 so với nhiệm kỳ(2001-2005) giảm 15; trình độ lý luận: cử nhân, cao cấp 79 chiếm 50,96%;trung cấp 69 chiếm 44,51 %; sơ cấp 7 chiếm 4,5%; trình độ học vấn: phổ thôngtrung học 155 đạt 100%; đại học, cao đẳng 106 chiếm 63,38% Ngoài ra còn có

32 cán bộ giúp việc cho các UBKT huyện, thị, thành ủy [Phụ lục số 3 và số 4].

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ kiểm tra của các huyện, thị, thành ủy ở Đảng

bộ tỉnh Thanh Hóa có lập trường và bản lĩnh chính trị vững vàng, dám đấu

Trang 11

tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, dám nhìn thẳng vào sự thật, cóchính kiến và thái độ rõ ràng trong đấu tranh với những hành vi sai trái Họ lànhững đảng viên có ý thức tổ chức kỷ luật cao, gương mẫu, có tinh thần xâydựng đoàn kết thống nhất nội bộ, giữ vững nguyên tắc Đảng, phát huy dânchủ, biết lắng nghe ý kiến, phân biệt đúng, sai trong giải quyết và xử lý côngviệc, đảm bảo tính khách quan, công tâm, trung thực, luôn phấn đấu hoànthành chức trách, nhiệm vụ được giao, có uy tín đối với cán bộ, đảng viên vànhân dân.

Tuy nhiên, phần lớn các thành viên UBKT và cán bộ kiểm tra chuyêntrách của huyện, thị, thành ủy do chưa được quy hoạch, đào tạo một cách cơbản; trình độ năng lực còn hạn chế; kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng nóichung và CTKT,GS nhất là CTGS nói riêng còn chưa nhiều; trong khi đó địabàn công tác rộng và còn nhiều khó khăn, nhất là các huyện miền núi Sốlượng cán bộ kiểm tra lại ít, đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng CTKT,

GS của UBKT huyện, thị, thành ủy trong thời gian qua

1.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành

ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa

UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa hoạt động dưới

sự lãnh đạo của huyện, thị, thành ủy, chấp hành nghiêm chỉnh các quy địnhcủa Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBKT huyện, thị,thành ủy Chức năng, nhiệm vụ của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộtỉnh Thanh Hóa phát triển theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụchính trị của Đảng bộ tỉnh và sự phát triển về nhiệm vụ CTKT của Đảng quacác thời kỳ cách mạng

Trước Đại hội VI, Đảng quy định cơ quan kiểm tra các cấp tiến hànhkiểm tra đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng, gọi tắt là kiểm tra đảng viên viphạm, đã đem lại tác dụng tốt Song bước vào thời kỳ đổi mới, quy định đó đã

tỏ ra bất cập trước quy mô rộng lớn, tính chất phức tạp của công cuộc đổi mới

do Đảng lãnh đạo và môi trường hoạt động phức tạp của đảng viên, hạn chế

Trang 12

nhất định đến chất lượng CTKT, nhất là việc chủ động và tác dụng ngăn chặn

vi phạm

Từ thực tế đó, tại Đại hội VI, Đảng đã quy định chuyển từ kiểm tra đảngviên vi phạm Điều lệ Đảng, sang kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng,gọi tắt là kiểm tra đảng viên chấp hành Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quy định đó thể hiện hiện rõnhững hạn chế, bất cập, vì phạm vi kiểm tra rộng, dễ bỏ qua những trọngđiểm phải kiểm tra Tại Đại hội VIII, Đảng đã quy định UBKT các cấp kiểmtra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) và tổ chức đảng cấp dưới khi códấu hiệu vi phạm Tức là đã chuyển từ kiểm tra đảng viên chấp hành sangkiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm Điều đó đã làmtăng tính tích cực phòng ngừa của công tác kiểm tra Đến Đại hội X, Đảng talại chính thức bổ sung chức năng, nhiệm vụ giám sát cho UBKT các cấp, cụthể là: Điều lệ Đảng khóa VIII đã quy định về nhiệm vụ của UBKT các cấp:

1 Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấuhiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trongviệc thực hiện nhiệm vụ đảng viên

2 Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạmtrong việc chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghịquyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm traviệc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng

3 Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyếtđịnh hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật

4 Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giảiquyết khiếu nại về kỷ luật đảng

5 Kiểm tra tài chính của cấp uỷ cấp dưới và của cơ quan tàichính cấp uỷ cùng cấp

UBKT có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viênbáo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dungkiểm tra [28, tr.47-49]

Trang 13

Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBKT các cấp do Điều lệĐảng khóa IX quy định không có gì thay đổi so với quy định Điều lệ Đảngkhóa VIII.

Đại hội X của Đảng đã quyết định phương hướng và mục tiêu tổng quátcủa công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ tới là:

Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chấtgiai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao NLLĐ và SCĐ củaĐảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị,

tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cáchmạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoahọc, luôn gắn bó với nhân dân [ 34, tr.279]

Đồng thời Đại hội cũng đặt ra nhiệm vụ đổi mới và tăng cường CTKT,

GS với nhận thức và yêu cầu mới: CTKT, GS phải góp phần phát hiện vàkhắc phục những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh việc tiếptục thực hiện kiểm tra tổ chức và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tăngcường chủ động kiểm tra, giám sát về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiệnnhiệm vụ của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, về nhận thức và chấp hànhđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việcchấp hành Điều lệ Đảng Nhiệm vụ của UBKT các cấp được Điều lệ Đảngkhoá X quy định:

1 Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấuhiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trongviệc thực hiện nhiệm vụ đảng viên

2 Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạmtrong việc chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghịquyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm traviệc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng

3 Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp uỷ cùng cấpquản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện đường lối, chủ

Trang 14

trương, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và đạo đức, lốisống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

4 Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyếtđịnh hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật

5 Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giảiquyết khiếu nại về kỷ luật đảng

6 Kiểm tra tài chính của cấp uỷ cấp dưới và của cơ quan tàichính cấp uỷ cùng cấp [35, tr.50-51]

Như vậy, ngoài chức năng kiểm tra, hiện nay UBKT các cấp còn có chứcnăng giám sát, chức năng này được duy trì từ nhiều năm trước và được UBKTcác cấp đã thực hiện và thực hiện khá tốt, nhưng đến Đại hội X mới được bổsung chính thức vào Điều lệ Đảng Đây là cơ sở rất quan trọng để UBKT cáccấp thực hiện chức năng giám sát, nhằm nâng cao chất lượng CTKT,GS trongđiều kiện hiện nay, đồng thời UBKT các cấp còn có chức năng, nhiệm vụthực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao và tham mưu cho cấp ủy cùng cấp thực hiệnnhiệm vụ kiểm tra, giám sát

UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá có các nhiệm vụ:chấp hành các quy định của Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ và quyềnhạn của UBKT các cấp; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Tỉnh uỷ, BanThường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa, của huyện, thị, thành uỷ và sự chỉ đạo, hướngdẫn, kiểm tra của UBKT Trung ương Đảng và của UBKT Tỉnh uỷ Thanh Hoá

về CTKT,GS UBKT huyện, thị, thành uỷ có trách nhiệm chấp hành quy chếlàm việc do huyện, thị, thành ủy quyết định ban hành

Căn cứ Điều lệ Đảng, Quy định của Bộ Chính trị về Hướng dẫn thihành Điều lệ Đảng và Quyết định về ban hành hướng dẫn thực hiện quy định

về CTKT, GS và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệĐảng; hướng dẫn của UBKT cấp trên; huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnhThanh Hoá đã cụ thể hoá chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của UBKThuyện, thị, thành uỷ như sau:

Trang 15

Thứ nhất, quyết định phương hướng, nhiệm vụ, chương trình CTKT, GS

(nhiệm kỳ, hằng năm, 6 tháng) của UBKT huyện, thị, thành uỷ; sơ kết, tổngkết CTKT, GS

Thứ hai, trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ

luật trong Đảng theo quy định của điều 32 Điều lệ Đảng; các quy định củaTrung ương Đảng và của Tỉnh ủy; Quy chế làm việc; hướng dẫn của UBKTTỉnh ủy và UBKT Trung ương Đảng

