Xác định và đo lường các nhân t ố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghi ệp trong phạm vi các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu thủy hải sản vùng
GIỚ I THI ỆU ĐỀ TÀI LU Ậ N ÁN NGHIÊN C Ứ U
ĐẶT VẤN ĐỀ
Toàn cầu hóa thương mại đã thúc đẩy số lượng ngày càng tăng các công ty tham gia vào các hoạt động quốc tế (Chang và Fang, 2015; Chen và ctv., 2016)
Xuất khẩu được xem là chiến lược quan trọng trong quá trình quốc tế hóa (Sousa và ctv., 2008), vì nó mang lại cho các công ty mức độ linh hoạt cao và yêu cầu các cam kết về tài chính, nhân lực và nguồn lực tối thiểu khi so sánh với các phương thức gia nhập quốc tế khác Hơn nữa, xuất khẩu cho phép các doanh nghiệp tiếp thu kiến thức thị trường, vì nó thường đòi hỏi họ phải cạnh tranh trong các môi trường đa dạng và ít quen thuộc hơn Kiến thức thu được thông qua xuất khẩu có thể được áp dụng không chỉ ở thị trường nước ngoài mà còn ở thị trường trong nước, do đó giúp các doanh nghiệp cạnh tranh hơn và thành công hơn ở cả thị trường nội địa và quốc tế (Chitauro và Khumalo, 2020)
Do một số lợi ích mà xuất khẩu có thể mang lại cho các doanh nghiệp và quốc gia, trong nhiều thập kỷ qua, một số nhà nghiên cứu đã nỗ lực nghiên cứu để xác định các biến số ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Tuy nhiên kiến thức về chủ đề này vẫn còn hạn chế và các tài liệu về hoạt động xuất khẩu thường đưa ra kết quả không nhất quán (Sousa và ctv.,
2008) Trong bối cảnh này, các nhà nghiên cứu đã điều tra tác động của nhiều yếu tố đến hoạt động xuất khẩu (Cadogan và ctv., 2012; Morgan và ctv., 2012)
Trong đó các yếu tố bên trong là những yếu tố được các nhà nghiên cứu kiểm tra thường xuyên hơn Điều này có cơ sở vì các yếu tố này nằm dưới sự kiểm soát của các doanh nghiệp nhiều hơn
Với tầm quan trọng của xuất khẩu, ngày càng nhiều hơn các nghiên cứu quốc tếđã tập trung vào việc tìm hiểu các yếu tố quyết định hoạt động xuất khẩu thành công Đặc biệt, những năm gần đây, người ta ngày càng chú ý đến việc xác định và đánh giá năng lực kinh doanh quốc tế làm cơ sở cho hoạt động xuất khẩu của các công ty (Kaleka, 2012; Chang và Fang, 2015; Chen và ctv., 2016) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa xem xét toàn diện các yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu Hơn nữa, phần lớn các nghiên cứu trước đây theo hướng này tập trung vào các nền kinh tế tiên tiến và ở các nước phương Tây, do đó, sự hiểu biết về mối quan hệ giữa các năng lực cạnh tranh và kết quả xuất khẩu trong bối cảnh của các nền kinh tế đang phát triển vẫn còn thiếu (Boso và ctv., 2016) Bằng chứng từ các nghiên cứu trước đây chỉ ra có sự khác biệt giữa các nền kinh tế tiên tiến và đang phát triển trong các yếu tố tác động đến xuất khẩu Quan trọng hơn, các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động từ các nền kinh tế đang phát triển phải đối mặt với nhiều thách thức từ thị trường xuất khẩu, điển hình như hạn chế về nguồn lực (Boso và ctv., 2016), thiếu kinh nghiệm quốc tế (Gries và Naudé, 2010), thiếu kiến thức về tiếp thị và thông tin (Tesfom và Lutz, 2006), hệ thống quản lý phức tạp kém phát triển hỗ trợ các hoạt động quốc tế (Boso và ctv., 2016), và các hàng rào thuế quan và phi thuế quan áp dụng cho hàng xuất khẩu (Korneliussen và Blasius, 2008) Với những khác biệt này, cần có thêm nhiều nghiên cứu và dữ liệu từ bối cảnh của các nền kinh tế đang phát triển để mở rộng kiến thức về chủ đề này (Boso và ctv., 2016) Đối với các DN Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, vấn đề cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt trên tất cả các lĩnh vực Vì thế các DN muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập thì phải chấp nhận đối mặt với cạnh tranh và để có được ưu thế cạnh tranh trước các đối thủ thì các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh Khi
Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thì sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt với sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thị trường Vì thế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một vấn đề mang tính chiến lược và vô cùng cấp bách đặt ra cho các DN xuất khẩu thủy hải sản nói riêng và các DN nói chung để giúp DN đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường Hơn thế, nâng cao năng lực cạnh tranh ở các DN có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của DN Với mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của DN là lợi nhuận thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại DN được xem như là một chiến lược không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của DN Việc nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ đem lại lợi ích cho DN, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả nền kinh tế
Thủy hải sản vẫn được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017), Việt Nam đứng trong ba quốc gia hàng đầu thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ) về nuôi trồng và sản xuất thủy hải sản Bắt đầu từ năm 2000, XK thủy sản của Việt Nam có sự tăng trưởng đột phá nhờ phát triển mạnh ngành nuôi trồng, đặc biệt là nuôi cá tra và tôm nước lợ (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) Sau 12 năm, kim ngạch XK thủy sản tăng gấp hơn 4 lần từ mức gần 1,5 tỷ USD năm 2000 lên 7,8 tỷ USD năm
2014 Năm 2015, XK thủy sản gặp khó khăn do giá tôm giảm, đồng USD tăng mạnh so với các tiền tệ khác làm giảm nhu cầu và tăng áp lực cạnh tranh Kim ngạch XK thủy sản năm 2016 đạt 7,05 tỷ USD, tăng 7,3% so với năm 2015 Năm
2017, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức từ các thị trường như tác động của chương trình thanh tra cá da trơn và việc EU cảnh báo thẻ vàng đối với hải sản Việt Nam, XK thủy sản cả năm 2017 vẫn đạt trên 8,3 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2016.Năm 2018, XK thủy sản của cả nước đạt kim ngạch trên 8,8 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm 2017 Trong 5 năm qua, kim ngạch XK thủy sản của Việt Nam luôn đứng thứ 4 trong số các mặt hàng XK chủ lực, sau dệt may, da giày và dầu thô.
