(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp(Luận văn thạc sĩ) Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
Trang 1MÃ SỐ: 8760101
BÌNH DƯƠNG - 2019
Trang 2MÃ SỐ: 8760101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN ĐỨC LỘC
BÌNH DƯƠNG - 2019
Trang 3ii
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa
học của PGS TS Nguyễn Đức Lộc Các số liệu, những kết luận được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả luận văn
Trần Chí Nhân
Trang 4iii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, hướng dẫn, giảng dạy của các thầy cô và sự giúp đỡ của nhiều tổ chức, cá nhân
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô phòng Sau đại học và các thầy cô
đã tham gia giảng dạy chương trình cao học ngành Công tác xã hội tại trường Đại học Thủ Dầu Một
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các anh chị cán bộ ấp,
xã Bình Tấn và thầy cô trường THCS Bình Tấn, đặc biệt là phụ huynh và các
em học sinh đã cung cấp những thông tin hữu ích trong đề tài này
Xin được chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đức Lộc đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẽ và ý kiến đóng góp quý báo của Quý thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Chí Nhân
Trang 5
iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục vi
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình viii
Danh mục biểu đồ viii
Tóm tắt luận văn ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Câu hỏi nghiên cứu 4
7 Giả thuyết nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 5
9 Kết cấu luận văn 6
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI HỌC SINH SỐNG XA CHA MẸ 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
1.2 Lý thuyết ứng ụng trong can thiệp 17
1.2.1 Lý thuyết hệ thống 18
1.2.2 Lý thuyết can thiệp khủng hoảng 19
1.3 Những khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài 20
1.3.1 Các khái niệm liên quan đến trẻ em 20
Trang 6v
1.3.2 Khái niệm công tác xã hội 22
1.3.3 Khái niệm công tác xã hội nhóm 23
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ sống xa cha mẹ 23
1.4.1 Đặc điểm sinh lý 24
1.4.2 Đặc điểm tâm lý 24
1.4.3 Đặc điểm hoạt động nhận thức 26
Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 29
2.1.1 Sơ lược về xã Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp 29
2.1.2 Trường Trung học cơ sở Bình Tấn 31
2.2 Thực trạng đời sống hộ gia đình học sinh sống xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp 32
2.2.1 Đặc điểm nhân khẩu và các khía cạnh đời sống hộ gia đình 33
2.2.2 Đặc điểm HS sống xa cha mẹ tại trường THCS Bình Tấn 37
2.2.3 Đặc điểm học tập và đời sống của HS cấp II bỏ học tại xã Bình Tấn 47
Chương 3: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI HỌC SINH SỐNG XA CHA MẸ TẠI TRƯỜNG THCS BÌNH TẤN, HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP………55
3.1 Lý do áp dụng tiến trình Công tác xã hội nhóm với HS sống xa cha mẹ 55
3.2 Tiến trình Công tác xã hội nhóm 59
3.2.1 Quá trình chuẩn bị và thành lập nhóm 59
3.2.2 Quá trình triển khai hoạt động nhóm 64
3.2.3 Quá trình can thiệp Công tác xã hội nhóm 68
3.2.4 Kết thúc tiến trình can thiệp, chuyển giao nhóm 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 93
PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT 93
Trang 7vi
PHỤ LỤC 2: BỘ CÔNG CỤ PHỎNG VẤN SÂU 98
PHỤ LỤC 3: BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 102
PHỤ LỤC 4: KẾ HOẠCH THỰC HIỆN TIẾN TRÌNH NHÓM 136
PHỤ LỤC 5: MÔ TẢ MỘT SỐ BUỔI SINH HOẠT NHÓM 139
PHỤ LỤC 6: CAM KẾT ĐỒNG THUẬN 157
PHỤ LỤC 7: HỒ SƠ THÂN CHỦ 158
PHỤ LỤC 8: NHỮNG THAY ĐỔI CỦA THÂN CHỦ SAU TIẾN TRÌNH CAN THIỆP NHÓM 165
PHỤ LỤC 9: MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG 168
Trang 8vii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả học tập phân theo học vấn và kinh tế hộ 38
Bảng 2.2: Tình trạng học vấn và thời điểm bỏ học 48
Bảng 2.3: Lý do bỏ học phân theo kinh tế hộ và di cư của cha mẹ 49
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1 Sơ đồ tương tác của nhóm thân chủ 63
Hình 3.2 Cây vấn đề liên quan đến khó khăn trong học tập của nhóm thân chủ 71
Hình 3.3 Sơ đồ nhóm thân chủ tham gia thảo luận tập trung 72
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Trình độ học vấn của phụ huynh học sinh 34
Biểu đồ 2.2 Tình trạng sức khỏe của hộ gia đình 37
Biểu đồ 2.3 Những khó khăn trong năm học 2017-2018 40
Biểu đồ 2.4 Hiện trạng khó khăn và cách giải quyết 41
Biểu đồ 2.5 Những khó khăn trong năm học 2018-2019 41
Biểu đồ 2.6 Tình trạng hôn nhân của cha mẹ di cư 43
Biểu đồ 2.7 Tần suất gặp gỡ giữa HS bị bỏ lại với cha mẹ di cư 44
Biểu đồ 2.8 Giao tiếp giữa HS bị bỏ lại với cha mẹ di cư 45
Biểu đồ 2.9 Cảm nhận cuộc sống gia đình của HS bị bỏ lại 46
Biểu đồ 2.10 Nguyên nhân bỏ học 50
Trang 10ix
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu 35 em học sinh sống xa cha mẹ (HSSXCM) tại trường THCS Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, tìm hiểu thực trạng đời sống, khó khăn ảnh đến học tập của các em Với mô hình CTXH nhóm, đã tổ chức các hoạt động nâng cao kiến thức, kỹ năng giải quyết khó khăn, tạo môi trường sinh hoạt lành mạnh, kết nối, hỗ trợ giải quyết một phần khó khăn của HSSXCM Kiến nghị tổ chức, cá nhân quan tâm hơn nữa để giúp HSSXCM giảm bớt khó khăn, hòa nhập cuộc sống tốt hơn
Trang 11Tại các vùng nông thôn nước ta, đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), tình trạng di cư cũng đang diễn ra mạnh mẽ, theo tác giả Nguyễn Đức Lộc (2017), có đến 58,3% công nhân xuất thân từ ĐBSCL [20] Theo một số nghiên cứu về vấn đề di cư và nghèo đói của vùng đất này, có nhiều nguyên nhân dẫn đến quyết định xuất cư cũng như những hệ lụy mà quá trình di cư mang đến Trong đó, nguyên nhân được đề cập nhiều nhất là vấn đề nghèo đói do có khó khăn về hoạt động sản xuất như: lũ lụt, hạn hán, mất mùa, hậu quả thường được phân tích ở khía cạnh tạo thiếu sức lao động ở nông thôn, áp lực về môi trường và những bất ổn tiềm ẩn ở các nơi người di cư kéo đến Trên thực tế, ngoài những bất ổn đó, ở một số nghiên cứu hoặc trong các báo cáo, hội nghị về vấn đề giáo dục, trẻ em, một số tác giả cũng đã chỉ ra sự liên kết giữa việc di cư của cha mẹ với vấn đề bỏ học, tai nạn hoặc các rủi ro khác xảy ra với trẻ Tuy nhiên, trong
bối cảnh hiện nay, các nghiên cứu về hoạt động CTXH đối với học sinh sống xa cha mẹ vẫn còn tương đối hạn chế
Trang 122
Bình Tấn là một xã thuần nông, nằm ở vùng sâu của tỉnh Đồng Tháp thuộc khu vực ĐBSCL Trong những năm gần đây, nơi đây đã có nhiều người di cư đến các khu công nghiệp ở TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương để tìm việc làm và họ
để con lại quê nhà cho cha mẹ hoặc người thân chăm sóc, điều này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro với các em Do vậy, các em học sinh trong những gia đình này, ngoài sự giúp đỡ của người thân cần có thêm sự hỗ trợ giúp đỡ từ phía cộng đồng, xã hội, chính quyền địa phương, đặc biệt là nhà trường bởi đây là môi trường quan trọng gắn liền với sự phát triển của các em Chính vì thế, việc tìm
hiểu và thực hiện hoạt động CTXH nhóm với học sinh sống xa cha mẹ sẽ giúp
chúng ta hiểu được những vấn đề trong học tập, đời sống của các em và góp phần giải quyết một số vấn đề mà các em đang gặp phải Đồng thời thông qua kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp phụ huynh học sinh và các nhà quản lý trường học có thêm cơ sở thực tiễn về hoạt động CTXH đối với học sinh sống xa cha mẹ
ở lứa tuổi THCS từ đó xây dựng và phát triển các hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ ở phạm vi rộng hơn, giúp các em học tập và phát triển tốt hơn.
Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm với học sinh sống
xa cha mẹ tại trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng
Tháp” làm nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ CTXH của mình
2 Ý nghĩa nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học
Đề tài mong muốn hướng đến bổ sung, góp phần hoàn thiện cơ sở lý thuyết
nghiên cứu về Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ trong bối cảnh hiện nay thông qua việc nghiên cứu các hoạt động mang tính Công tác xã hội hiện có ở địa phương được thực hiện qua các chủ thể nhà trường và cộng đồng
Trang 13Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về CTXH nhóm đối với vấn đề nghiên cứu học sinh sống xa cha mẹ
- Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động hỗ trợ mang tính CTXH đối với HS sống xa cha mẹ tại Trường THCS Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng tiến trình CTXH nhóm để giải quyết một phần khó khăn trong học tập và đời sống của HS sống xa cha mẹ tại Trường THCS Bình Tấn
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động CTXH nhóm đối với học sinh sống xa cha mẹ
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: trong đề tài này, chúng tôi xác định Công tác xã hội
nhóm đối với học sinh sống xa cha mẹ là đối tượng nghiên cứu chính
- Khách thể nghiên cứu: dựa trên tình hình thực tế, chúng tôi xác định các khách
thể nghiên cứu chính của luận văn này bao gồm ba cấp độ chính:
+ Nhóm học sinh sống và những người trong gia đình của các em, bao gồm các
em HS sống xa cha mẹ tại Trường THCS Bình Tấn, phụ huynh học sinh và học sinh cấp II đã bỏ học trong thời gian ba năm trở lại
+ Cấp độ trường học gồm: cán bộ quản lý, giáo viên phụ trách công tác Đoàn – Đội của trường, đại diện Hội Cha mẹ học sinh
+ Đồng thời, ở cấp độ cộng đồng mà cụ thể là các cá nhân có hiểu biết, liên quan đến vấn đề của HS và đời sống của gia đình các em này gồm: cán bộ UBND xã, cán bộ bảo vệ chăm sóc trẻ em của xã Bình Tấn, Hội khuyến học và cán bộ ấp
Trang 144
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng các
hoạt động mang tính CTXH đối với HS sống xa cha mẹ
- Phạm vi thời gian: đề tài giới hạn phạm nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay,
đặc biệt từ năm 2018 đến 7/2019 Sở dĩ tác giả xác định thời điểm từ năm 2018 đến nay là vì thời điểm này gắn với hiện tượng di cư đi làm ăn xa và tình trạng học tập của trẻ ở các gia đình có người đi làm ăn xa suy giảm, nguy cơ bỏ học cao
- Phạm vi khách thể và địa bàn khảo sát: nghiên cứu tiến hành chủ yếu tại trường
THCS Bình Tấn và 03 ấp trên địa bàn xã Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng đời sống và hoạt động học tập của HS sống xa cha mẹ tại xã Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp hiện nay ra sao?
- Các hoạt động hỗ trợ mang tính CTXH tại trường THCS Bình Tấn đối với HS sống xa cha mẹ đang diễn ra như thế nào?
- Những giải pháp, mô hình CTXH nào góp phần hỗ trợ, giải quyết những khó khăn trong hoạt động học tập và đời sống của HS sống xa cha mẹ?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Sự thiếu vắng cha mẹ đã góp phần làm gia tăng khó khăn đối với các em HS
sống xa cha mẹ, đặc biệt là trong hoạt động học tập và trong đời sống hàng ngày
- Các hoạt động mang tính CTXH với vai trò tạo ra những thuận lợi để hỗ trợ học tập và đời sống của HS sống xa cha mẹ vẫn còn một số hạn chế
- Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, những khó khăn trong học tập và đời sống đã làm gia tăng nguy cơ bỏ học đối với các em học sinh sống xa cha mẹ
- Trong bối cảnh hiện nay, các hoạt động mang tính CTXH tại trường THCS Bình Tấn nếu được tổ chức, sắp xếp lại có thể giải quyết các khó khăn trong học tập và đời sống của HS sống xa cha mẹ nói riêng và HS nói chung
Trang 15dữ liệu cơ bản để làm cơ sở lý luận cho đề tài
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Với nhóm phương pháp này, các công cụ được sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin là: khảo sát bằng bảng câu hỏi, thảo luận nhóm với các em HS sống xa cha mẹ, kết hợp với phỏng vấn sâu PHHS và HS đã bỏ học, cùng với phỏng vấn sâu đại diện chính quyền địa phương và nhà trường Bên cạnh đó, phương pháp quan sát cũng được sử dụng để thu thập thông tin về cơ sở vật chất, trường lớp, khu vui chơi giải trí, và các hoạt động mang tính CTXH liên quan đến đề tài
- Trong nghiên cứu định lượng: công cụ điều tra bằng bảng hỏi sẽ được sử dụng
để tập hợp thông tin nhằm tăng tính đầy đủ, chính xác và khách quan của đề tài Trong đó, khách thể chính được lựa chọn cho hình thức khảo sát này là các em
HS đang học tại trường THCS Bình Tấn có cha mẹ đi làm ăn xa nhà
- Cách chọn mẫu để điều tra bằng bảng hỏi: trong quá trình tìm hiểu thông tin từ
các cán bộ địa phương và BGH trường THCS Bình Tấn, chúng tôi đã thu thập
được một số đặc điểm dân cư như sau: “toàn xã có 2.181 hộ,…đi làm ăn xa thường là đi Bình Dương tập trung nhiều nhất ở ấp 3, lý do là họ ở cụm tuyến dân cư, không nghề nghiệp, không đất sản xuất,…nên phải đi làm công nhân để kiếm sống” (trích PVS CB01, cán bộ UBND xã) và “toàn ấp có hơn 160 hộ là bỏ
Trang 166
địa phương, đi làm ăn xa” (PVS CB03) Các em này phân bố ngẫu nhiên ở các
lớp học, không theo quy luật nào, do vậy chúng tôi xác định chọn mẫu theo cách phân tần phi xác suất, kết quả đã tập hợp được 35 em tham gia vào nghiên cứu, tương ứng 9,62% trên tổng số 364 HS của trường THCS Bình Tấn
- Nghiên cứu định tính: được tiến hành bằng cách phỏng vấn sâu các khách thể
có liên quan đến vấn đề, bao gồm: 22 HS đã bỏ học, 15 cha mẹ di cư lao động, 01 cán bộ đại diện UBND xã, 01 các bộ Hội khuyến học của xã, 02 cán bộ ấp, 01 đại diện BGH trường THCS Bình Tấn, 01 đại diện Hội CMHS
- Ngoài ra, các dữ liệu định lượng thu thập được trong nghiên cứu này sẽ được
phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS và Excel Dữ liệu định tính sẽ được xử lý,
mã hóa ý chính trong các câu trả lời và thống kê, phân tích và trình bày
8.3 Phương pháp thực nghiệm/can thiệp cộng đồng
Phương pháp này được tiến hành dựa trên mô hình nhóm giáo dục với 10
em HS sống xa cha mẹ Mục đích của phương pháp này nhằm tạo ra môi trường tương tác bình đẳng giữa các thành viên trong nhóm để các em có điều kiện sáng
tỏ những khó khăn trong đời sống và học tập, đồng thời giúp các em chia sẽ, học hỏi một số kỹ năng nhằm giải quyết những khó khăn trên Bên cạnh đó, thông qua quá trình thực hiện CTXH nhóm với các em, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm để làm cơ sở đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động CTXH nhóm với HS sống xa cha mẹ
9 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết về công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ
Nội dung chính của chương này sẽ tập trung điểm lược các nghiên cứu đi trước có liên cũng như làm rõ các lý thuyết và những khái niệm chính quan đến
Trang 177
đề tài Bên cạnh đó, các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em sống xa cha mẹ cũng sẽ được tác giả nhận diện và mô tả một cách chi tiết
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các kết quả của quá trình nghiên cứu, từ đặc điểm địa bàn nghiên cứu và đời sống hộ gia đình di cư lao động có con đang học tại trường THCS Bình Tấn cho đến đặc điểm của các em HS trong các gia đình này và HS bỏ học cũng được phân tích để làm cơ sở đánh giá khó khăn, nhu cầu và những hoạt động mang tính CTXH đối với các em này
Chương 3: Tiến trình Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ tại trường THCS Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