- Về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát do Điều lệ Đảng quy định

+ Về công tác kiểm tra

Kiểm tra đảng viên, kể cả huyện, thị, thành ủy viên khi có dấu hiệu viphạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn huyện, thị, thành ủy viên và trong việcthực hiện nhiệm vụ được giao; kiểm tra đảng ủy, ban thường vụ đảng uỷ, chi

ủy, chi bộ cơ sở trực thuộc huyện, thị, thành ủy khi có dấu hiệu vi phạm trongviệc chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị củaĐảng, của huyện, thị, thành ủy và Tỉnh ủy Thanh Hóa, các nguyên tắc tổ chứccủa Đảng; kiểm tra đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy, UBKT đảng ủy cơ sở,chi bộ cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trongĐảng; kiểm tra tài chính đảng đối với cấp ủy cơ sở và cơ quan tài chính củahuyện, thị, thành ủy

Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định kỷ luậttheo thẩm quyền hoặc đề nghị huyện, thị, thành ủy thi hành kỷ luật

Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộhuyện, thị xã, thành phố Giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với tổ chứcđảng và đảng viên trong đảng bộ huyện, thị, thành phố

+ Về công tác giám sát: Giám sát các huyện, thị, thành ủy viên của đảng bộ

và cán bộ thuộc diện huyện, thị, thành ủy quản lý và các tổ chức đảng cấp dướitrong đảng bộ huyện, thị xã, thành phố về thực hiện đường lối, chủ trương, nghịquyết của Đảng; nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy và của huyện, thị, thành ủy ởĐảng bộ tỉnh Thanh Hóa; đạo đức, lối sống theo quy định của Đảng

Trang 16

Khi tiến hành CTKT, GS và kỷ luật trong Đảng cần tập trung vào cácđảng bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc huyện, thị, thành ủy Đối với các chi bộ,đảng bộ bộ phận trực thuộc các đảng bộ cơ sở, căn cứ vào tình hình cụ thể,chỉ tiến hành kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng đó khi thật cần thiết.

- Về thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao và tham mưu cho huyện, thị, thành ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

Tham mưu cho ban chấp hành đảng bộ và ban thường vụ huyện, thị,

thành ủy tiến hành CTKT, GS theo quy định của Điều lệ Đảng và thực hiệnnhiệm vụ do ban chấp hành và ban thường vụ huyện, thị, thành ủy giao

Báo cáo các vụ thi hành kỷ luật, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luậtđảng thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của ban chấp hành đảng bộ và

ban thường vụ huyện, thị, thành ủy giao Hướng dẫn kiểm tra, giám sát các tổ

chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và đảng viên thực hiện CTKT, GS và kỷ luật trongĐảng; tổ chức triển khai các quyết định, kết luận, thông báo của ban chấp hànhđảng bộ và ban thường vụ huyện, thị, thành ủy về thi hành kỷ luật, giải quyết tốcáo và khiếu nại kỷ luật đảng; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát tổ chức đảngcấp dưới và đảng viên có liên quan trong việc thực hiện các quyết định, kết luận,thông báo đó; chủ động tham gia ý kiến, kiến nghị những vấn đề liên quan đếncông tác cán bộ và cán bộ thuộc diện huyện, thị, thành uỷ quản lý

Phối hợp với các ban của cấp uỷ tham mưu cho ban chấp hành, banthường vụ huyện, thị, thành ủy xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chươngtrình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, tổ chức lực lượng để kiểm tra, giám sát tổchức đảng cấp dưới và đảng viên chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệĐảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng theo quy định của điều 30 Điều lệ Đảng;theo dõi việc thực hiện quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ huyện,thị xã, thành phố và kiến nghị với ban chấp hành, ban thường vụ huyện, thị,thành ủy nhằm thực hiện đúng quy chế

- Về Thực hiện nhiệm vụ do UBKT Tỉnh ủy và UBKT Trung ương Đảng giao

Thực hiện nhiệm vụ này, chủ yếu là sự phối hợp với UBKT Trung ươngĐảng hoặc UBKT Tỉnh ủy thực hiện những nhiệm vụ có liên quan đến địa

Trang 17

bàn huyện, thị xã, thành phố Khi UBKT Tỉnh ủy và UBKT Trung ương yêucầu thì UBKT huyện, thị, thành ủy có trách nhiệm tạo điều kiện hoặc phốihợp thực hiện Trường hợp cần thiết, khi UBKT Tỉnh ủy và UBKT Trungương yêu cầu, UBKT huyện, thị, thành ủy cử cán bộ tham gia đoàn hoặc tổkiểm tra do các UBKT đó quyết định thành lập; có trách nhiệm tham gia vàphối hợp thực hiện nghiên cứu đề án, chuyên đề và tổng kết về CTKT, GS và

- Khái niệm công tác kiểm tra

Kiểm tra là:"Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [68, tr.523] Kiểm tra (theo nghĩa trong lãnh đạo, quản lý) là một chức năng lãnh

đạo, quản lý; một khâu trong quy trình lãnh đạo; là việc xem xét tình hình vàkết quả thực tế của việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thịcủa Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trịđược giao, đánh giá đúng ưu điểm để phát huy và chỉ rõ những thiếu sót,khuyết điểm phải khắc phục sửa chữa, xử lý vi phạm (nếu có)

Cuốn "Sách tra cứu các cụm từ về tổ chức", viết, "kiểm tra: xem xét tìnhhình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung haymột công tác cụ thể được giao của một cơ quan, đơn vị hoặc một người để đánhgiá, nhận xét chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc người đó Kiểmtra thực hiện chức năng lãnh đạo, quản lý, " và "Kiểm tra cũng là công tácthuộc nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước, của tổ chức đảng, đoàn thể cấp trên đốivới cấp dưới, của thủ trưởng đối với nhân viên dưới quyền” [60, tr.468]

Kiểm tra được xem như là một nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ hệ thống

lãnh đạo, quản lý nào Kiểm tra bao gồm: kiểm tra của cấp trên đối với cấpdưới và tự kiểm tra Điều 30 Điều lệ Đảng khoá X chỉ rõ: kiểm tra là chức

Trang 18

năng lãnh đạo của Đảng Khác với các tổ chức khác, kiểm tra của Đảng làhoạt động nội bộ Đảng, hoạt động của những người cùng chung mục đích, lýtưởng nhằm hướng tới đích là làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch

và các tổ chức đảng vững mạnh, có NLLĐ và SCĐ cao, từng bước thực hiệnthắng lợi mục đích, lý tưởng của Đảng

CTKT của Đảng gồm chủ thể kiểm tra, đối tượng kiểm tra, nội dungkiểm tra, phạm vi trách nhiệm, quyền hạn kiểm tra Qua kiểm tra chỉ ra ưuđiểm để phát huy, thiếu sót, khuyết điểm và vi phạm (nếu có) để khắc phụcsửa chữa, nguyên nhân và các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn khuyếtđiểm, vi phạm nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng ngàycàng tốt hơn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao

Từ những điều trình bày ở trên có thể quan niệm kiểm tra của Đảng làchức năng lãnh đạo của Đảng, là việc xem xét tình hình chấp hành Cươnglĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, phápluật của Nhà nước; thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn hay mộtcông việc cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét tổ chức đảng và đảng viênđược kiểm tra, chỉ ra nguyên nhân và các biện pháp phát huy ưu điểm, khắcphục khuyết điểm, thiếu sót

Chủ thể CTKT của Đảng gồm các cấp ủy và tổ chức đảng có thẩmquyền; đối tượng kiểm tra gồm các tổ chức đảng và đảng viên thuộc diệnquản lý; nội dung kiểm tra gồm: việc chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệĐảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước,thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Phương thức tiến hành kiểm tragồm: chủ thể kiểm tra trực tiếp tiến hành, sử dụng các cơ quan chức năng,như: UBKT, các ban xây dựng Đảng, các cơ quan chức năng có liên quanphối hợp và các phương tiện cần thiết

UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá, là một tổ chứcđảng của đảng bộ và là chủ thể kiểm tra của các huyện, thị, thành ủy; có đốitượng kiểm tra là cấp uỷ, tổ chức đảng và toàn thể đảng viên trong đảng bộ

Trang 19

huyện, thị xã, thành phố; đồng thời là đối tượng kiểm tra của UBKT Tỉnh uỷ

và UBKT Trung ương Đảng

Từ quan niệm về CTKT của Đảng nêu trên, có thể quan niệm: CTKT của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đó là tổng thể các hoạt động của UBKT huyện, thị, thành ủy để thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của mình là " kiểm tra" các tổ chức đảng trực thuộc và đảng viên của đảng

bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân

và các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, ngày càng tiến

bộ, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ cách mạng mà trước hết là nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng và của đảng bộ huyện, thị xã, thành phố.