Thành tựu của ngành thủy sản thể hiện bằng kết quả XK tăng nhanh về cả giá trị và sản lượng trong giai đoạn 2001 - 2019 Năm 2019, sản phẩm thủy sản được XK sang 158 nước và vùng lãnh thổ Ba thị trường chính là EU chiếm 15%,
Mỹ 17% và Nhật Bản 17% Hiện nay, đang có những thị trường tiềm năng như Trung Quốc (17%) và ASEAN (8%) Số nhà máy và công suất cấp đông của các cơ sở chế biến tăng rất nhanh trong giai đoạn 2001- 2015 Khu vực ĐBSCL đã hình thành một số công ty quy mô lớn như Tập đoàn thủy sản Minh Phú, Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn, công ty Cổ phần Hùng Vương… Năm 2020, với nhiều biến động của nền kinh tế thế giới trước đại dịch Covid-19, ngành thủy sản Việt Nam vẫn đạt được sự tăng trưởng nhất định Cụ thể, sản lượng thủy sản của cả nước đạt 8,4 triệu tấn, tăng nhẹ 3% so với năm 2019 Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên nhân biến động giá, thay đổi xu hướng tiêu dùng và đứt gãy chuỗi cung ứng, nên xuất khẩu thủy hải sản chỉ đạt 8,4 tỷ USD (giảm 1,9%) so với năm 2019, trong đó thủy sản nuôi (tôm, cá tra) chiếm 62% với 5,2 tỷ USD, thủy sản khai thác chiếm 38% với 3,2 tỷ USD (Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam - VASEP, 2020)
Trên thực tế, các vấn đề về bệnh dịch, hạn hán, xâm nhập mặn hay ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện đang tạo ra nhiều khó khăn và áp lực cho sự phát triển của ngành Ngoài ra, các rào cản kỹ thuật và giao dịch của các nước nhập khẩu để bảo vệ các doanh nghiệp và người tiêu dùng của họ ngày càng khắt khe hơn Bên cạnh đó, giá thủy hải sản nguyên liệu không hợp lý so với giá xuất khẩu do chi phí sản xuất trong nước cao (Xuân Thảo, 2017) cũng là một trong các yếu tố tạo nên khó khăn lớn để các doanh nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu Theo hiệp hội thủy sản Việt Nam, năm 2019, giữa những bất lợi vì thuế chống bán phá giá cao, thẻ vàng đối với hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp (gọi tắt là “thẻ vàng IUU”) và giá trung bình xuất khẩu giảm, XK thủy sản của Việt Nam đã có kết quả không như mong đợi với gần 8,6 tỷ USD, giảm 2,5% so với năm 2018 Hai sản phẩm thủy sản nuôi chủ lực là tôm và cá tra đều giảm với mức tương ứng 7,1% và 8,5% so với năm trước, các mặt hàng hải sản cũng bị giảm mạnh ở XK như: mực, bạch tuộc, nhưng bù lại cá ngừ, các loại cá biển và hải sản khác vẫn giữ tăng trưởng dương nên kéo lại phần nào tỷ lệ sụt giảm trong tổng kim ngạch XK thủy sản của cả nước XK sang thị trường Mỹ,
EU, Hàn Quốc, Australia và Canada đều giảm trong khi XK sang Nhật Bản, Trung Quốc và các thị trường khác trong top 10 thị trường lớn nhất vẫn tăng so với năm trước (VASEP, 2020)
Tình hình hiện tại cho thấy để phát triển bền vững trên thị trường quốc tế, các DN thủy hải sản chú trọng vào việc nâng cao hoạt động xuất khẩu Tuy nhiên các rào cản kỹ thuật từ các quốc gia nhập khẩu ngày càng nhiều hơn và khắt khe hơn đã đẩy các DN thủy hải sản vào tình thế khó khăn hơn Để đạt được kết quả tốt trong hoạt động xuất khẩu đòi hỏi họ phải có chiến lược thông minh và lâu dài hơn, tìm kiếm được thị trường ổn định và phù hợp hơn Ở các thị trường quốc tế, nơi cạnh tranh ngày càng tăng, yêu cầu cho sự thành công của DN phụ thuộc vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và giải pháp hành động có liên quan Để vượt qua các rào cản từ bên ngoài, DN cần trang bị cho mình các nguồn lực bên trong đủ mạnh nhằm giúp DN thích ứng tốt với các thay đổi từ môi trường, đồng thời ứng phó với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước Tuy nhiên, để gọi tên chính xác các nguồn lực này là gì thì còn khá ít các nghiên cứu đã được thực hiện, đặc biệt là trong ngành thủy hải sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng và Việt Nam nói chung
Qua lược khảo tài liệu, số lượng các bài báo, các nghiên cứu về NLCT ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng còn rất hạn chế, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản Trên địa bàn nghiên cứu là vùng ĐBSCL hiện tại có hai nghiên cứu đã được công bố về kết quả hoạt động xuất khẩu thủy hải sản của DN là của Viet và ctv (2017) và Thanh và ctv (2018) Cả hai nghiên cứu này thực tế sử dụng cùng một mô hình nền tảng bởi cùng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động xuất khẩu trên quan điểm xem xét cả yếu tố bên trong và bên ngoài của DN Cả hai nghiên cứu này cũng chưa nghiên cứu tập trung để tìm ra các nội hàm của yếu tố NLCT mà chỉ bàn về kết quả hoạt động xuất khẩu Để phát triển bền vững trên thị trường quốc tế, các DN xuất khẩu thủy hải sản nên chú trọng vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu Bởi vì theo Porter (2008), năng lực cạnh tranh giúp DN có thể đứng vững trên thị trường, mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận Năng lực cạnh tranh cũng là khả năng thực hiện tốt hơn đối thủ trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận Nâng cao năng lực cạnh tranh cho phép DN tạo ra và duy trì lợi nhuận trong môi trường thay đổi nhanh chóng (Ambrosini và Bowman, 2009) Nhận thức được tầm quan trọng của NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu của DN, nghiên cứu này được thực hiện để có được những đánh giá sâu sắc về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản vùng ĐBSCL Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục trải qua quá trình thay đổi mạnh mẽ cơ cấu và bộ máy tổ chức, thúc đẩy quản trị theo thông lệ quốc tế nhằm nâng cao sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng sản phẩm và dịch vụhướng đến nâng cao NLCT trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Vậy, vấn đề xây dựng, phát triển NLCT và nâng cao kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản sao cho phù hợp với điều kiện mới càng trở nên cấp thiết, mặc dù trong thời gian qua, nước ta đã tích cực đổi mới và điều chỉnh chính sách quản lý kinh tế, chính sách thương mại quốc tế nhằm tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh cho nông sản của Việt Nam nói chung, sản phẩm thủy sản nói riêng và đã đạt được những bước phát triển đáng kể
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện theo trình tựcác bước theo hình 3.1
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Trên cơ sở vấn đề nghiên cứu, tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu Sau đó, dựa trên cơ sở lý thuyết và kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó có mối liên quan để đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và thang đo nháp Nhằm đảm bảo giá trị nội dung của thang đo, một nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn ý kiến chuyên gia và thảo luận nhóm nhằm khẳng định
Xác định mục tiêu nghiên cứu Xây dựng thang đo và phiếu khảo sát
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết
Lấy ý kiến chuyên gia (Nghiên cứu định tính) Điều chỉnh thang đo và phiếu khảo sát sơ bộ Điều tra sơ bộ Đánh giá độ tin cậy của thang đo
(Cronbach’s Alpha) Điều chỉnh thang đo Thiết kế phiếu khảo sát chính thức
Tiến hành thu số liệu chính thức Xử lý số liệu
Kết luận mô hình nghiên cứu sự phù hợp của các biến quan sát Sau khi xác định mô hình và thang đo chính, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng thông qua bảng câu hỏi khảo sát chính thức Kết quả khảo sát sẽ được mã hóa và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS Các bước xử lý bao gồm phân tích yếu tố khám phá, đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, đồng thời kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu thông qua phân tích hồi quy tuyến tính SEM.