Tiến trình can thiệp CTXH nhóm với thân chủ và các kết quả đạt được sẽ được tác giả mô tả chi tiết ở chương này cùng với việc đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH nhóm với HS sống xa cha mẹ tại trường THCS Bình Tấn
Trang 188
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NHÓM VỚI HỌC SINH SỐNG XA CHA MẸ
Ngay khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã xác định các khái niệm và các vấn đề có liên quan cần phải được nắm rõ để thống nhất quan điểm nghiên cứu thông qua việc thao tác hóa các khái niệm chính yếu Trước hết, xin được trình bày về tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tiếp theo là các lý thuyết chính được áp dụng trong can thiệp Kế đến là các khái niệm chính liên quan đến công tác xã hội nhóm và học sinh sống xa cha mẹ, sau cùng là đặc điểm tâm sinh lý của trẻ sống xa cha mẹ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ngay từ những ngày đầu xây dựng đất nước, Đảng và Bác Hồ đã xác định giáo dục con người là nhiệm vụ trọng tâm trong việc đào tạo và phát triển nhân lực, phục vụ cho mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước Trong thư gửi học
sinh năm 1945, Bác viết “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” [28]
Đặc biệt, từ khi Việt Nam kí kết Công ước quốc tế về quyền trẻ em, vấn đề chăm sóc, giáo dục đối với trẻ ngày càng được quan tâm mạnh mẽ, thu hút sự vào cuộc của nhiều lĩnh vực khoa học Để có cái nhìn tổng quan về các quan điểm nghiên cứu liên quan đến đề tài này, tôi xin điểm lược lại các nghiên cứu về di cư, học sinh bỏ học, trẻ em sống xa cha mẹ, và CTXH nhóm như là những vấn đề then chốt làm nền tảng lí luận cho đề tài này
Vấn đề di cư trong mối tương quan với học sinh sống xa cha mẹ
Theo Tổng cục thống kê (2016) nhận định: di cư nội địa có vai trò quan trọng tới biến động dân số và có quan hệ chặt chẽ với vấn đề phát triển kinh tế -
xã hội - môi trường nhưng các thông tin chuyên sâu về vấn đề này đang còn
Trang 199
tương đối hạn chế (ít) Ngoài cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004, đến nay
chưa có cuộc điều tra nào mang tính đại diện quốc gia để đo các dạng di chuyển của dân số và gắn vấn đề di cư với các điều kiện KT-XH ở nơi đi và nơi đến [36]
Do vậy, trong phần này, tôi xin trình bày một số nghiên cứu sau:
Nghiên cứu về “vấn đề lao động và việc làm vào cuối năm 2017” của Tổng cục thống kê vào cuối năm 2017 cho biết: cả nước có gần 800.4 nghìn lao
động thiếu việc làm và 1,1 triệu lao động thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn là 2,03%, cao hơn gần 3 lần so với thành thị (0,67%), ĐBSCL có
tỷ lệ thiếu việc làm cao nhất (3,60%), bằng 2,3 lần so với tỷ lệ cả nước Để ứng phó với vấn đề trên, nhiều người đã chọn di cư đến các thành phố lớn, nơi có nhiều khu công nghiệp để tìm việc [35] Có thể thấy, các số liệu trên phần nào phản ánh mối liên hệ giữa vấn đề việc làm và di cư lao động ở khu vực ĐBSCL nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng, đồng thời qua đó cũng góp phần giải
thích cho tình trạng ngày càng có nhiều học sinh sống xa cha mẹ ở các gia đình
nông thôn của nước ta hiện nay
Kết quả cuộc điều tra Di cư nội địa năm 2015 đã chỉ ra nhiều phát hiện quan trọng như: Đông Nam Bộ có tỷ lệ người nhập cư cao nhất (29,3%), trong đó 33,9% đến từ ĐBSCL, hơn 50% người di cư phải ở nhà thuê mượn và tỷ lệ nữ di
cư là 52,4% Đáng nói hơn, có đến 17,5% có con ở tuổi đến trường đã cùng di cư, 13,4% con của họ bỏ học với các lý do như nhà nghèo, không thích học, phải đi làm phụ giúp gia đình, chi phí đi học tốn kém và thi trượt/học kém [36] Kết quả trên đã phản ánh tình trạng di cư lao động ở khu vực ĐBSCL (có tỉnh Đồng Tháp) và những vấn đề học tập của con cái họ, trong đó đề cập đến các nguyên nhân bỏ học, chủ yếu là về kinh tế, học yếu và chán học
Nghiên cứu về “Tiếp cận An sinh xã hội của người lao động nhập cư” do
tổ chức ActionAid thực hiện năm 2014 đã cho thấy những khó khăn trong tiếp cận ASXH của người lao động nhập cư và con cái của họ Theo đó, các quyền cơ bản về chăm sóc y tế, đào tạo nghề, giáo dục dành cho người lao động nhập cư và con cái của họ vẫn chưa được chú ý đúng mức Hầu như họ không thể tiếp cận
Trang 2010
các chính sách ASXH về giáo dục tại nơi nhập cư vì thường không có hộ khẩu thường trú [1] Có thể nói, những rào cản trên đã góp phần hạn chế việc học tập của các em HS có cha mẹ di cư, điều này đồng nghĩa với việc các em phải chịu sống xa cha mẹ (ở lại quê nhà) nếu muốn tiếp tục việc học Vấn đề này đã gợi mở cho chính quyền các cấp và nhà quản lý giáo dục cũng như CTXH cần quan tâm đến những khó khăn của họ từ đó thiết kế những mô hình can thiệp phù hợp, vận động chính sách để hỗ trợ cho nhóm trẻ trong các gia đình di cư lao động này
mẹ có trình độ học vấn cao có xu hứng quan tâm nhiều hơn đến việc học của con cái, đặc biệt người mẹ có học vấn càng cao thì tỷ lệ con bỏ học càng thấp [14] Như vậy có thể thấy, tác giả đã chỉ ra tình trạng kinh tế của hộ gia đình, sự ổn định việc làm và trình độ học vấn, quan tâm của cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em Nếu gặp những khó khăn, thiếu hụt trong các vấn đề trên thì trẻ dễ chán học, bỏ học Tuy nhiên, vấn đề di cư ở luận án trên chủ yếu
đề cập nhóm trẻ di cư cùng cha mẹ, chưa nói đến các trẻ em bị bỏ lại
Đề tài “nghiên cứu về nguyên nhân bỏ học của Trẻ em Việt Nam” của Đặng Thị Hải Thơ (2010) đã chỉ ra bốn nhóm nguyên nhân bỏ học của trẻ gồm:
từ gia đình (kinh tế khó khăn, gia đình không hạnh phúc ); từ phía nhà trường (chương trình giáo dục không thiết thực, thiếu hấp dẫn…); từ phía xã hội (di cư ồ
ạt, vai trò của các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội trong vấn đề giáo dục…);
từ bản thân của học sinh (học yếu, không có thời gian học, sức khỏe kém…) [30] Như vậy, tác giả đã chỉ ra vấn đề bỏ học có liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó
Trang 2111
có gia đình không hạnh phúc, di cư, và học yếu, chán học Do vậy, chúng tôi xác định đây sẽ là một trong những điểm chính để theo dõi và thiết kế, thực hiện các hoạt động can thiệp đối với HS sống xa cha mẹ tại địa bàn nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu tình trạng bỏ học của trẻ em tại huyện Hòa Vang- Thành Phố Đà Nẵng” của tác giả Trịnh Thị Tố Trinh (2016) đã nêu ra bốn nhân tố tác động đến tình trạng trẻ em bỏ học gồm: nhân tố gia đình; từ bản thân của trẻ; từ phía nhà trường và nhân tố tự nhiên, xã hội [33] Trong đó tác giả nhấn mạnh gia đình không hạnh phúc (bạo hành, li hôn, li thân…) thì trẻ thường ít có
cơ hội học tập hơn những em khác Đồng thời, sự ít quan tâm của giáo viên chủ nhiệm và chương trình giáo dục ít phù hợp với tâm sinh lý của trẻ, đơn điệu, nghèo nàn ít hoạt động ngoại khóa, cũng được tác giả xem như là một trong những nhân tố làm cho trẻ muốn bỏ học Những phân tích trên của tác giả đã hàm
ý muốn hạn chế tình trạng học sinh bỏ học thì cần phải phát huy được vai trò, chức năng vốn có của gia đình cũng như sự quan tâm của giáo viên đối với các
em và đồng thời cần tăng cường các hoạt động ngoại khóa để giảm bớt sự nhàm chán trong học tập
Các nghiên cứu mang tính công tác xã hội
Luận văn “Công tác xã hội nhóm trong việc giảm thiểu hành vi gây hấn của học sinh Trung học cơ sở- nghiên cứu thực hiện tại trường THCS Trung Chính - Lương Tài - Bắc Ninh” của tác giả Phạm Thị Thanh Thúy (2014) đã chỉ
ra sự hạn chế về số lượng các nghiên cứu, ứng dụng CTXH vào môi trường học đường để giúp học sinh giảm thiểu hành vi tiêu cực Các biện pháp can thiệp chủ yếu dừng lại ở góc độ pháp luật, tâm lý, giáo dục… mà chưa đưa ra biện pháp can thiệp mang tính CTXH [31] Nói cách khác, tác giả đã nói lên sự thiếu hụt về các nghiên cứu, ứng dụng phương pháp CTXH để giải quyết vấn đề gây hấn cũng như những vấn đề thường xảy ra ở lứa tuổi học sinh, đồng thời cũng gián tiếp chỉ