Như vậy, chủ thể CTKT của UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnhThanh Hóa là UBKT huyện, thị, thành ủy Đối tượng kiểm tra gồm các cấp

uỷ, tổ chức đảng trực thuộc và toàn thể đảng viên trong đảng bộ huyện, thị xã,thành phố

Nội dung, đối tượng kiểm tra của UBKT huyện, thị, thành ủy được thểhiện ở:

- Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Nội dung kiểm tra: kiểm tra những dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng

viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.UBKT huyện, thị, thành uỷ căn cứ tình hình, nhiệm vụ, yêu cầu của công tácxây dựng Đảng ở địa phương; tính chất dấu hiệu vi phạm của đảng viên để tậptrung kiểm tra

Đối tượng kiểm tra: chỉ kiểm tra những đảng viên khi có dấu hiệu vi

phạm, trước hết là huyện, thị, thành uỷ viên, đảng viên là cán bộ thuộc diệnhuyện, thị, thành uỷ quản lý Khi cần thiết thì kiểm tra đảng viên do tổ chứcđảng cấp dưới quản lý Trường hợp đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm là cấp

Trang 20

uỷ viên cấp mình, đồng thời là cán bộ thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý thì UBKThuyện, thị, thành uỷ báo cáo để UBKT Tỉnh uỷ chủ trì và phối hợp tiến hànhkiểm tra Đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện huyện, thị, thành uỷ quản lýtrước khi bổ nhiệm phải có ý kiến của các ban có liên quan của Tỉnh uỷ, khi

có dấu hiệu vi phạm thì đề nghị UBKT Tỉnh uỷ chỉ đạo và phối hợp tiến hànhkiểm tra

- Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng.

Nội dung vi phạm: kiểm tra dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hànhCương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, các nguyên tắc tổchức của Đảng, trước hết là dấu hiệu vi phạm về nguyên tắc tập trung dân chủ

và quy chế làm việc; về đoàn kết nội bộ, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cáchmạng của cán bộ, đảng viên; về chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết,chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thịcủa cấp uỷ cấp trên và của cấp uỷ cùng cấp

Đối tượng kiểm tra: kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là cấp

dưới trực tiếp, như: đảng uỷ, ban thường vụ, UBKT đảng uỷ cơ sở; chi uỷ, chi

bộ cơ sở Nếu cần thì kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới cách một cấp (đảng ủy

bộ phận, chi uỷ, chi bộ thuộc đảng ủy cơ sở, ) Khi kiểm tra tổ chức đảng códấu hiệu vị phạm, có thể kết hợp kiểm tra một số đảng viên là cán bộ chủ chốtcủa tổ chức đảng được kiểm tra

- Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

Nội dung kiểm tra: kiểm tra việc xây dựng phương hướng, nhiệm vụkiểm tra, xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra theo điều 30

và điều 32, Điều lệ Đảng; việc lãnh đạo và chỉ đạo đảng uỷ, ban thường vụđảng uỷ cơ sở, chi ủy, chi bộ cơ sở trong việc thực hiện CTKT, bao gồm cảviệc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của UBKT đảng uỷ cơ sở; kết quả kiểm tracủa cấp uỷ và tổ chức đảng ở cơ sở

Trang 21

Đối tượng kiểm tra: kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là đảng uỷ,

ban thường vụ đảng uỷ cơ sở, chi ủy, chi bộ cơ sở và UBKT đảng uỷ cơ sở chưalàm tốt hoặc có khó khăn trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

- Kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng

Nội dung kiểm tra: kiểm tra việc thi hành kỷ luật theo mốc thời gian

nhất định Tập trung kiểm tra việc thực hiện phương hướng, phương châm,nguyên tắc thủ tục thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên Kiểmtra việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng, những vụ khiếu nại đã giảiquyết, đang giải quyết hoặc những vụ vì lý do nào đó mà chưa giải quyết.Xem xét các vụ kỷ luật đã được xử lý, nhưng có dấu hiệu xử lý không đúngmức; các vụ vi phạm đến mức phải xử lý, nhưng không xử lý Kiểm tra việcchấp hành các quyết định, chỉ thị, thông báo của tổ chức đảng cấp trên có liênquan đến việc thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng

Đối tượng kiểm tra: kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới có thẩm quyền thi

hành kỷ luật, trước hết là đảng uỷ và chi bộ cơ sở, nhất là những nơi có nhiều

tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật, nhưng không

xử lý hoặc xử lý không đúng mức; những nơi có nhiều thư khiếu nại về kỷluật đảng

- Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc

đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật

Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giải quyết tố cáo, sinh hoạtnội bộ, đánh giá phân loại chất lượng đảng viên hoặc kết luận của cơ quanpháp luật; qua xem xét, đề nghị thi hành kỷ luật của tổ chức đảng cấp dưới, nếuphát hiện đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì UBKT huyện, thị,thành uỷ quyết định hoặc xem xét, chuẩn bị hồ sơ đề nghị ban chấp hành hoặcban thường vụ huyện, thị, thành uỷ quyết định thi hành kỷ luật theo thẩm quyền

Thẩm quyền thi hành kỷ luật của UBKT huyện, thị, thành uỷ: quyết định

khiển trách, cảnh cáo đảng uỷ viên (kể cả bí thư, phó bí thư và ủy viên banthường vụ) và chi uỷ viên cơ sở; cán bộ thuộc diện huyện, thị, thành uỷ quản

Trang 22

lý, nhưng không phải là huyện, thị, thành uỷ viên; quyết định các hình thức kỷluật đối với đảng viên, kể cả đảng viên là bí thư, phó bí thư, chi uỷ viên củachi bộ, đảng uỷ bộ phận thuộc đảng bộ cơ sở hoặc cán bộ thuộc diện đảng uỷ

cơ sở quản lý, nhưng không phải là đảng uỷ viên đảng uỷ cơ sở hay cán bộthuộc diện huyện, thị, thành uỷ quản lý

- Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên

Thẩm quyền giải quyết tố cáo ở đảng bộ huyện, thị xã, thành phố là banchấp hành đảng bộ huyện, thị xã, thành phố, ban thường vụ và UBKT huyện,thị, thành uỷ có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng (đảng uỷ, banthường vụ, ủy ban kiểm tra đảng ủy, chi uỷ và chi bộ cơ sở, các ban củahuyện, thị, thành uỷ) và đảng viên thuộc diện huyện, thị, thành uỷ quản lý

- Giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng

UBKT huyện, thị, thành uỷ giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng vàđảng viên đối với những trường hợp do đảng uỷ và chi bộ cơ sở thi hành kỷluật; và những trường hợp tái khiếu mà đảng ủy cơ sở đã giải quyết Có tráchnhiệm xem xét, đề xuất ý kiến giải quyết và chuẩn bị hồ sơ các vụ kỷ luậtthuộc thẩm quyền giải quyết khiếu nại của ban chấp hành đảng bộ hoặc banthường vụ huyện, thị, thành uỷ

- Kiểm tra tài chính đảng đối với cấp uỷ cơ sở và của cơ quan tài chính huyện, thị, thành uỷ