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
Trong phần lớn các nghiên cứu trước đây, NLCT thường được tiếp cận bằng mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1980) Mô hình này được sử dụng phổ biến trong giảng dạy và nghiên cứu về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và có thể sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam Mô hình này cũng được rất nhiều học giả chứng minh là phù hợp để phân tích NLCT của DN trên nhiều phương diện nghiên cứu khác nhau trong đó phần nhiều các nghiên cứu thường tập trung vào việc vận dụng mô hình năm áp lực cạnh tranh để xác định NLCT của DN và quyết định khả năng gia nhập ngành cho một DN trong một ngành cụ thể Một hướng nghiên cứu khác, mặc dù không quá nhiều, đã tập trung khai thác vào chủ thể là các DN đã hoạt động trong ngành Để phân tích về NLCT hay thế mạnh cạnh tranh của các DN này, mô hình năm áp lực cạnh tranh cũng được vận dụng Tuy nhiên, việc vận dụng mô hình này thường là phân tích mối quan hệtác động của các áp lực đến sức mạnh cạnh tranh hay NLCT của DN Vì sự phổ biến này, nên nghiên cứu này cũng chọn mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter là nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu, trong đó lấy NLCT làm trung tâm để xem xét sự ảnh hưởng của các áp lực cạnh tranh làm thay đổi như thế nào NLCT của DN trong lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản của khu vực ĐBSCL
Vì có nhiều khái niệm khác nhau về NLCT, cho nên để xây dựng được mô hình, nghiên cứu này sử dụng khái niệm NLCT phổ biến nhất của Porter Việc sử dụng khái niệm này cũng hợp lý vì lý thuyết tiếp cận mà nghiên cứu lựa chọn là mô hình năm áp lực cạnh trạnh cũng xuất phát từ cùng một tác giả Khái niệm này cho rằng NLCT của DN là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao của DN (Porter 1998) Theo Porter (1980), bản chất và khảnăng cạnh tranh của từng ngành bao gồm cả sản xuất và dịch vụ đều có liên quan đến một bộ năm áp lực khác nhau, trong đó, mỗi thành phần sẽ có tác động nhất định và khác nhau đến sức mạnh cạnh tranh của DN Theo Porter (1980), năng suất lao động là thước đo duy nhất về NLCT; năng lực cạnh tranh là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Ông cho rằng trong bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng có 5 yếu tố tác động đến NLCT bao gồm (1) Sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; (2) Mối đe dọa về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; (3) Nguy cơ có các sản phẩm thay thế xuất hiện; (4) Vai trò của khách hàng; (5) Vai trò của nhà cung cấp
Theo lý luận về các phương pháp tiếp cận NLCT như đã nêu trên cho thấy cơ bản các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề NLCT của DN được tiếp cận theo hai quan điểm chính là nguồn lực (RBV) và năng lực (CBV) Quan điểm tiếp cận NLCT theo nguồn lực được xem là nguồn gốc cho sựhình thành quan điểm năng lực và cũng là nguồn gốc của sự tồn tại, cạnh tranh và thành công của mọi DN Hsu và Liu (2008) cho rằng cả hai quan điểm đều chia sẻ sự giống nhau trong việc tích hợp các nguồn lực để tạo nên khả năng cạnh tranh trong DN và sau đó tác động vào kết quả hoạt động Tuy nhiên, hai quan điểm này cũng tồn tại khá nhiều sự khác biệt trong đó có thể nhận thấy sự khác biệt lớn nhất là chuỗi nhân tố tác động đến NLCT cũng như kết quả hoạt động của DN Nếu quan điểm nguồn lực cho rằng những nguồn lực khan hiếm hay tiêu biểu sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh khác nhau giữa các DN, quan điểm năng lực lại cho rằng có nhiều yếu tố trung gian tham gia vào chuỗi ảnh hưởng từ nguồn lực đến kết quả hoạt động trong đó tài sản và nguồn lực là điểm xuất phát trong chuỗi ảnh hưởng Tuy nhiên Freiling (2004) cho rằng nguồn lực và tài sản thì không đủ để giải thích kết quả kinh doanh khác nhau giữa các DN Bản thân mỗi
DN phải có cách thức để đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực của mình phù hợp với định hướng thị trường bao gồm cạnh tranh Thuyết năng lực sau khi được phát triển đã lấp đầy khoảng trống giữa nguồn lực và kết quả hoạt động thông qua sự xuất hiện của khái niệm năng lực và khả năng Hai khái niệm này thể hiện vai trò cầu nối giữa nguồn lực và kết quả Nói một cách đơn giản, năng lực và khả năng chính là cách thức mà mỗi DN sử dụng nguồn lực để đạt được kết quả theo mục tiêu Bên cạnh đó, thuyết năng lực cũng cho thấy sự tiến bộ hơn so với thuyết nguồn lực bởi đã đưa yếu tố cạnh tranh tham gia vào trong chuỗi ảnh hưởng Bối cảnh cạnh tranh sẽ tạo ra được NLCT- một thành phần trong nhóm năng lực tác động đến kết quả kinh doanh Cũng theo Freiling (2004) NLCT được chỉ ra trong thuyết năng lực chính là cầu nối giữa thị trường và DN Điều này có nghĩa là thuyết năng lực không tách rời DN khỏi sự phát triển chung của thị trường mà luôn đồng hành và thay đổi theo thị trường đây cũng là cơ sở cho việc hình thành tên gọi thuyết năng lực động
Từ cơ sở trên nghiên cứu này tiếp cận khái niệm NLCT theo quan điểm của thuyết năng lực (Competence-based View- CBV) vì tính bền vững và khả năng cao trong việc thiết lập mối quan hệ tác động vào kết quả hoạt động xuất khẩu của DN đặc biệt đối với ngành thủy hải sản, khi các yếu tố về thị trường thay đổi nhanh và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Đối với ngành thủy hải sản tại Việt Nam, đặc thù riêng là tính cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế, những biến đổi nhanh chóng trong môi trường kinh doanh, các yêu cầu từ thị trường thay đổi thường xuyên và ngày càng khắt khe hơn, hướng đến khai thác đi đôi bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Cho nên, trong các điều kiện kinh doanh này, việc tiếp cận nghiên cứu NLCT theo quan điểm năng lực là hợp lý vì nó cho phép NLCT được nghiên cứu trong môi trường động hay liên tục biến đổi Theo quan điểm năng lực, nghiên cứu tập trung vào khả năng sử dụng, kết hợp tài sản, nguồn năng lực nhằm đạt được tăng trưởng và hiệu quả tổng thể của tổ chức Lý thuyết CBV đã được phát triển bởi khá nhiều nghiên cứu nhưng nổi bật nhất là của Sanchez và Heene (1996, 2004) Lý thuyết này cho rằng năng lực là khả năng duy trì, triển khai và phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu Hay nói cách khác, năng lực của công ty sẽ quyết định sự thành công của công ty đó Lý thuyết CBV giả định:
(1) Công ty thành công chính là mức độ đạt được và thỏa mãn liên tục những mục tiêu của công ty;
(2) Công ty thành công - f(các nguồn lực, các khả năng, quá trình quản trị, chiến lược phù hợp,…)
Hình 3.2: Năng lực cạnh tranh tiếp cận thông qua các thực thể trong quan điểm năng lực (CBV)
Các năng lực Đạt mục tiêu chiến lược DN
Các chiến lược phù hợp Bối cảnh cạnh tranh