ra sự cần thiết nghiên cứu, phát triển CTXH học đường để giúp đỡ các em
Trang 2212
Luận văn “Công tác xã hội nhóm đối với học sinh nam nghiện game online tại trường Trung học cở Gia Hòa, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình” của tác giả Hoàng Thị Loan (2017) đã góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động CTXH nhóm với các em học sinh THCS trong việc giải quyết vấn đề của các em đang gặp phải (nghiện game online) [19] Bằng những kết quả can thiệp cụ thể, luận văn đã góp phần bổ sung lý luận CTXH nhóm và khẳng định ý nghĩa thực tiễn của ngành CTXH trong việc giải quyết vấn đề của học sinh và xa hơn là góp phần thúc đẩy phát triển CTXH học đường trong bối cảnh hiện nay
Bài viết “Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em mồ côi tại làng trẻ SOS Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Liên (2018) đã góp phần bổ sung về mặt lý luận CTXH nhóm đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn [18] Mặc dù có sự khác biệt đôi chút về hoàn cảnh của các em học sinh trong bài viết này so với các em HS sống xa cha mẹ mà luận văn đang nghiên cứu, tuy nhiên các quy trình can thiệp, giải quyết vấn đề của trẻ thông qua hoạt động CTXH nhóm được nêu trong bài viết này rất hữu ích để chúng tôi tham khảo, thiết kế và triển khai các hoạt động tại địa bàn nghiên cứu
Luận văn “Công tác xã hội với tình trang bỏ học của học sinh dân tộc thiểu
số - nghiên cứu trường hợp tại xã Đăk Jơ Ta, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai”
của tác giả Tạ Thị Điệp (2014) đã cho biết “thực trạng bỏ học của học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng thực chất đã diễn ra trong một thời gian khá dài nhưng hầu như chưa được quan tâm đúng mức… có thể thấy những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa nhiều và chưa thật sự phản ánh một cách chân thật nhất, khái quát nhất” [11] Như vậy, tác giả đã cho thấy sự cần thiết về
các nghiên cứu mang tính chiều sâu và thực tế hơn về vấn đề HS bỏ học để đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần hạn chế HS bỏ học
Bài viết “Vấn đề trẻ em bỏ học sớm và sự cần thiết của công tác xã hội trong hoạt động ngăn ngừa trẻ bỏ học ở nông thôn” của tác giả Tôn Nữ Ái Phương (2011) đã cho rằng các hoạt động của nhà trường như lập: quỹ học bổng
Trang 2313
từ lương giáo viên để hỗ trợ học sinh; vận động các nguồn đóng góp của PHHS
và các quỹ khuyến học của các cơ quan đoàn thể; tranh thủ sự hỗ trợ của quần chúng; tổ chức thăm viếng gia đình; miễn giảm học phí cho học sinh nghèo; phụ đạo dạy kèm… những hoạt động này đều thể hiện tính chất CTXH và góp phần tích cực trong việc ngăn dòng bỏ học và vận động học sinh bỏ học trở lại trường, tuy nhiên hiệu quả không cao và không triệt để [23] Thêm vào đó, tác giả cũng nhấn mạnh cần có sự tham gia của những người được đào tạo chuyên ngành về CTXH mới có thể giúp nhà trường và các thầy cô thực hiện hoạt động ngăn ngừa
bỏ học hiệu quả Nói cách khác, bằng việc nghiên cứu hiệu quả của các hoạt động mang tính CTXH để ngăn ngừa học sinh bỏ học của nhà trường và thầy cô giáo, tác giả đã chỉ ra những hạn chế trong cách làm hiện tại và cho thấy sự cần thiết của nhân viên CTXH chuyên nghiệp tại trường học
Nhìn chung, ở các luận án, luận văn trình vừa bày, các tác giả đã nêu ra những nguyên nhân dẫn bỏ học và đối tượng được nhắm đến là các em đã bỏ học hoặc có nguy cơ bỏ học Những điều này đã góp phần bổ sung về mặt lý luận cho những nghiên cứu liên quan đến vấn đề bỏ học đồng thời cũng chỉ ra sự cần thiết của các hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ, ngăn ngừa học sinh bỏ học Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, những luận văn trên vẫn còn một số điểm chung là đối tượng và phạm vi khảo sát ở mức vừa phải vì thế hiệu quả và những tác động còn ở mức vi mô Đặc biệt, các nghiên cứu về “HS sống xa cha mẹ” vẫn còn rất hạn chế (ít) Do vậy, để có cái nhìn bao quát hơn, chúng tôi nhận thấy cần phải tìm hiểu thêm những nghiên cứu có tính quy mô hơn về phạm vi và số lượng, có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu về “Trẻ em ngoài nhà trường” tại 8 tỉnh (có tỉnh Đồng Tháp) của UNICEF đã chỉ ra một số bất bình đẳng trong giáo dục ở Việt Nam và đưa
ra khái niệm trẻ em ngoài nhà trường (TENNT) mang tính đầy đủ hơn về trẻ em
bỏ học, bao gồm trẻ đã đi học nhưng bỏ học, chưa từng đi học nhưng trong tương lai sẽ đi học hoặc sẽ không bao giờ đi học Kết quả cho biết: TENNT ở độ tuổi THCS có đến 85% đã thôi học và 15% chưa từng đi học, nhiều nhất là từ
Trang 2414
11-14 tuổi (11,17%); trẻ em di cư thường có kết quả kém hơn so với nhóm không di cư, tỷ lệ TENNT ở các gia đình di cư cao hơn các gia đình không di cư 2,4 lần ở độ tuổi THCS; trẻ em gái thường thiệt thòi hơn về cơ hội học tập so với trẻ trai [4] Có thể thấy, vấn đề di cư có liên quan mạnh mẽ đến việc bỏ học của học sinh, nhất là cấp THCS và đồng thời có liên quan đến yếu tố giới Do vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi cũng sẽ quan tâm nhiều hơn đến hai yếu tố trên, nhất là các em học sinh nữ
Cuộc “Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2014”
(MICS) do Tổng cục Thống kê phối hợp với UNICEF thực hiện tại khu vực nông thôn và thành thị của 6 vùng kinh tế (trong đó có ĐBSCL) trên 10.200 hộ Kết quả đã cho thấy, có 6,3% phụ nữ sinh con ở tuổi 15-19 tuổi và 6% trẻ em dưới 5 tuổi bị để cho trẻ khác dưới 10 tuổi trông nom, tỷ lệ lao động trẻ em từ 5-
17 tuổi là 16,4% trong đó 7,8% các em đã làm việc trong các điều kiện nguy hiểm [5] Có thể thấy, các vấn đề: trẻ em gái sinh con sớm, lao động trẻ em, nhất là trong điều kiện nguy hiểm đã ảnh hưởng đến việc học tập và sự phát triển lành mạnh của các em, vì thế rất cần những giải pháp đồng bộ, kịp thời từ nhiều phía để giải quyết và trong đó không thể thiếu sự tham gia của ngành CTXH bởi đây là các đối tượng yếu thế cần được quan tâm và giúp đỡ và hoàn toàn phù hợp với chức năng của ngành CTXH
Đánh giá khảo sát thanh niên Việt Nam (SAVY) được thực hiện vào năm
2003 của Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê thực hiện với 7.584 thanh niên từ 14 -25 tuổi trên 42 tỉnh (có tỉnh Đồng Tháp) đã cho kết quả: tỷ lệ hoàn thành THCS ở khu vực thành thị là 30,7% cao gần 1,5 lần so với nông thôn, tỷ lệ bỏ học cao trong độ tuổi từ 12-16, thường là ở cuối cấp Lý do chính vẫn là “không có đủ tiền học phí hoặc chi phí đi học”, “phải làm việc cho gia đình” và “không có khả năng học tiếp” [10] Có thể thấy, vấn đề bỏ học ở trẻ có sự khác biệt về khu vực,
độ tuổi và lý do chính vẫn là về kinh tế và khả năng học tập của các em Kết quả này cũng ngụ ý các nghiên cứu về HS bỏ học cần quan tâm đến vùng nông thôn, nơi điều kiện kinh tế khó khăn và trong độ tuổi từ 12 đến 16 tuổi
Trang 2515
Dự thảo báo cáo về “Nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người đến
năm 2020” của WorldBank tại hội thảo tham vấn, tổ chức tại Hà Nội cho biết
“sự ổn định của gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ có liên quan đến việc hoàn thành các cấp học ở con họ, đặc biệt là cấp tiểu học và THCS” Bên cạnh
đó, dù không phải là yếu tố quyết định nhưng “các hoạt động phối hợp với cộng đồng, gặp gỡ cha mẹ học sinh tỷ lệ thuận với kết quả học tập của trẻ” [40] Như
vậy, báo cáo trên cho thấy cần có sự quan tâm đồng bộ từ gia đình, nhà trường, cộng đồng để giúp cho vấn đề giáo dục ngày càng phát tiển hơn, trong đó trước tiên là giảm thiểu vấn đề học sinh bỏ học