UBKT huyện, thị, thành uỷ có quyền kiểm tra tài chính đối với cơ quantài chính huyện, thị, thành uỷ: kiểm tra việc chấp hành các chủ trương, nghịquyết, chỉ thị, quy định, chế độ, chính sách về quản lý, sử dụng tài chính, tàisản của Đảng và Nhà nước trong quá trình hoạt động tài chính theo chứcnăng, nhiệm vụ được giao; việc chấp hành sự chỉ đạo, các chủ trương, quyđịnh, quyết định của huyện, thị, thành uỷ và của cấp uỷ cấp trên; việc thammưu cho huyện, thị, thành uỷ quyết định các chủ trương, chế độ thu chi, quản

lý tài chính và tài sản của Đảng; giúp cấp ủy dự toán ngân sách, quản lý thựchiện ngân sách, báo cáo phê duyệt thanh quyết toán tài chính; việc chấp hành

Trang 23

các quy định của Luật kế toán, Luật ngân sách, Kiểm tra việc thu nộp, quản

lý và sử dụng đảng phí đối với đảng ủy và chi bộ cơ sở

- Khái niệm công tác giám sát

Theo đại từ điển tiếng việt: "Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi

nhiệm vụ"[91, tr.728] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Giám sát là một

hình thức hoạt động của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm đảmbảo pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó" [67, tr.112].Theo từ điển Luật học:

Giám sát còn được hiểu là sự theo dõi, quan sát hoạt độngmang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác độngbằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đốitượng chịu sự giám sát đi theo qũy đạo, quy chế nhằm đạt được mụcđích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luậtđược tuân thủ nghiêm chỉnh [69, tr.174]

Điều lệ Đảng khoá X xác định: "Giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng".Như vậy, giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, nắm tình hình, xemxét một cách thường xuyên, liên tục và nhận định về một việc làm nào đó đãthực hiện đúng hoặc sai so với quy định

Giám sát luôn gắn với chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi

ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét và cóquyền đưa ra những nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện làđúng hoặc sai so với những điều đã quy định

Giám sát còn được hiểu là: sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tínhchủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tíchcực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹđạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước,bảo đảm cho chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, phápluật của Nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh

Giám sát của Đảng là chức năng lãnh đạo của Đảng, là chủ thể giám sát

(tổ chức đảng và đảng viên) có thẩm quyền tiến hành theo dõi, quan sát

Trang 24

thường xuyên trực tiếp, gián tiếp mang tính chủ động tới mọi hoạt động củađối tượng giám sát (tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên) để hướng cho đốitượng được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đảng và chức trách,nhiệm vụ được giao, nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của chủ thể giám sát

đã đề ra; góp phần chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm, thúc đẩythực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng

Công tác giám sát của Đảng là công việc nội bộ Đảng, nhằm phục vụ

thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; đồng thời qua giámsát phát hiện những nơi làm tốt, những kinh nghiệm hay để phổ biến, pháthuy; biết được nơi có thiếu sót, lệch lạc để uốn nắn, khắc phục; phát hiện cácdấu hiệu vi phạm để kiểm tra và những điểm cần sửa đổi, bổ sung trong chủtrương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Từ những điều trình bày ở trên có thể quan niệm: CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá là tổng thể hoạt động của UBKT huyện, thị, thành uỷ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của mình là "giám sát" thông qua việc theo dõi, quan sát trực tiếp, giám sát thường xuyên mang tính chủ động đối với mọi hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới

và đảng viên của đảng bộ huyện, thị xã, thành phố để phát huy ưu điểm, phát hiện và ngăn chặn kịp thời những thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm khi mới manh nha, hướng các hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên đó chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy Thanh Hoá, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng mà trước hết là chức trách, nhiệm vụ được giao, nhiệm vụ chính trị của tổ chức đảng và của đảng bộ huyện, thị xã, thành phố.

- Chủ thể CTGS của UBKT huyện, thị, thành phố ở Đảng bộ tỉnh Thanh

Hoá là UBKT huyện, thị, thành ủy

- Đối tượng giám sát:

+ Đối với tổ chức đảng: cấp uỷ và tổ chức đảng cấp dưới mà trước hết là

đảng ủy, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở, UBKT đảng uỷ cơ sở và chi ủy, chi bộ

Trang 25

cơ sở; các ban của huyện, thị, thành uỷ; các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác dohuyện, thị, thành uỷ lập ra Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát,UBKT huyện, thị, thành uỷ có thể giám sát cả các tổ chức đảng trong đảng bộ

cơ sở (đảng ủy bộ phận, chi ủy, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở)

+ Đối với đảng viên: giám sát huyện, thị, thành ủy viên, kể cả bí thư,

phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ huyện, thị, thành uỷ; đảng viên là cán bộdiện thuộc huyện, thị, thành uỷ quản lý Như vậy, UBKT huyện, thị, thành uỷđược giám sát đối với mọi đảng viên trong đảng bộ huyện, thị xã, thành phố.Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của đảng bộtrong từng thời gian, mà chọn đối tượng giám sát cho phù hợp Đặc biệt tậptrung giám sát cán bộ, đảng viên là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo chủ chốt

xã, phường, thị trấn và phòng, ban, ngành, đoàn thể của cấp mình

- Nội dung giám sát:

+ Giám sát đối với tổ chức đảng: giám sát tổ chức đảng cấp dưới (đảng

ủy, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở; ủy ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở và chi ủy, chi

bộ cơ sở; các ban của huyện, thị, thành uỷ, ) trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổchức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; nghị quyết, chỉthị, quy định, quyết định, kết luận của cấp ủy cấp trên và của cấp mình; việcthực hiện nguyên tắc và hoạt động của Đảng; thực hiện chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn được giao; thực hiện quy chế làm việc; thực hiện chương trìnhcông tác toàn khoá, hằng năm của cấp uỷ, tổ chức đảng trên các lĩnh vực vàcông tác cán bộ; giám sát các nội dung khác do cấp uỷ giao (nếu có)

+ Giám sát đối với đảng viên: việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết,

chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật củaNhà nước; việc thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên vàtrong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; thực hiện chức trách, nhiệm vụđược giao; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; giữ gìn mối liên hệ với tổchức đảng và thực hiện nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú; thực hiện những điềuđảng viên và cán bộ, công chức không được làm; thực hiện kê khai và công

Trang 26

khai tài sản của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng và pháp luật củaNhà nước; việc chấp hành quy chế làm việc đối với cấp uỷ viên cùng cấp.Tuy theo yêu cầu việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựngĐảng của đảng bộ trong từng thời gian, nội dung giám sát của UBKT huyện,thị, thành uỷ đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên cần phải có trọngtâm, trọng điểm.

- Sự giống nhau, khác nhau và mối quan hệ giữa CTKT và CTGS

+ Sự giống nhau giữa CTKT và CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy:

CTKT và CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy đều là hoạt động nội bộĐảng do UBKT thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của mình, đều nhằm đạtđược mục đích là nắm vững và đánh giá đúng thực chất tình hình, từ đóphòng ngừa, ngăn chặn, điều chỉnh, uốn nắn mọi hành vi của tổ chức đảng vàđảng viên có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xâydựng Đảng của đảng bộ huyện, thị xã, thành phố

Đối tượng và nội dung của kiểm tra, giám sát: đều là tổ chức đảng vàđảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghịquyết, chỉ thị, quy định của Đảng; các nguyên tắc tổ chức của Đảng, trongviệc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết củacấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

+ Sự khác nhau giữa CTKT và CTGS:

Về mục đích: CTGS là công việc thường xuyên, liên tục để chủ động

phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc mới manh nha, giúp đối tượngđược giám sát thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế; pháthiện, góp ý, phản ảnh, đề xuất, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyếtđiểm, vi phạm là chính Qua hoạt động giám sát, nếu phát hiện có dấu hiệu viphạm thì mới tiến hành kiểm tra

Mục đích của CTKT là để làm rõ đúng, sai Sau kiểm tra phải kết luận và

xử lý kỷ luật (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý) Có thể có vi phạm rồi mới

Trang 27

kiểm tra, có vụ việc vi phạm qua nhiều năm mới kiểm tra để làm rõ nội dung,tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm để xử lý (nếu có).