Trong mô hình của hình 3.2, các thực thể được hiểu bao gồm tài sản là bất cứ những gì có thể hữu hình hoặc vô hình có thể có ích cho công ty Các nguồn lực là những tài sản mà một DN có thể truy cập và sử dụng trong quá trình triển khai và phát triển các sản phẩm để tạo ra giá trị Khả năng được hiểu là cách mà
DN có thể tích hợp xây dựng và cấu trúc các nguồn lực Các cách thức của khả năng vừa có thể tạo ra năng lực vừa có thể tác động làm thay đổi năng lực Các chiến lược phù hợp chính là quy trình quản lý, triển khai các nguồn lực và khả năng để phân phối giá trị Bối cảnh cạnh tranh sẽxác định các loại nguồn lực và khảnăng tác động đến năng lực ví dụ bối cảnh của ngành, môi trường cạnh tranh Đạt mục tiêu chiến lược DN chính là kết quả cuối cùng của hoạt động của DN
Các nghiên cứu có liên quan đến thuyết năng lực khẳng định năng lực là một nguồn lực (vô hình) đặc biệt của doanh nghiệp (Barney, 1991; Grant, 1991;
Teece và ctv., 1997) Theo quan điểm này, học thuyết về năng lực (competency and dynamic capacities-based view) là một phần phát triển hơn của học thuyết phụ thuộc nguồn lực và kế thừa tư tưởng về vai trò quyết định tạo ra năng lực cạnh tranh của nguồn lực trong doanh nghiệp Bốn yếu tố vô hình tạo nên năng lực của doanh nghiệp (thỏa mãn tiêu chí VRIN) được xem xét ở đây bao gồm: (1) năng lực marketing, (2) năng lực sáng tạo, (3) định hướng kinh doanh, và (4) định hướng học hỏi Tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan thuyết năng lực có thể thấy năng lực của DN được cấu thành bằng nhiều yếu tố thành phần, trong đó có thể khái quát thành 4 nhân tốnhư bảng 3.1 Mỗi nhân tốđo lường năng lực cũng được cụ thể thông qua các đo lường tương ứng
Trong đó năng lực sáng tạo nói lên khả năng của doanh nghiệp đề xuất quá trình sản xuất mới, sản phẩm mới hay là những ý tưởng mới nhằm làm tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Damanpour, 1991) Năng lực sáng tạo là phương tiện làm thay đổi doanh nghiệp - là phương tiện để đạt được những cải tiến và phát minh cho doanh nghiệp - vì nó nói lên sự mong muốn của doanh nghiệp khắc phục những lề lối, thói quen không còn phù hợp trong kinh doanh và theo đuổi những ý tưởng kinh doanh sáng tạo, phù hợp với yêu cầu cạnh tranh (Hult và ctv., 2004; Menguc và Auh, 2006) Điều này có thể do phản ứng lại với thay đổi của môi trường bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp, hoặc là tiên phong để dẫn đầu thị trường Khi môi trường kinh doanh thay đổi, doanh nghiệp phải tạo ra những thay đổi có năng lực sáng tạo để đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường và làm tăng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Hult và ctv.,
2004; Porter, 1990) Định hướng học hỏi của doanh nghiệp cũng là một nhân tố được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Định hướng học hỏi nói lên các hoạt động của tổ chức nhằm tạo ra tri thức và ứng dụng chúng trong hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Sinkula và ctv., 1997) Định hướng kinh doanh là một dạng năng lực động cơ bản của doanh nghiệp vì nó giúp gia tăng khả năng chủ động và quyết tâm của doanh nghiệp để theo đuổi mục tiêu của mình và sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong kinh doanh Vì vậy, doanh nghiệp có định hướng kinh doanh cao luôn luôn kích thích quá trình tạo ra tri thức và sử dụng tri thức cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Zahra và ctv.,1999) Quá trình này luôn gắn liền với quá trình học hỏi và từ bỏ những tri thức không còn phù hợp để giúp doanh nghiệp có năng lực phản ứng lại với những thay đổi của thịtrường và tạo nên lợi thế cạnh tranh cho mình
Năng lực marketing là dạng năng lực động giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình Khi năng lực marketing cao, các chương trình marketing của doanh nghiệp thực hiện sẽ có hiệu quả hơn thông qua phản ứng nhanh nhạy với nhu cầu khách hàng, đối thủ cạnh tranh và môi trường vĩ mô và tạo được mối quan hệ có chất lượng với đối tác kinh doanh Năng lực này sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt những thay đổi của thị trường và từ đó sẽ có những thay đổi về sản phẩm, dịch vụ phù hợp để đáp ứng lại với thay đổi này
Các đo lường được phân tích bảng 3.1 được nghiên cứu và áp dụng trên các DN nói chung mà chưa có sự kiểm chứng hay phân tích thực nghiệm trong lĩnh vực xuất khẩu trong ngành thủy hải sản
Bảng 3.1: Đo lường các nhóm năng lực theo thuyết CBV
Các năng lực Nhóm đo lường các năng lực Nguồn Năng lực sáng tạo
- Luôn nhấn mạnh đến nghiên cứu và phát triển
- Đã đưa ra nhiều sản phẩm và dịch vụ mới trong ba năm vừa qua
- Thay đổi sản phẩm/dịch vụ mới luôn đem lại kết quả tốt đẹp
Hult và ctv., (2004) Định hướng học hỏi
- Xem việc học hỏi là chìa khóa giúp cho công ty tồn tại và phát triển
- Xem việc học hỏi của nhân viên là đầu tư của công ty chứ không phải là chi phí
- Luôn động viên, khuyến khích ứng dụng kiến thức và ý tưởng mới vào công việc
Celuch và ctv., (2002); Menguc và Auh (2006); Nguyen và Barrett (2006); Nguyen và ctv., (2006); Nguyen và Barrett
+ Thường xuyên tiếp xúc với khách hàng để hiểu biết nhu cầu của họ về sản phẩm/dịch vụ mới
+ Hiểu biết rất rõ về nhu cầu khách hàng của mình
+ Thường xuyên sử dụng nghiên cứu thịtrường để thu thập thông tin về khách hàng
+ Các phòng chức năng thường xuyên chia sẽ và thảo luận với nhau về nhu cầu khách hàng
+ Phản ứng nhanh nhạy với những gì quan trọng xảy đến cho khách hàng
+ Nhanh chóng thực hiện các kế hoạch liên quan đến khách hàng
+ Điều chỉnh ngay các hoạt động phục vụ khách hàng nếu chúng không đem lại hiệu quả
+ Phản ứng nhanh chóng với những thay đổi (nhu cầu, sở thích) của khách hàng
- Phản ứng với đối thủ cạnh tranh
+ Thường xuyên thu thập thông tin vềđối thủ cạnh tranh
+ Thông tin vềđối thủ cạnh tranh luôn được trao đổi và thảo luận bởi các phòng chức năng
+ Thường xuyên phân tích các thông tin vềđối thủ cạnh tranh
+ Thông tin vềđối thủ cạnh tranh luôn được xem xét kỹlưỡng khi ra quyết định kinh doanh
+ Hiểu biết rõ ràng vềđiểm mạnh và yếu của đối thủ cạnh tranh
+ Hiểu biết rõ ràng về sản phẩm/dịch vụ của đối thủ cạnh tranh
+ Phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi quan trọng của đối thủ cạnh tranh
+ Nhanh chóng thực hiện các kế hoạch liên quan đến đối thủ cạnh tranh
+ Luôn điều chỉnh các hoạt động liên quan đến đối thủ cạnh tranh khi chúng không có hiệu quả
- Thích ứng với môi trường vĩ mô
+ Thường xuyên thu thập thông tin vềmôi trường vĩ mô (luật pháp, thuế, biến động kinh tế, vv)
+ Thường xuyên phân tích các thông tin vềmôi trường vĩ mô
+ Thông tin vềmôi trường vĩ mô luôn được trao đổi và thảo luận bởi các phòng chức năng
+ Thông tin vềmôi trường vĩ mô luôn được xem xét kỹlưỡng khi ra quyết định kinh doanh
+ Phản ứng nhanh nhạy với những thay đổi quan trọng của môi trường vĩ mô
+ Nhanh chóng thực hiện các kế hoạch kinh doanh liên quan đến sự thay đổi môi trường vĩ mô
+ Luôn điều chỉnh các hoạt động kinh doanh liên quan đến sự thay đổi môi trường vĩ mô