Các nghiên cứu về trẻ em sống xa cha mẹ
Báo cáo “Đánh giá phối hợp ngành 2013-2014, lĩnh vực giáo dục tiểu học” của Bộ GD-ĐT phối hợp với UNESCO cho biết: vai trò của phụ huynh và những người nuôi dưỡng trẻ em là nhân tố quyết định chính đến kết quả học tập của trẻ hơn các yếu tố khác như trường, lớp, chất lượng của giáo dục và động cơ học tập Song trên thực tế, tại các địa bàn nghiên cứu có đến 40% phụ huynh làm việc xa nhà và trẻ được ông bà nuôi dưỡng, cô chú bác và thậm chí là anh chị Trình độ văn hóa, khả năng hỗ trợ trẻ hoàn thành bài tập về nhà của cha mẹ hoặc người chăm sóc cũng là nhân tố quyết định chính đến kết quả học tập của trẻ [5] Nghiên cứu trên đã chỉ ra vấn đề then chốt để giúp trẻ học tốt là vai trò của phụ huynh và khả năng hỗ trợ con cái học tập Tuy nhiên, đây cũng là những thử thách vì có liên quan mật thiết đến việc làm và học vấn của PHHS,
mà để giải quyết tốt các vấn đề này thì đòi hỏi cần nhiều chính sách ở tầm vĩ
mô, trong khi đó vấn đề nghèo đói, bỏ học thì đang hiện hữu
Nghiên cứu về “Tác động của cha mẹ đi làm ăn xa đến Trẻ em bị bỏ lại ở nông thôn châu Á”, tác giả cho biết, cha mẹ đi làm ăn xa nhà sẽ có tác động
đến: (1) việc học tập của trẻ như: tỷ lệ trẻ em của gia đình có cha mẹ di cư làm
ăn xa được đi học thấp hơn so với nhóm trẻ có bố mẹ không di cư… (2) đời sống tâm lý của trẻ: Cha mẹ đi làm ăn xa cũng khiến việc thực hiện chức năng
Trang 2616
hàng ngày của trẻ như ăn uống, vệ sinh, an toàn bị đe dọa… người mẹ đi làm
ăn xa thì trẻ sẽ gặp nhiều vấn đề hơn so với bố đi làm ăn xa” [21] Những phát
hiện của tác giả đã góp phần để chúng tôi xác định, tiến hành các hoạt động can thiệp CTXH với các em HS sống xa cha mẹ, trong đó cần tập trung đến hai khía cạnh chính là học tập và đời sống của các em
Luận văn “thích ứng tâm lý của trẻ em có cha mẹ đi làm xa nhà” của tác giả Lê Văn Thịnh đã điểm lượt một số nghiên cứu về “trẻ em bị bỏ lại” ở một số nơi trên thế giới Trong đó, tác giả dẫn luận nhiều nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa di cư lao động của cha mẹ và kết quả học tập của con cái họ, thường là thấp hơn so với trẻ sống cùng cha mẹ, đồng thời cho thấy mức độ khiêm tốn về số lượng của các nghiên cứu về “trẻ em bị bỏ lại” trong bối cảnh Việt Nam, đa phần các nghiên cứu nhắm đến bản thân của người xuất cư và những khó khăn trong
đời sống của họ [29] Có thể thấy, tác giả ngụ ý rằng các nghiên cứu về trẻ em bị
bỏ lại ở nước ta cần được quan tâm hơn, nhất là vấn đề học tập và đời sống bởi
hoạt động chủ đạo của các em ở giai đoạn này là học tập
Nghiên cứu về “Tác động của ngành may mặc và giày dép đến Trẻ em Việt Nam” của UNICEF (2015) cho biết: 80% lực lượng lao động may mặc là người nhập cư, trong đó 15%-20% gửi con sống cùng người thân, thường là ông
bà, vì thế sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái cũng bị ảnh hưởng Các em thường
dễ bị bệnh, dễ bị tác động bởi những tiêu cực về tâm lý và tình cảm, dễ giảm sút năng lực học tập và dễ bị phân biệt đối xử, xao nhãng, xâm hại và bóc lộc Trong khi đó, những người sống cùng với trẻ cũng thường không được trang bị tốt kỹ năng nuôi dạy trẻ [38] Như vậy, hai ngành trên cũng đã góp phần làm gia tăng
“trẻ em bị bỏ lại” mà theo như một số nghiên cứu thì những em này tiềm ẩn
nhiều rủi ro hơn các em ở cùng cha mẹ Do vậy, việc nghiên cứu, tổ chức sinh hoạt bằng kỹ năng CTXH nhóm đối với các em này là phù hợp và rất cần thiết
Ở một nghiên cứu khác về “Các ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn
cảnh khó khăn”, tác giả đã cho biết: “các em ưu tiên số một cho bạn bè, kế đến là
Trang 2717
cha mẹ, sau đó mới đến những nhóm khác” và đồng thời “do có nhiều bạn bè nên các em dành nhiều thời gian giao tiếp nên việc học tập ít nhiều cũng bị ảnh hưởng và thậm chí sao nhãng” Một số trường hợp khác, các em có thể lơ là, mất
hứng thú, dần dần chán học và thậm chí là bỏ học [13] Như vậy, về cơ bản nhóm trẻ vị thành niên thường có nhiều khó khăn nhất là trong việc học Đối với các em
HS sống xa cha mẹ trong nghiên cứu này, các em đang bước vào tuổi vị thành niên nên rất dễ rơi vào những khó khăn như trên, từ đó rất cần sự quan tâm giúp
HS sống xa cha mẹ, trên cơ sở đó ứng dụng tiến trình CTXH nhóm nhằm giúp nhóm đối tượng này có thêm kiến thức, kỹ năng để giải quyết những khó khăn trong học tập và đời sống, đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động CTXH nhóm với HS sống xa cha mẹ
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp
Theo Hiệp hội Nhân viên CTXH Mỹ, CTXH là một chuyên ngành để giúp
đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu
đó [15] Như vậy có thể thấy, lĩnh vực hoạt động và đối tượng trợ giúp của CTXH rất đa dạng, vì thế việc sử dụng, lồng ghép kiến thức đa ngành vào giải quyết vấn
đề của thân chủ (theo nghĩa rộng) là điều cần thiết Trong giới hạn đề tài này, tác giả vận dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết can thiệp khủng hoảng để tiếp cận, giải quyết vấn đề nghiên cứu một cách xuyên suốt
Trang 2818
1.2.1 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết này được khởi xướng bởi Ludving Von Bertanffy từ những năm 1930-1940 và được nghiên cứu, phát triển sau đó Theo đó Talcott Hanson cho rằng các hệ thống xã hội là các hệ thống mở với các quá trình trao đổi phức tạp với các hệ thống môi trường xung quanh và được phân hóa cấu trúc thành nhiều tiểu hệ thống mà mỗi tiểu hệ thống đó là một hệ thống mở thực hiện chức năng nhất định trong quá trình liên tục trao đổi với các tiểu hệ thống xung quanh của một hệ thống lớn hơn Do các yêu cầu chức năng nhất định mà hệ thống bị phân hóa cấu trúc thành các tiểu hệ thống hay các thành phần của hệ thống mà mỗi thành phần thực hiện một chức năng nhất định và mỗi thành phần đó có mối quan
hệ nhất định với các thành phần khác [12]
Từ quan điểm trên, trong nghiên cứu này, lý thuyết hệ thống được vận dụng
để hiểu: hoạt động CTXH nhóm với HS sống xa cha mẹ như là một hệ thống mà muốn thực hiện tốt vai trò thì cần có sự tương tác với các hệ thống khác như gia đình và cộng đồng Bên cạnh đó, các em đều tồn tại trong một vài hệ thống chính thức như: trường học, bệnh viện, các tổ chức hội, đoàn…và không chính thức như nhóm bạn bè, hàng xóm Mỗi hệ thống đều có những chức năng nhất định, khi tác động theo hướng tích cực thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các em phát triển và ngược lại thì sẽ gây ra những hạn chế, trong trường hợp này các em có thể gặp nhiều khó khăn, lâu ngày có thể dẫn đến chán học, bỏ học, tham gia tệ nạn xã hội
Do vậy, các em HS sống xa cha mẹ trong nghiên cứu này được xem xét như hệ thống thân chủ đặt trong mối quan tâm như: các em đang tham gia hoặc chưa được tiếp cận hệ thống nào? Tương quan hệ giữa các hệ thống ra sao, có chồng lấn hay xung đột không? Hệ thống nào cần thiết nhưng trẻ đang bị thiếu hụt và nguyên nhân nào gây ra sự thiếu hụt đó? Đặc biệt hơn, mối tương quan giữa hệ thống thân chủ và các hoạt động CTXH với nhóm HS sống xa cha mẹ tại trường THCS Bình Tấn sẽ được làm rõ trong suốt quá trình nghiên cứu, đồng thời cũng nhắm đến việc tìm kiếm những giải pháp mang tính CTXH nhằm gia tăng mối quan hệ giữa hai hệ thống trên để giải quyết những khó khăn trong học tập và đời sống của các em
Trang 2919
1.2.2 Lý thuyết Can thiệp khủng hoảng
Tiêu biểu cho lý thuyết này là Naomi Golan với tác phẩm nổi tiếng
“Treatment Crisis in Situations” xuất bản 1978 Theo đó tác giả cho rằng bất kì một cá nhân, nhóm hay tổ chức nào cũng có những khủng hoảng nhất định nảy sinh từ những giai đoạn, sự kiện mang tính bước ngoặt trong quá trình tồn tại Các sự kiện này tác động tới sự cân bằng của mỗi cá nhân, nhóm, tổ chức và gây