Về đối tượng, đối với CTKT: đảng viên vừa là đối tượng kiểm tra, vừa là chủ thể kiểm tra Còn đối với CTGS: đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và

chỉ trở thành chủ thể giám sát, khi được tổ chức đảng có thẩm quyền phâncông Đối tượng của CTGS rộng hơn đối tượng kiểm tra, vì bao gồm cả cáctiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp uỷ các cấp lập ra

Khi thực hiện nhiệm vụ giám sát không cần tổ chức thành cuộc, khôngcoi trọng việc thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như mộtcuộc kiểm tra Thông qua quan sát, theo dõi để phát hiện vấn đề, phản ánh với

tổ chức và cá nhân có thẩm quyền, nhằm kịp thời chấn chỉnh, sửa chữa khuyếtđiểm, tránh để xảy ra vi phạm Còn khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra phải tiếnhành theo quy trình, thành lập tổ (hoặc đoàn) kiểm tra, coi trọng thẩm tra, xácminh Sau kiểm tra phải có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưuđiểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảngviên (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý); CTKT có chủ thể là đảng viên,vừa có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra và tự kiểm tra, vừa là đối tượng kiểm tra

- Mối quan hệ giữa CTKT và CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy

CTKT và CTGS của UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh ThanhHoá có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau Trong quá trình giám sát,nếu phát hiện đối tượng bị giám sát có những hoạt động chưa đúng với quyđịnh của Đảng, Nhà nước, có thiếu sót, khuyết điểm thì chủ thể giám sát kịpthời nhắc nhở, cảnh báo, đề nghị thực hiện đúng các quy định; nếu thấy cónhững việc làm sai trái thì kiến nghị với cấp có thẩm quyền biết để có biệnpháp chấn chỉnh, kiểm tra, xử lý Nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì tiếnhành kiểm tra xem xét, kết luận và xử lý (nếu đến mức phải xử lý) Ngược lại,qua kiểm tra có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả CTGS, nắm chắcđược thực chất tình hình và có cơ sở khi phải xem xét, xử lý kỷ luật tổ chứcđảng, đảng viên vi phạm, nhất là về tinh thần tự giác khắc phục, sửa chữa sailầm, khuyết điểm đã được nhắc nhở, cảnh báo ngay từ khi giám sát

Trang 28

Muốn thực hiện tốt CTGS phải có quan sát, theo dõi, xem xét tình hìnhthực tế của đối tượng được giám sát; ngược lại, muốn thực hiện tốt CTKT thìphải thường xuyên giám sát để đưa ra quyết định có nên kiểm tra hay không.Càng thực hiện tốt CTGS, thì CTKT càng chủ động, kịp thời và chất lượng,hiệu quả càng cao.

CTKT và CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh ThanhHoá còn có mối quan hệ mật thiết với kỷ luật đảng CTKT, GS và kỷ luậtđảng đều nhằm giữ gìn kỷ luật đảng, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và giáodục là chính

1.1.2.2 Vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá và đặc điểm

- Vai trò, tác dụng của CTKT,GS của Đảng

Vai trò và tác dụng to lớn của CTKT,GS của Đảng đã được các nhà kinhđiển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là V.I Lênin bàn luận và chỉ rõ Đó làhoạt động tất yếu của các Đảng Cộng sản, cả trong lãnh đạo đấu tranh giànhchính quyền và cả trong lãnh đạo xây dựng CNXH CTKT,GS của Đảng cóvai trò, tác dụng rất to lớn đối với việc phát hiện, khẳng định và phát huy tácdụng của các điển hình tiến tiến, các ưu điểm của các tổ chức đảng và cán bộ,đảng viên; chỉ ra những khuyết điểm, thiếu sót của các tổ chức đảng, cán bộ,đảng viên và nguyên nhân; đề xuất các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn vàkhắc phục; duy trì và đảm bảo thực hiện tốt Điều lệ Đảng, Cương lĩnh Chínhtrị, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của các cấp

ủy đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao chất lượng các tổ chứcđảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữaĐảng với nhân dân, Và như vậy, CTKT,GS của Đảng có vai trò, tác dụng tolớn đối với việc nâng cao NLLĐ và SCĐ của các tổ chức đảng và đội ngũ cán

bộ, đảng viên, đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của các tổ chứcđảng và nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ

Trang 29

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những tư tưởng, quanđiểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về vai trò, tác dụng của CTKT,GS của Đảng

và đã nhiều lần luận bàn về vấn đề này Người chỉ rõ: "CTKT,GS là giúp chocác cấp uỷ đảng nắm chắc được tình hình lãnh đạo; chất lượng của các nghịquyết, chỉ thị, ", và nhấn mạnh:

Có kiểm tra, giám sát mới biết rõ cán bộ, nhân viên tốt hayxấu; mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan; mới biết

rõ tính đúng đắn, khả thi hay chưa phù hợp của các nghị quyết, chỉthị, Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn các nghịquyết có được thi hành hay không, muốn biết ai ra sức làm, ai làmcho qua chuyện; muốn biết cán bộ tốt, xấu chỉ có một cách là khéokiểm tra, giám sát Kiểm tra, giám sát khéo thì bao nhiêu khuyếtđiểm lòi ra hết [51, tr.287]

Người đã nghiêm khắc phê phán những cơ quan, cán bộ mắc bệnh quanliêu, bệnh bàn giấy, chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ

thị Họ quên mất kiểm tra, giám sát Do đó "đầy túi quần thông báo, đầy túi

áo chỉ thị" mà công việc không chạy, có mắt mà không thấy suốt, có tai mà

không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắmvững Người đánh giá rất cao ý nghĩa, tác dụng của CTKT,GS nên thườngxuyên nhắc nhở: "Đảng phải luôn luôn xem lại những nghị quyết và chỉ thịcủa mình đã thi hành như thế nào Nếu không như vậy, thì những nghị quyết,chỉ thị đó không chỉ là lời nói suông mà còn hại đến lòng tin của nhân dân đốivới Đảng Các cấp, các ngành nếu tổ chức tốt việc kiểm tra, giám sát thì cũngnhư ngọn đèn pha, bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểmchúng ta đều biết rõ Có thể nói: “chín phần mười khuyết điểm trong côngviệc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra Nếu tổ chức kiểm tra chu đáo thìcông việc của chúng ta nhất định bội gấp mười, gấp trăm” [51, tr.155-156].Kiểm tra, giám sát không chỉ giúp cho lãnh đạo nắm chắc chất lượng đội ngũcán bộ, ngăn ngừa khuyết điểm, sai lầm, giúp đỡ sửa chữa mà còn khơi dậy

Trang 30

được tính tích cực, sức mạnh to lớn của nhân dân, củng cố uy tín của Đảngtrước nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân,xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực hiện thắnglợi đường lối, nghị quyết của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: "Lãnh đạo đúng nghĩa là: phải quyếtđịnh mọi vấn đề một cách đúng đắn; phải tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổchức sự kiểm soát" [51, tr.285] Như vậy, theo Người kiểm soát là một bộ phậnrất quan trọng tạo nên sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kiểm soát không chỉ làkhâu cuối cùng trong quy trình lãnh đạo đúng của Đảng, mà nó xuyên suốt trongtất cả các khâu khác từ việc ra quyết định (cả việc chuẩn bị ra quyết định) đến tổchức thực hiện quyết định Kiểm soát bao gồm cả kiểm tra, giám sát

Người luôn dạy cán bộ, đảng viên muốn đạt hiệu quả cao thì phải

“khéo kiểm tra” Khéo, nghĩa là phải trên cơ sở khoa học, có phương pháp và

hình thức kiểm tra, giám sát đa dạng, linh hoạt Kiểm tra, giám sát phải có hệthống, nghĩa là khi đã có nghị quyết thì lập tức đốc thúc sự thực hiện và kiểmtra, giám sát việc thực hiện nghị quyết ấy Khi kiểm tra, giám sát không nên chỉcăn cứ vào giấy tờ, báo cáo, ngồi trong phòng chờ người ta báo cáo mà phải điđến tận nơi, xem tại chỗ, kiểm tra phải dùng cách thức tự phê bình và phê bình