Yeniyurt và ctv (2005); Cyert và March (1992)
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với các đại lý phân phối
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với nhà cung
+ Đã thiết lập được mối quan hệ tốt với các cấp chính quyền
Nguyen Thi Mai Trang và ctv., (2004); Nguyen Thi Mai Trang và ctv., (2007) Định hướng kinh doanh
+ Luôn kiên định trong tấn công đối thủ cạnh tranh
+ Luôn đưa ra sản phẩm/dịch vụ mới trước đối thủ cạnh tranh
+ Luôn đứng ở vị trí tấn công đối thủ cạnh tranh
Covin và Slevin (1991); Narver và Slater (1990); Keh và ctv.,
+ Thích tham gia các dự án kinh doanh nhiều rủi ro nhưng có cơ hội thu lợi nhuận cao
Covin và Slevin (1991); Keh và ctv., (2007)
+ Chấp nhận những thử thách của thịtrường đểđạt được mục tiêu kinh doanh
+ Luôn mạo hiểm để tận dụng được những cơ hội kinh doanh
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Tổng hợp lý thuyết nghiên cứu về năng lực cạnh tranh đã được trình bày ở chương 2 cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và kết quả hoạt động của khẩu của các DN xuất khẩu thủy hải sản khác nhau và đa dạng Mặt khác đối tượng nghiên cứu của luận án này là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
NLCT của DN xuất khẩu thủy hải sản và các nhân tốảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu (trong đó nhân tố NLCT giữ vai trò trung gian) của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và nền kinh tế gặp khó khăn do đại dịch covid -19 và lĩnh vực thủy hải sản cần có những yêu cầu nâng cao NLCT của DN Do vậy, để tránh những nhận định chủ quan, nghiên cứu này tiến hành thảo luận với các chuyên gia là những người am hiểu về lĩnh vực thủy hải sản và các nhà quản trị đang trực tiếp làm việc tại các
DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL, nhằm: (1) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và tác động của các nhân tố đến kế quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản như thế nào, (2) Khám phá và xây dựng thang đo cho các thành phần của mô hình nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là để khám phá, điều chỉnh và bổ sung mô hình nghiên cứu đề xuất, xây dựng thang đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu, ứng dụng cho một lĩnh vực đặc thù là các
DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL - Việt Nam
Thảo luận nhóm chuyên gia là một trong các công cụ thích hợp cho các chương trình nghiên cứu này Nhóm chuyên gia là những người am hiểu về hoạt động kinh doanh và am hiểu cả về lý thuyết cạnh tranh và NLCT Do vậy, những nhà quản trị DN xuất khẩu thủy hải sản và các nhà nghiên cứu đang làm việc tại vùng ĐBSCL là những người vừa am hiểu về lý thuyết và thực tiễn hoạt động kinh doanh tại các DN xuất khẩu thủy hải sản được mời để tham dự quá trình thảo luận Cách thức tiến hành được thông qua thảo luận trực tiếp hoặc gián tiếp giữa tác giả với lãnh đạo các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL vào tháng 03-04 năm 2019 Theo trình tự đặt câu hỏi và làm rõ bằng hình thức phỏng vấn sâu, đặt câu hỏi mở trên cơ sở lý thuyết của mỗi thành phần Trong nghiên cứu này, 27 chuyên gia (phụ lục 1 và 3) tham gia thảo luận nhằm xem xét và phát hiện mới về mô hình nghiên cứu và thang đo của các thành phần trong mô hình nghiên cứu Cuộc thảo luận được thực hiện nhằm làm sáng tỏ các vấn đề cụ thể sau:
- Khái niệm năng lực cạnh tranh của donh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của donh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
- Tác động của NLCT đến kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu thủy hải sản
- Khám phá các tiêu chí đo lường NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu của DN
3.3.3 Kết quả nghiên cứu định tính
Theo cách tiếp cận trên, nghiên cứu đã tiến hành thực hiện nghiên cứu định tính trên nhóm 27 chuyên gia Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng (3.2)
Kết quả bảng 3.2 cho thấy phần lớn các chuyên gia đều cho rằng NLCT của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL còn tương đối thấp và bị chi phối bởi nhiều yếu tố từ bên trong đến bên ngoài, trong đó các chuyên gia đề cao vai trò của đạo đức và trách nhiệm xã hội trong việc nâng cao NLCT của DN
Bảng 3.2: Tổng quan về NLCT của các DN xuất khẩu thủy hải sản
TT Vấn đề nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
1 Khái niệm NLCT Khảnăng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn; Khả năng chiếm lĩnh thị trường; Khả năng bán sản phẩm hiệu quả hơn đối thủ
2 Phạm vi áp dụng Toàn ngành thủy hải sản và có thể giới hạn xem xét trong lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản
3 Nhận định NLCT của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
- Còn yếu nhiều mặt: Sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, pháp luật nước ngoài, thiếu tầm nhìn dài hạn
- Bị ảnh hưởng nguồn nguyên liệu: Khi quá dư thừa, khi thì thiếu; một số cơ sở không tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, trình độ cơ sở nuôi còn hạn chế
- Nguồn vốn gặp khó khăn
- Đầu tư đánh bắt xa bờ còn hạn chế
- Cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp
- Chủ động tìm kiếm thị trường còn yếu
- Kỹ năng đánh giá thị trường trong nước và nước ngoài không cao
- Ứng dụng công nghệ của một số doanh nghiệp chưa ưu tiên
- Gặp khó khăn về chất lượng, rào cản kỹ thuật của các nước phát triển
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
- Bên ngoài: Nhân tố sản xuất, các điều kiện về cầu, chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh của
DN, các ngành công nghiệp hỗ trợ có liên quan, vai trò của chính phủ và chính quyền địa phương
- Bên trong: Năng lực Marketing, định hướng kinh doanh, năng lực sáng tạo, năng lực tổ chức dịch vụ, danh tiếng doanh nghiệp, nhân lực có trình độ và kỹ năng, kiểm soát hiệu quả nguyên liệu, áp dụng công nghệ tiên tiến…
- Nhu cầu của thị trường, khách hàng, các đòi hỏi và điều kiện nhập khẩu của nước nhập khẩu
- Thiếu kiểm soát chất lượng nguồn nguyên liệu, thiếu chủ động nguồn nguyên liệu, bị ép giá nguyên liệu
- Quy mô, vốn và công nghệ của các DN trong nước cũng như ngoài nước
- Cạnh tranh từ nhóm sản phẩm thay thế
5 Đạo đức và trách nhiệm xã hội đối với năng lực cạnh tranh của donh nghiệp
- Phải được xem là một nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
- Đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới, trở thành một yêu cầu “mềm” đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
- Các nước nhập khẩu ngày càng quan tâm đúng mức về quy trình sản xuất chế biến phải đảm bảo yêu cầu chuẩn mực đạo đức và bảo vệ môi trường
- Người tiêu dùng cuối cùng cũng sử dụng yếu tố này như một tiêu chí quan trọng trong việc lựa chọn sản phẩm
6 Năng lực cạnh tranh ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