ra trạng thái thương tổn, được thể hiện bằng sự căng thẳng và áp lực của họ phải gánh chịu Đồng thời, nhiệm vụ của NVXH là giúp thân chủ tìm ra giải pháp để giải quyết hiệu quả khủng hoảng trong khoảng thời gian từ 6 đến 8 tuần [24] Lý thuyết trên vô cùng hữu ích trong việc ứng dụng để can thiệp đối với nhóm HS sống xa cha mẹ nếu như các em gặp các khủng hoảng như: khủng hoảng tuổi dậy thì, khủng hoảng trong học tập hoặc khủng hoảng trong thời gian đầu do phải việc sống xa cha mẹ
Theo sách Công tác xã hội đại cương do Lê Hải Thanh chủ biên: “Khủng hoảng là một tình trạng nguy khốn xảy ra, thường vượt quá khả năng đối phó của nạn nhân Nếu không được giúp đỡ, khủng hoảng có thể gây ra những hậu quả trầm trọng vệ tâm lý, tư tưởng, khả năng ứng xử và cuộc sống của con người”
Đồng thời khủng hoảng xảy ra không quá sáu đến tám tuần, sau thời gian này các hậu quả tiêu cực của nó giảm dần Tùy theo cường độ lúc xảy ra, khủng hoảng có thể để lại những di chứng lâu dài (có khi suốt đời) cho nạn nhân Để can thiệp hiệu quả, nhân viên xã hội cần thu thập thông tin từ thân chủ và những người khác để hiểu rõ khủng hoảng thân chủ đang gặp phải và để giúp thân chủ vận động tài nguyên nhanh chóng [27]
Trên cơ sở lý thuyết này, với vai trò là người nghiên cứu cũng như thực hiện CTXH nhóm với HS sống xa cha mẹ, tác giả sẽ giúp các em có cái nhìn thấu đáo về những khó khăn mà các em đang gặp, đồng thời vận dụng những kiến thức, kỹ năng CTXH nhằm giúp các em tăng cường năng lực để vượt qua một số khó khăn hiện tại và có thể đối phó những khủng hoảng trong tương lai
Trang 3020
1.3 Những khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh Công tác xã hội còn là một ngành khá trẻ ở Việt Nam, các nghiên cứu của những tác giả đi trước đã đóng góp đáng kể vào hệ thống lý luận của ngành CTXH Tuy nhiên, trong xu thế phát triển, nhiều vấn đề mới luôn được nảy sinh và một số khái niệm nhiều lúc vẫn còn đan xen trong từng cách tiếp cận
Do vậy, trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày một số khái niệm có liên quan để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, đồng thời góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận của ngành CTXH trong bối cảnh hiện nay
1.3.1 Các khái niệm liên quan đến Trẻ em
- Trẻ em: mặc dù khái niệm trẻ em đã trở nên rất quen thuộc, tuy nhiên
chúng tôi cũng xin được trình bày lại khái niệm này dựa trên một số văn bản Luật
của Việt Nam và Công ước Quốc Tế về quyền trẻ em như sau:
+ Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em nêu rõ: trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn + Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “trẻ em là người dưới 16 tuổi” (điều 1), trẻ có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện (điều 16) và quyền được sống chung với cha, mẹ (điều 22)
+ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 nêu rõ: cha mẹ, người giám hộ là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ; khi gặp khó khăn không giải quyết được, có thể yêu cầu và được cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ (điều 24) Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; học hết chương trình phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ theo học cao hơn (điều 28)
- Học sinh: theo Luật giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2014, giáo dục phổ
thông được chia thành giai đoạn cơ bản gồm cấp tiểu học, THCS và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp là cấp THPT Cấp THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín, tuổi của học sinh vào học lớp 6 là 11
tuổi và được tính theo năm (điều 27) Điều 78 của luật này quy định “người học”
là người đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm: a) Trẻ em của cơ sở giáo dục mầm non; b) Học sinh của cơ sở giáo dục phổ
Trang 3121
thông, lớp đào tạo nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp,
trường dự bị đại học Do vậy, khái niệm học sinh được dùng để chỉ những người học ở các cấp học phổ thông hoặc các trường trung cấp, trong khi khái niệm trẻ
em có nội hàm rộng hơn, bao gồm trẻ dưới 18 tuổi (luật quốc tế) và dưới 16 tuổi
(luật Việt Nam), điều này bao gồm trẻ dưới 6 tuổi và trẻ em ngoài nhà trường
- Trẻ có cha mẹ đi làm ăn xa: theo tác giả Lê Văn Thịnh (2016), khái niệm
này được một số tác giả dùng để chỉ những em có độ tuổi dưới 18, có bố hoặc mẹ
(hoặc cả hai) đi làm ăn xa ở thành phố hoặc sang hẳn 1 nước/vùng lãnh thổ khác với thời gian từ 6 tháng trở lên [29] Trong khi đó, tác giả Nguyễn Văn Lượt
(2016), sử dụng khái niệm Trẻ em bị bỏ lại (left-behind children) là thuật ngữ do
các nhà khoa học Trung Quốc đề xuất vào cuối thập niên 80 của thế kỷ XX) cũng
để nói về nhóm trẻ này [21]
- Bố mẹ đi làm ăn xa: đồng tình với một số tác giả đi trước, Lê Văn Thịnh
(2016) cũng dùng khái niệm này để chỉ những ông bố, bà mẹ phải rời quê hương, nơi đang cư trú thường xuyên để đi làm việc ở 1 tỉnh, thành phố khác hoặc sang
hẳn một nước, có thời gian đi làm ăn xa từ 6 tháng trở lên
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm cha mẹ đi làm ăn xa để
chỉ những cha mẹ của các em học sinh trường THCS Bình Tấn, đang sống ở nơi khác (ít nhất là khác huyện) từ 6 tháng trở lên Đồng thời, để thuận tiện cho việc
trình bày, đôi khi khái niệm cha mẹ đi làm ăn xa nhà cũng được thay thế bằng
“cha mẹ di cư” với ý nghĩa tương tự
Bên cạnh đó, mặc dù có một vài điểm khác biệt về nội hàm giữa hai khái
niệm “trẻ em” và “học sinh” nhưng chúng tôi sử dụng hai khái niệm này với ý nghĩa như nhau bởi lẽ độ tuổi của học sinh trong nghiên cứu này là từ 11 đến dưới 16 tuổi, nghĩa là các em này cũng đang còn trong độ tuổi trẻ em và vấn đề đang được đề cập của các trẻ em này đang nằm trong mối tương quan với hoạt động học tập Tương tự như vậy, khái niệm “trẻ sống xa cha mẹ” hoặc “trẻ em bị
bỏ lại” cũng có thể được thay thế bằng “học sinh sống xa cha mẹ” hoặc “học sinh bị bỏ lại” để nhằm đề cập đến các em học sinh đang học tại trường THCS Bình Tấn có cha mẹ đi làm ăn xa nhà từ 6 tháng trở lên
Trang 3222
1.3.2 Khái niệm Công tác xã hội
Công tác xã hội mặc dù mới phát triển ở nước ta trong giai đoạn gần đây, tuy nhiên đã phát triển rất sớm ở một số nước trên thế giới, theo nhóm tác giả của
quyển sách Công tác xã hội đại cương thì:“Ra đời từ các xã hội công nghiệp ở châu Âu và Bắc Mỹ vào nửa cuối thế kỷ 19 và phát triển với tốc độ rất nhanh trong thế kỷ 20, CTXH ngày nay tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Công tác xã hội vừa là một khoa học, vừa là một nghề nghiệp chuyên môn của thế giới hiện đại” [27] Cũng theo nhóm tác giả, tại Hội nghị Liên đoàn quốc tế
nhân viên CTXH, các chuyên gia đưa ra định nghĩa: Công tác xã hộị chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong các mới quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội”
Theo định nghĩa quốc tế về CTXH được chấp thuận bởi 82 quốc gia thành
viên của Hiệp hội CTXH quốc tế “Công tác xã hội có vai trò thúc đẩy trong xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người và trao quyền, giải phóng của con người để có cuộc sống hạnh phúc hơn Bằng việc sử dụng các lý thuyết về hành vi con người và môi trường xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những điểm mà con người tương tác với môi trường của họ Nguyên tắc nhân quyền và công bằng xã hội là nền tảng của công tác xã hội” Đến năm 2006, Bộ LĐ TB-
XH cùng đại diện các trường đại học liên quan và UNICEF Việt Nam đã đưa ra
định nghĩa mới phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, có thể được hiểu “Công tác