để làm rõ mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa những khuyết điểm ấy

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò, tác dụng to lớn củaCTKT,GS của Đảng và luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tácnày, góp phần quyết định xây dựng Đảng ta ngày càng vững mạnh, đưa cáchmạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và lãnh đạo công cuộc đổimới giành thắng lợi to lớn Luận điểm nổi tiếng được các cấp ủy đảng và toànĐảng quán triệt và thực hiện xuyên suốt trong quá trình hoạt động của mình là

"Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo"[19, tr.123] Kiểmtra gắn bó mật thiết với lãnh đạo, là cơ sở để lãnh đạo đạt kết quả tốt Nếu xemnhẹ hoặc bỏ qua công tác kiểm tra trong quá trình lãnh đạo, tức là các tổ chứcđảng đã bỏ qua vai trò lãnh đạo của mình, sẽ gây nên những hậu quả khó lường

Trang 31

Bước vào thời kỳ đổi mới và trong suốt quá trình lãnh đạo thực hiệncông cuộc đổi mới và thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luậnđiểm nổi tiếng và bao trùm, chỉ đạo hoạt động lãnh đạo của Đảng: "Kiểm tra,giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng" [35, tr.18].

Tại Đại hội X, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, tác dụng của CTKT,đồng thời khẳng định vai trò, tác dụng của CTGS Điều lệ Đảng khoá X đã bổsung chức năng, nhiệm vụ giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp,tăng thẩm quyền thi hành kỷ luật cho chi bộ Điều này đã khẳng định Đảng đánhgiá rất cao vai trò, tác dụng của CTKT,GS trong điều kiện hiện nay

Như vậy, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò, tác dụng của CTKT,GScủa Đảng, là chức năng lãnh đạo của Đảng, là cơ sở và là yếu tố xuyên suốtđảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đúng đắn, càng có vai trò to lớn trong điều kiệnhiện nay Kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của tất cả các tổ chức đảng; là một bộquan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng; một khâu quan trọng của tổchức thực hiện; biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu

Là một tổ chức đảng của đảng bộ huyện, thị, thành phố, UBKT huyện,thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, thực hiện chức năng, nhiệm vụ chủyếu của mình, là tiến hành CTKT,GS dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của huyện,thị, thành ủy; đồng thời tham mưu cho huyện, thị, thành ủy về CTKT,GS;chịu sự kiểm tra, giám sát của UBKT Tỉnh ủy và Tỉnh ủy Thanh Hóa, củaUBKT Trung ương Đảng CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng

bộ tỉnh Thanh Hóa có vị trí, vai trò và tác dụng quan trọng đối với các hoạtđộng của huyện, thị, thành ủy và Tỉnh ủy Thanh Hóa trên tất cả các mặt, từxây dựng nội bộ đến hoạt động lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, lãnhđạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội, nghềnghiệp ở địa phương CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy đã góp phầntích cực thực hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng; thực hiện cácnghị quyết, chỉ thị của Đảng và của cấp ủy địa phương về xây dựng Đảng;xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng, nâng cao NLLĐ và SCĐ

Trang 32

của các tổ chức đảng, giữ vững và tăng cường kỷ luật đảng Đồng thời thúcđẩy việc thực hiện Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị củaĐảng, nhiệm vụ chính trị của địa phương, tạo nên thành tựu to lớn của côngcuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tạo thế và lực để các cấp ủy, tổchức đảng và nhân dân bước vào thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ trong nhữngnăm tới.

- Đặc điểm CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa

CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành ủy có nhũng đặc điểm cơ bảnsau đây:

Một là, UBKT huyện, thị, thành uỷ ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, là chủ

thể tiến hành CTKT,GS Chủ thể đó luôn được kiện toàn, đủ số lượng, cán bộkiểm tra có bản lĩnh chính trị, có trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm nhất định

về CTKT, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên, để hoàn thành tốtnhiệm vụ trong thời gian tới, UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra huyện, thị,thành ủy còn nhiều bất cập

Các huyện, thị, thành ủy luôn coi trọng kiện toàn nâng cao chất lượngUBKT, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng ủy viên UBKT Trong tổng số

155 cán bộ UBKT huyện, thị, thành ủy có 103 ủy viên chuyên trách; 52 ủyviên kiêm chức; 32 cán bộ giúp việc; có 14 UBKT có 5 ủy viên; 6 UBKT có 6

ủy viên; 7 UBKT có 7 ủy viên Trong tổng số ủy viên UBKT có 136 nam, 19

nữ [ Phụ lục số 3 và số 4] Trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ kiểm tra

được nâng lên một bước Tuy nhiên, trình độ năng lực của một bộ phận cán

bộ kiểm tra còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Hai là, đối tượng kiểm tra, giám sát của UBKT huyện, thị, thành ủy ở

Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa rất lớn, đa dạng, trình độ mọi mặt không đồng đều;đời sống mọi mặt của cán bộ kiểm tra còn gặp khó khăn, phong tục tập quán ởnhiều nơi còn nặng nề

Trang 33

Thanh Hóa là một tỉnh lớn, dân số rất đông và có nhiều đảng viên;Thanh Hóa được chia thành ba vùng: vùng trung du niềm Núi; vùng đồngbằng và vùng ven biển Các TCCĐ hoạt động trên địa bàn phức tạp, khókhăn, nhất là vùng trung du, miền núi Thanh Hóa cũng có nhiều đảng viên làngười dân tộc thiểu số, trình độ mọi mặt còn hạn chế, đời sống gặp nhiều khókhăn Các đảng bộ huyện, thị xã, thành phố có số đảng bộ, chi bộ cơ sở lớn;phần lớn trên 24 TCCSĐ, có nhiều huyện trên 60 TCCSĐ, cá biệt có huyện

có trên 80 TCCSĐ [Phụ lục số 2]

Ba là, nhiệm vụ CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ

tỉnh Thanh Hóa rất nặng nề được tiến hành trong không gian rộng lớn, đadạng, trong điều kiện tỉnh đang chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, nguồnvốn thu hút đầu tư vào tỉnh ngày càng lớn, hình thành nên các khu côngnghiệp hiện đại, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vào loại cao và tăng lênhàng năm; quá trình đô thị hóa ở một số nơi diễn ra với tốc độ nhanh; cuộcvận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã đạt được những kết quả quan trọng,song cũng còn nhiều vấn đề bức xúc, phức tạp phải giải quyết

Bốn là, các huyện, thị, thành ủy luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi

cho UBKT hoàn thành nhiệm vụ cả về kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ vàđiều kiện làm việc, cũng như quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần Các

tổ chức thành viên HTCT trong tỉnh luôn tích cực hợp tác, giúp đỡ để UBKThoàn thành nhiệm vụ

1.2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA UỶ BAN KIỂM TRA HUYỆN, THỊ, THÀNH UỶ Ở ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ - QUAN NIỆM VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

1.2.1 Quan niệm về chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành uỷ

1.2.1.1 Quan niệm về chất lượng

Quan niệm về chất lượng CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ởĐảng bộ tỉnh Thanh Hoá quan hệ mật thiết với khái niệm chất lượng Vì vậy,

Trang 34

để đưa ra quan niệm về chất lượng CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành uỷ

thì cần làm rõ khái niệm "Chất lượng"

Theo Đại từ điển tiếng việt: "Chất lượng" được hiểu là: "1- Cái làm nênphẩm chất, giá trị của một con người, sự vật 2- Cái tạo nên bản chất sự vật,làm cho sự vật này khác với sự vật kia…" [91, tr.331]

Theo Từ điển Triết học: "Chất lượng (chất) là tính quy định bản chất của

sự vật, tính quy định những đặc điểm và tính cách vốn có của sự vật; do tính quyđịnh đó, sự vật là sự vật như nó đang tồn tại chứ không phải là sự vật nào khác;tính quy định đó phân biệt sự vật ấy với sự vật khác" [66, tr.150-153]