Mối quan hệ tỉ lệ thuận với kết quả hoạt động kinh doanh Tuy nhiên kết quả hoạt động xuất khẩu sẽ đo lường chính xác hơn kết quả hoạt động kinh doanh trong trường hợp tập trung xem xét hoạt động xuất khẩu Vì vậy nên xem xét mối quan hệ của NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu thay vì kết quả hoạt động kinh doanh
7 Kết quả xuất khẩu đo lường kết quả kinh doanh
- Nên sử dụng kết quả xuất khẩu để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
- Thị trường tiêu thụ thủy hải sản phát triển mạnh là xuất khẩu Vì vậy, cần quan tâm sử dụng kết quả xuất khẩu để đo lường kết quả hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản
- Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản chuyên về lĩnh vực xuất khẩu thì kết quả của hoạt động xuất khẩu là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
8 Năng lực cạnh tranh ảnh hưởng thế nào đến kết quả xuất khẩu
Nhiều DN xuất khẩu thủy hải sản có NLCT khá mạnh đã phát triển vượt bậc và trở thành những tập đoàn mạnh của ngành thủy hải sản của quốc gia
9 Các nhân tố ảnh hưởng kết quả hoạt động xuất khẩu
Năng lực cạnh tranh, Thương hiệu của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh phù hợp, tầm nhìn chiến lược của ban quản lý, quy mô và vị thế của
DN trên thị trường, DN càng sở hữu nhiều thế mạnh càng tăng kết quả hoạt động xuất khẩu
Nguồn: Nghiên cứu định tính 27 chuyên gia, 2019
Tất cả chuyên gia đều đồng tình NLCT ảnh hưởng mạnh đến kết quả kinh doanh Tuy nhiên khá nhiều quan điểm cho rằng, đối với các DN xuất khẩu thủy hải sản thì kết quả kinh doanh có thể được đo lường bằng kết quả hoạt động xuất khẩu Theo đó, kết quả hoạt động xuất khẩu được cho rằng có thể lượng hóa chính xác cho việc đo lường hiệu quả hoạt động của DN trong bối cảnh này
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ U
3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu này được lấy từ các nguồn như niên giám thống kê quốc gia, từ Bộ Thủy sản Việt Nam, từ các tổ chức hiệp hội thủy sản Việt Nam, các báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch Đầu tư,
Cục thống kê các tỉnh vùng ĐBSCL và các đơn vị tỉnh và địa phương có liên quan,… Đồng thời thu thập các thông tin từ các website, báo, tạp chí liên quan đến nội dung nghiên cứu, các nhận định đánh giá của chuyên gia, các đề án nghiên cứu trước đây
Thông qua phương pháp khảo sát trực tiếp và gián tiếp các đối tượng là cấp quản lý (giám đốc hay phó giám đốc, trưởng phòng kinh doanh) tại các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL Vì mục tiêu nghiên cứu hướng đến phân tích mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu nên các DN được khảo sát phải thỏa điều kiện có hoạt động xuất khẩu Các DN được tiếp cận dựa trên danh sách các DN đáp ứng đủ điều kiện xuất khẩu của các thị trường như EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Brazil, Những đối tượng trên ngoài việc cung cấp một số thông tin liên quan đến DN và hoạt động của DN, cũng sẽ cho biết quan điểm của họ về các vấn đề có liên quan để đo lường các khái niệm trong mô hình nghiên cứu đề xuất Các tiêu chí được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ, với 1 là rất không đồng ý, đến 5 là rất đồng ý
Vì đối tượng thực hiện khảo sát là quản lý của doanh nghiệp nên khả năng tiếp cận thấp, vì vậy nghiên cứu vận dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo kiểu chọn mẫu hạn mức Với phương pháp này có thể giúp nghiên cứu thu được cỡ mẫu theo kỳ vọng nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy cao vì phân bổ các nhóm mẫu theo cơ cấu của vùng địa giới, các biến động dữ liệu của các doanh nghiệp trên cùng phạm vi một tỉnh thành không cao Ngoài ra vì đối tượng tiến hành khảo sát là các doanh nghiệp nên khả năng tiếp cận rất khó, vì vậy sau khi phân tầng theo tỉnh thành, nghiên cứu tiến hành chọn mẫu thuận tiện Theo lý thuyết thì phương pháp chọn mẫu này không đảm bảo độ tin cậy cao như phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, tuy nhiên vì DN rất khó tiếp cận nên chọn mẫu hạn mức sẽ giảm thời gian và chi phí trong việc thu mẫu
Bên cạnh đó, cỡ mẫu của nghiên cứu được xác định tương đối lớn vì mô hình được xây dựng có 48 biến nên để đảm bảo các phương pháp xử lý số liệu có thể thực hiện tốt thì cỡ mẫu phải >= 5* số biến vì đây là độ lớn cỡ mẫu phù hợp cho nghiên cứu có sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (Hoàng và Chu, 2008;
Hair và ctv., 2010), tức cỡ mẫu cần đạt phải lớn hơn 5*48$0 Để đảm bảo tốt cho việc xử lý số liệu, nghiên cứu xác định cỡ mẫu là 300 quan sát Việc thu thập
300 quan sát này mặc dù bằng phương pháp hạn mức nhưng vẫn đảo bảo độ tin cậy cao của dữ liệu phân tích bởi theo thống kê của VASEP cho đến đầu năm
2019 cả nước có gần 800 DN đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu thủy hải sản, trong đó, có khoảng 400 DN thuộc khu vực ĐBSCL (VASEP (2019) ; Cục quản lý chất lượng Nông lâm thủy sản (2021)) Có thể thấy, cỡ mẫu thu được gần với tổng thể nghiên cứu cho nên độ tin cậy của dữ liệu phân tích là đảm bảo
Phương pháp chọn mẫu hạn mức theo tỷ lệ phân bổ trên tiêu thức phân tầng là tỉnh thành được xác định theo bảng 5.1a (chương 5) với tiêu chí lựa chọn các DN trong chọn mẫu phải là các DN trong danh sách các DN đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu thủy hải sản như đã nêu trên
- Thiết kế bảng câu hỏi
Một bảng câu hỏi được xây dựng bao gồm ba phần đó là tình hình chung về hoạt động chế biến và tiêu thụ của các DN thủy hải sản vùng ĐBSCL, biến nghiên cứu chính và thông tin của DN Bảng câu hỏi được thiết kế qua 3 bước bao gồm (1) thực hiện nghiên cứu định tính từ các chuyên gia để xác định các biến của mô hình; (2) thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành điều tra thử để kiểm tra thang đo của các biến đo lường, đồng thời kiểm tra tính thực tiễn của các thông tin được thiết kế; (3) điều chỉnh bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát
- Đối tượng khảo sát Để đáp ứng thông tin yêu cầu cho nghiên cứu, đối tượng điều tra là lãnh đạo của các DN xuất khẩu thủy hải sản (đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu theo danh sách của Cục quản lý chất lượng NLTS cung cấp) vùng ĐBSCL Mặt khác, lãnh đạo các DN xuất khẩu thủy hải sản là người am hiểu tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của DN mình quản lý Do vậy lãnh đạo các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL là đối tượng có thể cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho nghiên cứu