xã hội là một lĩnh vực thực hành phát triển cao dựa trên những nguyên tắc và phương pháp đặc biệt với mục đích hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc xử lý các vấn đề xã hội – từ đó, công tác xã hội có nhiệm vụ hoạt động vì hạnh phúc của con người và nâng cao phúc lợi xã hội” [9]
Trang 331.3.3 Khái niệm Công tác xã hội nhóm
Theo sách Công tác xã hội đại cương, “CTXH nhóm, trước hết, phải được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH Đây là một tiến trình trợ giúp, trong đó các thành viên hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn” [27]
Xuất phát từ việc đồng tình với quan điểm trên về CTXH nhóm, tác giả nhận thấy việc vận dụng khái niệm này vào hoạt động thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu cần phải xem đây là một phương pháp để làm việc với nhóm HS sống xa cha
mẹ đang gặp một số vấn đề khó khăn và cần sự giúp đỡ để giải quyết Do đó, cần thiết phải tuân thủ tiến trình CTXH nhóm trong suốt quá trình làm việc với các
em, trong đó chú trọng đến việc đánh giá vấn đề khó khăn và thực hiện can thiệp thông sự qua tương tác của các thành viên nhóm để giải quyết vấn đề các em đang gặp phải và đồng thời góp phần tăng năng lực để ứng phó với những khó khăn mới có thể phát sinh Tất cả các hoạt động can thiệp sẽ phải bám sát kiến thức, kỹ năng CTXH nhóm và hướng đến mục đích của nhóm thân chủ
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ sống xa cha mẹ
Hiện nay có khá nhiều quan điểm tiếp cận về vấn đề phát triển tâm sinh lý của trẻ Trên cơ sở kế thừa những tài liệu đáng giá, đội ngũ giảng viên bộ môn Tâm lý học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã biên soạn Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi & Tâm lý học sư phạm, do Nguyễn Thị Tứ chủ biên (2012) để giảng dạy Theo đó, quá trình phát triển con người được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi
Trang 3424
một giai đoạn lứa tuổi được đặc trưng bởi nhiều yếu tố, đó là những đặc điểm về sinh lý, về xã hội, về tâm lý Theo đó, trẻ em từ 11-15 tuổi được xếp vào giai đoạn thiếu niên, độ tuổi này cũng trùng khớp với các em học sinh cấp THCS và nhóm HS sống xa cha mẹ trong đề tài này, với các đặc điểm tâm sinh lý như sau:
em trai rất hiếu động, thích chạy nhảy, thi thố tài năng để thể hiện sức mạnh cơ bắp Một số em phát triển ngoại hình không cân đối nên dẫn đến mất tự tin, sợ bị chế giễu, nhút nhát, ít dám tham gia các hoạt động Những thay đổi nội tiết tố mạnh mẽ làm ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ tim mạch dễ khiến các em hay mỏi mệt, chóng mặt, nhức đầu hoặc hưng phấn phát triển mạnh làm cho các em thường hiếu động, khó làm chủ cảm xúc, dễ xúc động, bực tức, bốc đồng và dễ dẫn đến tình trạng bạo lực học đường Ngoài ra, tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động mạnh và xuất hiện những biểu hiện của sự dậy thì, nữ thường 11, 12 tuổi, nam bắt đầu và kết thúc chậm hơn khoảng 1 đến 2 năm, một số em biết rung động với người khác giới [37]
1.4.2 Đặc điểm tâm lý
nhân cách, tâm lý của họ Do vậy, đặc điểm tâm lý của trẻ ở giai đoạn này cũng
sẽ được thể hiện thông qua các hoạt động, tương tác, giao tiếp với những người xung quanh mà theo Giáo trình Tâm lý học lứa tuổi & Tâm lý học sư phạm [37] thì các đặc điểm này được phản ánh như sau:
Trang 3525
- Giao tiếp với người lớn: sự phát triển mạnh mẽ về thể chất làm xuất hiện ở các
em “cảm giác mình là người lớn” và muốn có lập trường và quan điểm riêng, do vậy, trong gia đình và xã hội, các em muốn được độc lập và không phụ thuộc nhiều vào người lớn Trong giao tiếp các em muốn được đối xử bình đẳng, tôn trọng, tin tưởng và mở rộng quyền hạn cho các em, song lại muốn được người lớn quan tâm, chia sẻ, động viên, định hướng Bên cạnh đó, các em cũng có xu hướng cường điệu hóa những tác động của người lớn, hay suy diễn, chỉ cần người lớn hành xử làm tổn thương chút ít thì các em nghĩ là sự xúc phạm lớn và phản ứng tiêu cực hoặc stress, trầm cảm…
- Giao tiếp với thầy cô: thỉnh thoảng các em có cử chỉ, lời nói nông nổi hoặc ăn
mặc, đi đứng, nói năng khác thường để gây chú ý với bạn bè nhưng đôi khi thầy
cô lại nghĩ là các em thiếu tôn trọng mình hoặc nhìn không được thiện cảm từ đó
dễ nảy sinh mâu thuẫn trong mối quan hệ thầy trò
- Giao tiếp với bạn bè: các em có nhu cầu kết bạn mạnh mẽ vì muốn tách khỏi
người lớn, muốn được đối xử bình đẳng và được thừa nhận, tôn trọng Các em thường coi trọng đánh giá của bạn bè hơn cha mẹ và xem bạn bè là quan hệ riêng, không muốn bị can thiệp Tình bạn của các em dễ trở nên sâu sắc, gắn bó và hình thành những nhóm bạn thân và rất sợ bị bạn bè phê bình, tẩy chay Nhu cầu kết bạn, khát khao tìm kiếm vị trí trong lòng bạn bè sẽ trở thành động cơ chủ đạo trong các hành động, nếu không tìm được vị trí thích hợp các em sẽ khó thích nghi và dễ có hành vi lệch chuẩn Thêm vào đó, do sự dậy thì đã làm cho các em biết rung động, có cảm xúc khác lạ với bạn khác giới, từ đó bắt đầu quan tâm,
thích nhau và chú ý đến vẻ bề ngoài của mình và người khác
- Giao tiếp với các em nhỏ: các em muốn thể hiện tính người lớn của mình bằng
việc chăm sóc, dạy dỗ, nhường nhịn các em nhỏ nhưng thỉnh thoảng tính trẻ con trổi dậy các em lại sẵn sàng chọc ghẹo, bắt nạt các em
Trong khi đó, trên cơ sở đồng tình với các nghiên cứu của một số tác giả trước đó (chủ yếu là ở Trung Quốc), kết hợp với kết quả nghiên cứu thực tiễn
Trang 3626
Việt Nam, tác giả Lê Văn Thịnh (2016) với luận văn nghiên cứu về “Thích ứng tâm lý của trẻ em nông thôn có bố mẹ đi àm ăn xa” đã đi đến một số kết luận về nhóm trẻ này như sau: (1) trẻ có cảm xúc tiêu cực, đặc biệt là cảm giác cô đơn, cụ
thể là “khó khăn về cảm xúc của trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa cao hơn trẻ em ở cùng cha mẹ”; (2) cảm nhận hạnh phúc của trẻ thấp, trong đó nhóm trẻ có cả bố
lẫn mẹ di cư có điểm số về sự hài lòng với cuộc sống thấp hơn so với trẻ ở cùng với cha mẹ và nhóm trẻ chỉ có cha hoặc mẹ di cư, điểm số trầm cảm của các em cũng cao nhất và cảm nhận về hạnh phúc kém nhất so với 2 nhóm còn lại; (3) trẻ thường có điểm tự đánh giá bản thân thấp, sống khép kín, cô lập với mọi người và
có nhiều vấn đề về hành vi, gặp nhiều rào cản trong giao tiếp với bạn bè, sự thể hiện bản thân ở trường học, sự tự tin thấp, ít hạnh phúc Đặc biệt, trẻ em nữ, trẻ
em nhỏ tuổi cũng có điểm số về tự đánh giá bản thân thấp, hay xấu hổ và ít hạnh phúc hơn so với nhóm trẻ nam và nhóm trẻ lớn tuổi; (4) trẻ có các hành vi tiêu
cực, trong đó trẻ có cha di cư có nhiều hành vi nguy hại cho sức khỏe (uống rượu,
hút thuốc ) cao hơn so với nhóm trẻ khác [29] Đồng thời, tác giả Nguyễn Văn Lượt (2016) thông qua việc nghiên cứu các tài liệu về Tác động của cha mẹ đi
làm ăn xa đến “trẻ em bị bỏ lại” ở nông thôn Châu Á, đã đi cho biết “cha mẹ đi làm ăn xa đã khiến việc học tập của trẻ bị giảm sút, thậm chí bị gián đoạn Các vấn đề tâm lý mà các em gặp phải nổi trội nhất là cảm giác cô đơn, tự đánh giá thấp bản thân, không hạnh phúc và có những vấn đề về rối loạn hành vi Cha mẹ
đi làm ăn xa cũng khiến việc thực hiện chức năng sống hàng ngày của trẻ như ăn uống, vệ sinh, an toàn… bị đe dọa… đặc biệt là người mẹ đi làm ăn xa thì trẻ gặp nhiều vấn đề hơn so với bố đi làm ăn xa” [21]
1.4.3 Đặc điểm hoạt động nhận thức
Giai đoạn này, các em chập chững bước vào thế giới của người lớn với nhiều điều mới lạ nên rất thích khám phá, tò mò từ đó hiểu biết tăng lên nhanh chóng Khả năng phân tích, tổng hợp quan sát ghi nhớ phát triển mạnh nhưng còn hạn chế như hấp tấp, vội vàng, thiếu tính hệ thống và đôi khi còn nhầm lẫn (thuộc bài nhưng không hiểu bài) Các em cũng phát triển sự tưởng tưởng và có nhiều