Theo Từ điển bách khoa tiếng Việt: Chất lượng (theo định nghĩa triết

học) được định nghĩa như sau:

Phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật,chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó vớicác sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chấtlượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết cácthuộc tính của sự vật lại là một, gắn bó với sự vật như một tổng thể,bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫncòn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổichất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của

sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó vàkhông thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sựthống nhất của chất lượng và số lượng [67, tr.419]

Như vậy khái niệm "chất lượng" hàm chứa trong nó tính chỉnh thể, tổhợp các thuộc tính, cấu thành nên phẩm chất, giá trị của một con người, một

sự vật Trong một chừng mực nào đó khái niệm "chất lượng" đồng nghĩa vớikhái niệm cái đẹp, cái thật và cái văn hóa

Khái niệm về chất lượng có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận Muốn nhậnthức một cách khoa học sự vật, hiện tượng, trước hết phải xác định tính quyđịnh về bản chất của sự vật, hiện tượng, nghĩa là nêu rõ những đặc điểm vốn

Trang 35

có của sự vật hiện tượng, những đặc điểm phân biệt những sự vật, hiện tượngnày với những sự vật, hiện tượng khác Chừng nào mà chưa xác định đượcchất lượng của sự vật thì không thể nêu lên quy luật phát triển của sự vật.Chất lượng của sự vật và hiện tượng không phải là vĩnh viễn, nó cũng biếnhóa Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, vấn đề quá độ từ trạng thái chấtlượng này sang trạng thái chất lượng khác, liên hệ mật thiết với vấn đề thayđổi về số lượng của các sự vật và quá trình Không có tính quy định về sốlượng của sự vật thì không có chất của sự vật Hai mặt chất và lượng của sựvật thống nhất với nhau.

Chất lượng luôn gắn liền với sự vật, hiện tượng, để nói lên thực chất của

sự vật, hiện tượng đó Ví dụ, chất lượng của tổ chức đảng A, tổ chức đảng B;chất lượng công tác tổ chức, cán bộ; chất lượng công tác đảng viên; chấtlượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ đảng,

Sau khi làm rõ khái niệm chất lượng, để đưa ra quan niệm về chất lượngmột hoạt động nào đó, của một người hay một tập thể người, một tổ chức cònphải làm rõ quan niệm về hoạt động nào đó của tổ chức đó Ví dụ, để đưa quanniệm về chất lượng công tác cán bộ còn phải đưa ra quan niệm về công tác cán

bộ gồm những vấn đề gì, những yếu tố nào tạo nên công tác cán bộ, chủ thể côngtác cán bộ trong từng trường hợp cụ thể, từng địa phương, đơn vị

Để đưa ra quan niệm về chất lượng CTKT,GS thì sau khi làm rõ kháiniệm chất lượng, cũng phải tiến hành các công việc như trên

1.2.1.2 Quan niệm về chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá

- Về chất lượng công tác kiểm tra

Ở tiết 1.1, luận văn đã phân tích và đưa ra quan niệm về CTKT,GS củaUBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá

Về công tác kiểm tra, đó là tổng thể hoạt động kiểm tra của UBKT thực

hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm phát huy ưu điểm, khắc phụckhuyết điểm của đối tượng kiểm tra, góp phần vào công tác xây dựng Đảng

Trang 36

và thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương Luận văn cũng đã chỉ ra đốitượng kiểm tra của UBKT huyện, thị, thành ủy, chức năng, nhiệm vụ cụ thể

và vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra của UBKT huyện, thị, thành ủy

Từ những điều đó và từ khái niệm chất lượng, qua thực tế công tác kiểmtra của UBKT huyện, thị, thành uỷ có thể quan niệm:

Chất lượng CTKT của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá là tổng hợp các giá trị, thuộc tính của các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm tra của UBKT huyện, thị, thành ủy nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, yếu kém của đối tượng kiểm tra, làm cho các đối tượng ấy ngày càng tốt hơn, góp phần vào kết quả của công tác xây dựng Đảng và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Chất lượng CTKT của UBKT huyện, thị, thành ủy do nhiều yếu tố quyđịnh Đó là, tất cả những yếu tố làm cho CTKT của UBKT huyện, thị, thành

ủy đạt kết quả tốt, UBKT hoàn thành chức năng, nhiệm vụ và phát huy vaitrò, tác dụng của CTKT đối với công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm

vụ chính trị của địa phương

Trên cơ sở lý luận và qua thực tiễn cho thấy, chất lượng CTKT củaUBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá phụ thuộc vào nhữngyếu tố, như: nhận thức, thái độ của UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra; sự lãnhđạo, chỉ đạo của huyện, thị, thành ủy; cách tổ chức kiểm tra; nội dung vàphương pháp kiểm tra; các quy định, cơ chế kiểm tra và xử lý kết quả kiểmtra; chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra; tổ chức bộ máy của cơ quan UBKT;

sự phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng và các cơ quan, tổ chức có liênquan trong CTKT; sự hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra của UBKT cấp trên; môitrường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chất lượng các tổ chức đảng trựcthuộc và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đảng bộ

- Về chất lượng công tác giám sát

Cùng với việc đưa ra quan niệm về CTKT, ở tiết 1.1 luận văn đã phântích và đưa ra quan niệm về CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ

Trang 37

tỉnh Thanh Hóa, đó là tổng thể các hoạt động của UBKT huyện, thị, thành ủythực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát của mình nhằm phát huy ưu điểm,phát hiện và ngăn ngừa khuyết điểm, vi phạm từ lúc mới manh nha của đốitượng giám sát, để các hoạt động ấy ngày càng tốt hơn, góp phần vào kết quảcông tác kiểm tra, công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị ởđịa phương.

Từ quan niệm đó, cũng như từ quan niệm chất lượng và thực tế CTGScủa UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa có thể quan niệm:

Chất lượng CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa là tổng hợp các giá trị, thuộc tính của các hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ công tác giám sát của UBKT huyện, thị, thành ủy, nhằm phát huy ưu điểm, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các khuyết điểm của đối tượng giám sát từ khi mới manh nha, góp phần vào kết quả CTKT, công tác xây dựng Đảng và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Tương tự như CTKT, chất lượng CTGS của UBKT huyện, thị, thành ủy

ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố quy định, như: nhậnthức, thái độ của UBKT về CTGS; cách tổ chức giám sát; nội dung và phươngpháp giám sát; các quy định, cơ chế giám sát và xử lý kết quả giám sát; tổchức bộ máy UBKT và chất lượng đội ngũ cán bộ giám sát; sự phối hợp giữaUBKT huyện, thị, thành uỷ với các tổ chức đảng trong công tác xây dựngĐảng nói chung và CTGS nói riêng; sự lãnh đạo, chỉ đạo của huyện, thị, thànhủy; môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chất lượng của tổ chức đảng

và đội ngũ cán bộ, đảng viên của đảng bộ huyện, thị xã, thành phố

1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của

ủy ban kiểm tra huyện, thị, thành ủy

Tiêu chí đánh giá chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành

ủy ở Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa là chuẩn mực mà dựa vào đó có thể nhận biết,đánh giá được chất lượng CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành ủy là tốthay chưa tốt, đạt hay chưa đạt mục đích, yêu cầu đặt ra

Trang 38

Đánh giá đúng chất lượng CTKT, GS là một việc khó, bởi vì chấtlượng của CTKT, GS vừa cụ thể, vừa trìu tượng, vừa tác động trực tiếp, vừatác động gián tiếp đến công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chínhtrị của địa phương Vì vậy, việc đánh giá chất lượng CTKT, GS cần phải đượcxem xét, đánh giá một cách toàn diện với quan điểm lịch sử, cụ thể.