- Phương pháp và thời gian khảo sát Để đảm bảo tỷ lệ hồi đáp cao, quá trình điều tra thông qua mối quan hệ của bản thân và các giảng viên đồng nghiệp đã, đang công tác tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Cần Thơ, được sự hỗ trợ quý báu từ một số quý thầy cô khoa Kinh tế, trường Đại học Cần Thơ đã giới thiệu và liên hệ trước với đối tượng điều tra nhằm gửi phiếu điều tra trước khi đến trao đổi và thu hồi phiếu Ngoài ra, các học viên, sinh viên (đang làm việc tại các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL) cũng tham gia thực hiện công tác gửi và thu hồi phiếu khảo sát Trước khi điều tra, các điều tra viên đã được hướng dẫn và giải thích mục đích, yêu cầu và hướng dẫn cần thiết về quá trình điều tra nhằm đảm bảo kết quả thu được là khách quan và có độ tin cậy Sau đó, các điều tra viên sẽ đến tận nơi để gửi và thu hồi phiếu khảo sát
Phương pháp điều tra bằng cách gửi và nhận phiếu khảo sát đến lãnh đạo các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
Quá trình điều tra nghiên cứu chính thức được thực hiện trong khoảng thời gian từ 03/2019 đến 12/2019 Với 314 phiếu khảo sát phát ra đã thu về được 300 phiếu trả lời ứng với tỷ lệ 95,59% Trong số 300 phiếu thu về có 05 phiếu bị loại do đáp viên để ô trống Kết quả có 295 phiếu hợp lệ được sử dụng làm dữ liệu cho nghiên cứu này Tỷ lệ hồi đáp cao là nhờ có mối quan hệ quen biết và gọi điện thoại trước, sau đóđến trực tiếp phát phiếu và thu phiếu khảo sát
3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu
Những phương pháp phân tích chủ yếu được sử dụng trong luận án: Để làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh cũng như kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tần số giúp khái quát bức tranh chung về vấn đề nghiên cứu Để xác định và đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT và kết quả hoạt động xuất khẩu, nghiên cứu sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM Để thực hiện mô hình này, nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân tích gồm:
3.4.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha Độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua hệ số Cronbach’s Alpha Việc đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha trước khi phân tích nhân tố EFA để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các yếu tố giả (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ của các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau Công thức tính hệ số Cronbach’s Alpha theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) là: α = Nρ/[1+ρ(N-1)]
XÂY D Ự NG VÀ PHÁT TRI ỂN THANG ĐO
3.5.1 Phương pháp xây dựng thang đo
Theo Creswell (2003), trong nghiên cứu khoa học có 3 cách để có thang đo sử dụng trong nghiên cứu: (1) Sử dụng thang đo đã có - sử dụng nguyên thang đo do các nhà nghiên cứu trước xây dựng; (2) Sử dụng thang đo đã có nhưng có bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với không gian nghiên cứu và (3) Xây dựng thang đo hoàn toàn mới
Từ cơ sở lý thuyết trong chương 2 đã xây dựng được 6 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL bao gồm: 5 yếu tố từ mô hình năm áp lực cạnh tranh và nhân tố mới là đạo đức và trách nhiệm xã hội của DN và 4 nhân tố ảnh hưởng đến kết quả xuất khẩu của các DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL bao gồm: NLCT; Năng lực quản lý của DN; Chiến lược marketing xuất khẩu và Đặc điểm và khả năng của DN Các khái niệm được phát triển và điều chỉnh thang đo thông qua quá trình thảo luận với chuyên gia là những người làm việc và nghiên cứu trong lĩnh vực DN xuất khẩu thủy hải sản, lĩnh vực kinh tế nhằm xác định và xây dựng các biến quan sát cho từng khái niệm, từ đó phát triển bản câu hỏi để thực hiện thu thập dữ liệu sơ bộ Cách thức tiến hành thông qua thảo luận trực tiếp theo trình tự đặt câu hỏi và làm rõ bằng cách phỏng vấn sâu, đặt câu hỏi mở trên cơ sở lý thuyết của mỗi thành phần nhằm xem xét và phát hiện mới về thang đo của các thành phần trong mô hình nghiên cứu
Trên nền tảng các thực thể trong mô hình của thuyết năng lực (CBV), kết hợp với mục tiêu của nghiên cứu có thể giới hạn lại mô hình nghiên cứu sẽ tiến hành nghiên cứu NLCT làm yếu tố trung gian, trong đó NLCT ảnh hưởng đến kết quả hoạt động xuất khẩu Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ trên cơ sở nền tảng của mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT áp dụng cho nhóm các DN xuất khẩu thủy hải sản tại khu vực ĐBSCL Tuy nhiên như đã phân tích trên, hiện tại các nghiên cứu có liên quan đến phạm vi này còn rời rạc, nên nghiên cứu này sẽ tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu và các thang đo lường cho các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
Kế thừa các nghiên cứu trước và ý kiến thảo luận của chuyên gia, nghiên cứu này xây dựng biến đo lường sự thành công của DN chính là kết quả hoạt động xuất khẩu dựa trên đánh giá của mỗi DN theo mức độ đạt được và hài lòng với mục tiêu của DN Để tạo ra được kết quả xuất khẩu này là sự tác động từ các yếu tố xuất phát từ bên trong DN bao gồm các nguồn lực, khả năng, kể cả năng lực quản lý hay khả năng thực hiện các chiến lược Vì tiếp cận theo quan điểm năng lực nên nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhân tố bên trong DN mà không phân tích trong mối tương quan với các nhân tố bên ngoài khi xem xét các nhân tốtác động đến kết quả hoạt động xuất khẩu
Thông qua ý kiến chuyên gia, các tài liệu lược khảo, việc tham khảo các đo lường cho các nhóm nhân tố, nghiên cứu đã xây dựng bộ tiêu chí đo lường cho các nhân tố, trải qua điều tra thử để đánh giá độ tin cậy thang đo, các đo lường được xác định lại theo trình bày như sau
3.5.2.1 Thang đo nhóm năm áp lự c c ạ nh tranh theo mô hình Porter
Theo phân tích trên cho thấy các nhân tố thuộc năm áp lực cạnh tranh của mô hình Porter đã được chứng minh cả về lý thuyết và thực nghiệm về khả năng ảnh hưởng đến NLCT của DN Tuy nhiên các nghiên cứu khác nhau có các đo lường khác nhau cho cả năm nhân tố này Mặc dù vậy, thì nhìn chung vẫn có một điểm chung là đều dựa vào các tiêu chí đã xây dựng sẵn từ nghiên cứu của Pecotich và ctv., (1999) Đến năm 2004, Pecotich và ctv cũng áp dụng lại bộđo lường này cho một nghiên cứu thực nghiệm khác để chứng minh mối quan hệ thuận chiều giữa năm áp lực theo mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter với NLCT của DN Ở cả hai nghiên cứu này, các tiêu chí đo lường cho năm nhân tố đều được xây dựng theo hướng nhìn nhận của DN về các vấn đề xung quanh có liên quan mô hình như về mức độ cạnh tranh của ngành, về khả năng gia nhập ngành của đối thủ, sự đe dọa từ các sản phẩm thay thế hay về nhóm các nhà cung ứng và khách hàng họ tác động đến DN Khi tiếp cận đo lường theo hướng này, các DN được khảo sát đòi hỏi phải có một quan sát rất rộng để nhìn thấy trên tất cả các phương diện của thị trường Ngược lại với hướng đo lường này, một số các nghiên cứu như Ostrom (2009), Yusuf và Trondsen (2014), Safari và ctv.,
(2015) đã xây dựng các đo lường cho các nhân tố thuộc mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter theo hướng khả năng Các tác giả này cho rằng một DN khi được khảo sát nếu họ trả lời về khả năng của mình thì dễ tiếp cận hơn để họ đánh giá về các vấn đề không thuộc về tầm kiểm soát của DN họ Vì vậy, mặc dù vẫn trên nền tảng của năm áp lực cạnh tranh nhưng các đo lường ở đây đã được biến thành khả năng kiểm soát các áp lực cạnh tranh theo mô hình của Porter Các tiêu chí đo lường này được trình bày trong bảng 3.7
Bảng 3.7 Thang đo bằng khả năng kiểm soát năm áp lực cạnh tranh
Thành phần Biến quan sát Nguồn
Nhóm 5 áp lực cạnh tranh –Đo lường bằng khảnăng kiểm soát 5 áp lực
Khả năng kiểm soát cạnh tranh của ngành
[CTN1] Có chiến lược cạnh tranh hiệu quả so với đối thủ
[CTN2] Có lợi thếchi phí và đa dạng sản phẩm [CTN3] Có khả năng tối ưu các nguồn lực [CTN4] Khả năng đáp ứng các yêu cầu, quy định và tiêu chuẩn mới
(2009) Yusuf và Trondsen (2014); Safari và ctv., (2015)
Khả năng kiểm soát cạnh tranh tiềm năng
[CTT1] Khả năng ngăn chặn gia nhập ngành bằng thương hiệu
[CTT2] Khả năng thích ứng tốt với xu hướng thị trường
[CTT3] Có nhiều lợi thế hơn so với đối thủ tiềm năng
[CTT4] Khảnăng vốn đáp ứng nhu cầu tăng trưởng
(2009) Yusuf và Trondsen (2014); Safari và ctv., (2015)
Khả năng kiểm soát áp lực nhà cung ứng
[NCU1] Có lợi khả năng kiểm soát đầu vào và nhà cung cấp thay thế
[NCU2] Có lợi thế trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu bền vững
[NCU3] Có lợi thế tiếp cận thông tin người bán và mạng lưới nhà cung ứng
[NCU4] Có khả năng kiểm soát chất lượng nguồn cung ứng
(2009) Yusuf và Trondsen (2014); Safari và ctv., (2015)
Khả năng kiểm soát áp lực người mua
[NGM1] Có số lượng khách hàng và đơn hàng lớn và ổn định [NGM2] Có khả năng tiếp cận thông tin người mua và thị trường tiêu thụ [NGM3] Có khả năng tiếp cận trực tiếp thị trường
(2009) cuối cùng [NGM4] Có khả năng kiểm soát kênh phân phối Yusuf và Trondsen
Khả năng kiểm soát áp lực sản phẩm thay thế
[SPT1] Khả năng cung cấp đa dạng các phân khúc thị trường
[SPT2] Có chiến lược đổi mới chống lại sản phẩm thay thế
[SPT3] Khả năng cung cấp sản phẩm với giá cả cạnh tranh so sản phẩm thay thế
[SPT4] Có chiến lược bảo vệ sản phẩm của DN so sản phẩm thay thế
(2009) Yusuf và Trondsen (2014); Safari và ctv., (2015)
Nguồn: Tổng hợp và thảo luận ý kiến chuyên gia, 2019
3.5.2.2 Thang đo đạo đứ c và trách nhi ệ m xã h ộ i (XH)
Vilanova và ctv., (2009) đo lường nhân tố này bằng việc chú trọng áp dụng các chuẩn mực để đảm bảo không gây tác hại đến môi trường trong quy trình sản xuất và chế biến Porter và Kramer (2006) cũng sử dụng các đo lường liên quan đến việc hạn chế các tác động đến môi trường Ngoài ra thì có nghiên cứu cũng xây dựng tiêu chí đo lường cho nhân tố này bao gồm tính minh bạch thông tin, các chuẩn quản lý để thể hiện đạo đức và trách nhiệm với người lao động cũng như khách hàng (Juholin, 2004) Vận dụng và kế thừa các nghiên cứu trước đây và kết hợp cả đạo đức và trách nhiệm xã hội, nhóm nhân tố này được xây dựng bao gồm các tiêu chí như bảng 3.8
Trên cơ sở này, nghiên cứu hình thành giả thuyết Đạo đức và trách nhiệm xã hội sẽ ảnh hưởng làm tăng năng lực cạnh tranh của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL Các biến dùng để đo lường cho nhân tố này được trình bày bảng 3.8
Bảng 3.8 Thang đo đạo đức và trách nhiệm xã hội
Thành phần Biến quan sát Nguồn Đạo đức và trách nhiệm xã hội
[TNX1] Chú trọng yếu tố môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh
[TNX2] Quan tâm đến vấn đề an toàn và sức khỏe cho người lao động
[TNX3] Thể hiện trách nhiệm giải trình và minh bạch về hoạt động
[TNX4] Chú trọng kiểm soát đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng [TNX5] Kiểm soát đảm bảo an toàn nguồn nguyên liệu sản xuất
Nguồn: Tổng hợp và thảo luận ý kiến chuyên gia
3.3.2.3 Thang đo năng lự c c ạ nh tranh
Như đã phân tích trên, có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh, nghiên cứu này sử dụng khái niệm năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao của DN Lý do của việc sử dụng định nghĩa này vì đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay và phù hợp với cách tiếp cận của thuyết năng lực, theo đó năng lực cạnh tranh là năng lực tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ tốt và hiệu quả hơn so với đối thủ nhằm hướng tới mục tiêu lợi nhuận Guan và ctv., (2006) tin rằng NLCT bao gồm nhiều yếu tố như lãnh đạo, chi phí, lợi thế giá trị khách hàng, quản lý thời gian hiệu quả và lợi thế của sự đổi mới Một công ty có NLCT tốt trên thị trường có thể sản xuất và bán sản phẩm với giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh (Rojaka, 2009) NLCT bao gồm các khả năng cho phép tổ chức để phân biệt chính nó với các đối thủ cạnh tranh và NLCT có được thông qua việc ra quyết định của nhà quản lý Hai trong số các NLCT có thể được sở hữu bởi một công ty là chi phí thấp và sự khác biệt Mặt khác, Salloum (2013) đã kết luận rằng các môi trường kinh doanh khác nhau sẽ làm thay đổi các nhân tố dùng để đo lường NLCT của DN Karima và ctv.,
(2008) đã so sánh và chứng minh các đo lường cho NLCT ở các quốc gia khác nhau thì không hoàn toàn giống nhau Cũng chính vì vậy thang đo lường của nhân tố NLCT trong nghiên cứu này ít nhiều không đồng nhất với các nghiên cứu trước đây mà sẽ được xây dựng thay đổi theo yếu tố thị trường và lĩnh vực xuất khẩu thủy hải sản theo định hướng thị trường (bảng 3.10) Các yếu tố đo lường này thực chất đã được xem xét trong thuyết nguồn lực ở Bảng 3.9, cái khác ở đây là nghiên cứu này chọn lọc, biến đổi và tách bạch các đo lường tập trung vào năng lực cạnh tranh và thể hiện rõ hơn vai trò của NLCT trong lý thuyết năng lực, điều này cũng kỳ vọng khắc phục được hạn chế của các nghiên cứu theo thuyết năng lực trước đây khi vô tình đồng nhất NLCT vào năng lực marketing của DN
Nếu như các nghiên cứu trên là để tìm hiểu về NLCT trên nhiều khía cạnh khác nhau từ các cách thức đo lường, cho đến các quan điểm đo lường trên từng quốc gia khác nhau thì Han và ctv., (2007) lại tập trung vào nghiên cứu các mối quan hệ nhân quả của NLCT và cho rằng kết quả hoạt động xuất khẩu sẽ tăng nếu công ty có NLCT mạnh hơn thông qua cải tiến các nhân tố có thể tác động đến năng lực này Đến năm 2017 nghiên cứu của Famiyeh đã chứng minh mối quan hệ của năng lực cạnh tranh và kết quả hoạt động xuất khẩu Tuy nhiên những nghiên cứu chuyên sâu theo hướng này còn khá hạn chế trong ngành xuất khẩu thủy hải sản mặc dù mối quan hệ giữa NLCT và kết quả hoạt động của DN đã được cộng nhận và chứng minh trong các nghiên cứu trước đây cũng như trong mô hình lý thuyết của thuyết CBV Đây chính là cơ sở hình thành giả thuyết cho nghiên cứu NLCT tác động cùng chiều đến kết quả hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu thủy hải sản vùng ĐBSCL
Bảng 3.9 Thang đo năng lực cạnh tranh
Thành phần Biến quan sát Nguồn
[CT1] Cung cấp sản phẩm phù hợp với yêu cầu của khách hàng
[CT2] Cung cấp sản phẩm với chi phí thấp [CT3] Cung cấp sản phẩm với thiết kế mới nhất so với đối thủ