Mục đích của CTKT của Đảng, trong đó có CTKT của UBKT các cấp,

là làm cho Điều lệ Đảng, đường lối, nghị quyết, chủ trương của Đảng vàchính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện một cách nghiêm chinh,đúng đắn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, đem lại cuộc sống ấm no,hạnh phúc cho nhân dân Điều đó yêu cầu CTKT của Đảng phải tích cực, chủđộng, nghiêm minh và kịp thời, nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa Xem xétchất lượng CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộ tỉnh ThanhHóa phải xem xét một cách toàn diện, chú ý đến kết quả và tác dụng của côngtác này Về xem xét tác dụng thiết thực của CTKT của UBKT huyện, thị,thành ủy còn chú ý đến:

- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy và đảng viên trong đảng bộ về vịtrí, tầm quan trọng của CTKT của Đảng Từ đó đề cao trách nhiệm của các tổchức đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo thẩm quyền

- Thúc đẩy các tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ tổ chức thựchiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; các nghị quyết,chỉ thị, chương trình công tác của Tỉnh ủy và của huyện, thị, thành ủy trên tất

cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựngĐảng và xây dựng hệ thống chính trị Đồng thời qua kiểm tra việc tổ chứcthực hiện mà kiểm nghiệm xem các nghị quyết, chỉ thị, chương tình công táccủa các cấp ủy đề ra còn phù hợp với thực tiễn hay không Từ đó, kiến nghịnhững vấn đề cần bổ sung, sửa đổi

- Việc chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng vàchính sách, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảngcủa các tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ Từ đó, góp phần phòng

Trang 39

ngừa, ngăn chặn và từng bước đẩy lùi tình trạng suy thoái về phẩm chất, đạođức lối sống của đảng viên và những sai lầm, khuyết điểm khác của tổ chứcđảng và đảng viên; góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch độingũ cán bộ, đảng viên.

- Góp phần giữ gìn kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, xử lýnghiêm minh đối với những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, nâng caoNLLĐ và SCĐ của các tổ chức đảng trong đảng bộ, đặc biệt là các TCCSĐ;thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ huyện, thị xã,thành phố nói riêng và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nói chung

Việc xác định tiêu chí đánh giá chất lượng CTKT, GS của UBKThuyện, thị, thành ủy phải dựa trên cơ sở lý luận, mục đích yêu cầu củaCTKT,GS và thực tiễn CTKT, GS của UBKT huyện, thị, thành ủy ở Đảng bộtỉnh Thanh Hóa và tham khảo kinh nghiệm ở các nơi khác

1.2.2.1 Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra

Theo tác giả đánh giá chất lượng CTKT của UBKT huyện, thị, thành

ủy cần căn cứ vào những tiêu chí sau đây:

Thứ nhất, việc quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng, của huyện,

thị, thành ủy và chương trình công tác toàn khóa của huyện, thị, thành ủy; xâydựng chương trình, kế hoạch CTKT,GS của UBKT huyện, thị, thành ủy toànkhóa và hằng năm

Cần xem xét việc UBKT quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng,nghị quyết, chỉ thị của huyện, thị, thành ủy và chương trình công tác toànkhóa của cấp ủy cùng cấp, việc cụ thể hóa chương trình, kế hoạch kiểm tratoàn khóa, hằng năm; việc xác định trọng tâm, trọng điểm kiểm tra; việc dựkiến lực lượng tiến hành và phương thức thực hiện; việc cán bộ kiểm tra nhậnthức và quán triệt chương trình, kế hoạch đó như thế nào

Thứ hai, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của UBKT huyện,

thị, thành ủy theo quy định của điều 32 Điều lệ Đảng, nhiệm vụ của cấp ủycùng cấp giao và tham mưu giúp huyện, thị, thành ủy triển khai thực hiện

Trang 40

nhiệm vụ kiểm tra theo quy định của điều 30 Điều lệ Đảng và kết quả đạtđược so với mục đích, yêu cầu đặt ra.

Cần xem xét việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra có đúng các quy định,chương trình, kế hoạch hay không; kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theochương trình, kế hoạch; kết quả kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất.Xem xét việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là kiểm tra đảng viên và

tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, trước hết là kiểm tra tổ chứcđảng cấp dưới trực tiếp, kiểm tra cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ thuộc diệncấp ủy cùng cấp quản lý khi có dấu hiệu vi phạm Đồng thời xem xét việckiểm tra cấp ủy, TCCSĐ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luậtđảng, kiểm tra tài chính đảng

Thứ ba, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kỷ luật đảng theo thẩm

quyền, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng và giải quyết tố cáo đối với tổ chứcđảng và đảng viên, kết quả đạt được

Thứ tư, việc tham mưu cho cấp ủy trong CTKT và thi hành kỷ luật đảng;

tổ chức thực hiện nhiệm vụ do cấp ủy và UBKT cấp trên giao; phối hợp vớiUBKT Trung ương và UBKT Tỉnh uỷ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

Cần xem xét tác dụng trên thực tế của CTKT của UBKT đối với việcnâng cao nhận thức về mọi mặt của cán bộ, đảng viên, nhất là nhận thức vềcông tác kiểm tra

Xem xét tác động của CTKT tới việc phòng ngừa, ngăn chặn tổ chứcđảng và đảng viên vi phạm các quy định của Đảng và chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, góp phần vào công tác xây dựng Đảng và HTCT trong đảng bộhuyện, thị xã, thành phố; củng cố niềm tin của quần chúng đối với tổ chứcđảng và đảng viên trong đảng bộ; góp phần nâng cao vị thế và uy tín củaUBKT các cấp nói chung và cán bộ kiểm tra huyện, thị, thành ủy nói riêng.Cần xem xét tác dụng của CTKT của UBKT huyện, thị, thành ủy đối vớiviệc thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của huyện, thị, thành phố và củatỉnh Thanh Hoá

Ngày đăng: 19/12/2022, 13:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hồng Anh (2002), "Một số vấn đề về CTKT của Đảng trong tình hình mới", Tạp chí kiểm tra, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về CTKT của Đảng trong tình hìnhmới
Tác giả: Lê Hồng Anh
Năm: 2002
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận -thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006)
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
3. Ban Tổ chức Trung ương Đảng (2005), "Hướng dẫn đại hội đảng bộ các cấp", Tạp chí Xây dựng Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đại hội đảng bộ cáccấp
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Năm: 2005
4. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Quy định số 23 -QĐ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2006 về hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 23 -QĐ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2006 vềhướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng
Tác giả: Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
7. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Quy định số 115-QĐ/TW ngày 17 tháng 12 năm 2007, về những điều đảng viên không được làm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định số 115-QĐ/TW ngày 17 tháng 12 năm 2007, vềnhững điều đảng viên không được làm
Tác giả: Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Chi (2005), "CTKT qua 20 năm đổi mới", Tạp chí Cộng sản (23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: CTKT qua 20 năm đổi mới
Tác giả: Nguyễn Văn Chi
Năm: 2005
11. Cục thống kê Thanh Hoá (2006), Niên Giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên Giám thống kê
Tác giả: Cục thống kê Thanh Hoá
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
12. Phan Diễn (2006), "Tăng cường CTKT là một trong những biện pháp quan trọng nhất để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng", Tạp chí Kiểm tra, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường CTKT là một trong những biện phápquan trọng nhất để góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Tác giả: Phan Diễn
Năm: 2006
13. Nguyễn Thị Doan (2002), "Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện CTKT, kỷ luật Đảng", Tạp chí Cộng sản, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần lưu ý khi thực hiện CTKT,kỷ luật Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Doan (2003), "Nâng cao vai trò, vị trí của CTKT và vị thế của UBKT các cấp", Tạp chí Kiểm tra, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao vai trò, vị trí của CTKT và vị thếcủa UBKT các cấp
Tác giả: Nguyễn Thị Doan
Năm: 2003
15. Lê Duẩn (1965), Bài nói tại Hội nghị kiểm tra toàn Miền bắc ngày 17 tháng 07 năm 1965, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài nói tại Hội nghị kiểm tra toàn Miền bắc ngày 17tháng 07 năm 1965
Tác giả: Lê Duẩn
Năm: 1965
16. Lê Duẩn (1978), Về xây dựng Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng Đảng
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1978
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ III của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1960
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IV của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, tập 3, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ V của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban chấp hành khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2)Ban chấp hành khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w