Trang 3727
ước mơ tươi đẹp nhưng còn mang tính viển vông, xa thực tế, một số em thích chơi game, xem phim, đọc truyện,….và có xu hướng "thần tượng hóa” các nhân vật, tưởng tượng mình là các nhân vật trong game, trong truyện, xây dựng cho mình một thế giới “ảo” để thỏa mãn những gì mà thực tế không mang đến Ngoài
ra, ngôn ngữ cũng phát triển mạnh, vốn từ tăng lên một cách rõ rệt, khả năng nói, viết lưu loát hơn, thích nói những từ trào phúng, từ lóng nhưng diễn đạt ý nghĩ đôi khi còn hạn hẹp, dùng từ chưa chính xác, sai chính tả, ngữ pháp [37]
Kế thừa những kết quả nghiên cứu của hai tác giả và nội dung chính của giáo trình trên, tác giả nhận thấy, ở giai đoạn này, trẻ vị thành niên nói chung sẽ
có những chuyển biến mạnh về mặt tâm sinh lý và hoạt động nhận thức mà nguyên nhân chính được bắt nguồn từ quy luật phát triển tự nhiên của cơ thể Những chuyển biến này có tính hai mặt, vừa giúp các em phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết để chuẩn bị cho sự phát triển ở giai đoạn tiếp theo nhưng cũng tạo ra rất nhiều khó khăn, thử thách Đồng thời, những em sống xa cha mẹ thường có thêm những khó khăn trong đời sống hàng ngày và tùy thuộc vào tình trạng di cư của cha mẹ (số người di cư), giới tính của người di cư Tùy vào từng hoàn cảnh mà các em có thể có những khó khăn khác nhau, nhưng thường là cảm giác cô đơn, tự ti, ít hạnh phúc và kèm theo nguy cơ về sự an toàn và sức khỏe
Do vậy, trong giai đoạn này, nếu các em thiếu sự quan tâm, hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn thì các em rất khó vượt qua, một số trường hợp có thể dẫn đến buồn, chán, bỏ học, tham gia vào tệ nạn xã hội, bạo lực hoặc gây hại cho
chính mình và người khác Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy “trẻ em” trong các nghiên cứu được đề cập ở trên đã bao gồm nhóm “HS sống xa cha mẹ” trong
nghiên cứu này, do vậy các em cũng có thể bị chi phối bởi những tác động, khó khăn trên Trên cơ sở đó, tác giả xác định các hoạt động can thiệp với các em này cần dựa trên những đặc điểm tâm, sinh lý như vừa trình bày, đồng thời kết hợp với tình hình khó khăn thực tế của các em để hỗ trợ, giải quyết và tăng cường kỹ năng cần thiết để các em có thể ứng phó với vấn đề tương tự trong tương lai
Trang 3828
Tiểu kết chương 1
Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề mang tình lý luận về CTXH nhóm đối với HS sống xa cha mẹ, chúng tôi có cơ hội để nhận thức rõ hơn tổng quan tình hình và các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu Các kết luận từ các công trình nghiên cứu trước đó và các lý thuyết được ứng dụng trong
đề tài này đã giúp chúng tôi nắm bắt được nguyên nhân của các vấn đề mà nhóm đối tượng này đang gặp phải, đồng thời qua đó chúng tôi cũng xác định được cách thức cách phù hợp để hỗ trợ các em một cách hiệu quả nhất
Thêm vào đó, các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ sống xa cha mẹ sống xa cha
mẹ đã giúp chúng tôi có được cái nhìn tổng quan nhất để phục vụ cho việc nghiên cứu, triển khai có thể phát huy tốt nhất các mặt tích cực và giảm thiểu những yếu
tố cản trở để tạo thuận lợi cho các hoạt động CTXH với các em học sinh sống xa cha me tại địa bàn nghiên cứu
Từ những vấn đề mang tính lý luận trên đã góp phần cũng cố nhiệm vụ tiếp theo của chúng tôi và đồng thời là tiền đề làm sáng tỏ phần nội dung chính ở chương 2 khi đề cập đến Công tác xã hội nhóm với học sinh sống xa cha mẹ từ thực tiễn trường Trung học cơ sở Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
Trang 3929
CHƯƠNG 2:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong lĩnh vực CTXH với trẻ em nói chung và học sinh nói riêng, tác giả xác định yếu tố không thể bỏ qua là môi trường của các em, từ phạm vi gia đình đến rộng hơn là trường học và cộng đồng đều có những tác động đáng kể đến sự phát triển lành mạnh của các em Thêm vào đó, các em là đối tượng thụ hưởng trực tiếp từ các hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH vì thế cần phải được tham gia vào quá trình can thiệp ngay từ đầu Quan điểm này cũng được thể hiện
rõ trong giáo trình Công tác xã hội với trẻ em và gia đình do Nguyễn Ngọc Lâm biên soạn (2005), tác giả cho rằng “để nhận biết nhu cầu và hiểu được nhiều khía cạnh khác nhau trong nhân cách của trẻ, cần quan tâm đến những điều kiện vật chất và môi trường xã hội xung quanh trẻ …Làm việc với trẻ thành công phải có
sự tham gia tích cực của trẻ và của gia đình trẻ” [16] Chính vì thế, trước khi
tiến hành các hoạt động can thiệp đối với các em HS sống xa cha mẹ, tác giả xin trình bày về địa bàn nghiên cứu, trong đó bao gồm ở cấp độ nhà trường và cộng đồng nơi các em sinh sống Kế đến là các đặc điểm nhân khẩu và các khía cạnh đời sống hộ gia đình, những khó khăn trong học tập, đời sống và các hoạt động trợ giúp mang tính CTXH đối với HS sống xa cha mẹ tại địa bàn nghiên cứu
2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Để hiểu rõ hơn vấn đề nghiên cứu, tác giả xin trình bày sơ lược địa bàn nghiên cứu mà cụ thể là đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của xã Bình Tấn, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Trong đó tập trung đến vấn đề giáo dục và các các hoạt động mang tính CTXH hỗ trợ giáo dục cho học sinh trên địa bàn xã Bình Tấn cũng như tại trường THCS Bình Tấn
2.1.1 Sơ lược về xã Bình Tấn, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp
Bình Tấn là đơn vị hành chính cấp xã nên các tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu cũng còn tương đối hạn chế Do vậy, các thông tin trong Báo cáo tình
Trang 4030
hình phát triển KT-XH 6 tháng đầu năm 2018 của UBND xã Bình Tấn được xem như nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu, đồng thời kết hợp với một số văn bản của Nhà nước và những dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn sâu một số lãnh đạo địa phương, nguời dân để làm cơ sở phân tích, đánh giá Các kết quả mà tác giả thu nhận được như sau:
Được thành lập năm 1987 theo quyết định số 27-HĐBT của Hội đồng Bộ Trưởng, Bình Tấn có diện tích tự nhiên 4.300 ha Những ngày đầu mới thành lập, đây là một xã vùng sâu, đất đai hoang hóa, dân cư thưa thớt với 92 hộ dân (475 nhân khẩu), trình độ dân trí thấp, kinh tế chủ yếu là sản xuất lúa một vụ
và đánh bắt thủy sản vào mùa lũ, cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn Đời sống tinh thần người dân, cơ sở hạ tầng thiếu thố, điện, nước sạch, chợ, giao thông, thủy lợi chưa được đầu tư, việc đi lại chủ yếu bằng đường thủy [41]
- Về Kinh tế: Bình Tấn là một xã thuần nông, diện tích lúa 2.497 ha, năng suất
khoảng 6 tấn/ha, lợi nhuận bình quân 18 triệu/ha, diện tích hoa màu là 46,56 ha, lợi
nhuận 90 triệu đồng/ha ớt, 48 triệu/ha hoa màu, 42,39 ha cây ăn trái Về chăn
nuôi, chủ yếu là gia súc, gia cầm, nuôi lươn, ếch với quy mô nhỏ lẻ (hộ gia đình)
- Xây dựng nông thôn mới: hiện nay xã đã đạt được 14/19 tiêu chí, còn lại 05
tiêu chí, trong đó có cơ sở vật chất, giao thông và trường học
- Công tác xoá đói giảm nghèo: toàn xã có 142 hộ nghèo (8,91%), 239 hộ cận nghèo
(15%) Công tác chăm lo, giúp đỡ những hộ này cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như: phát quà Tết 2018 cho 142 hộ nghèo, phát 587 thẻ BHYT cho
hộ nghèo, 380 thẻ cho hộ cận nghèo, vận động mua tặng 198 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, phối hợp phòng Tài chính phát tiền cho 112 hộ nghèo…
- Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em: tổ chức tặng quà Cây mùa xuân cho trẻ
nghèo, cận nghèo, khó khăn (40 phần), vận động Quỹ bảo trợ trẻ em, cấp thẻ 655 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi, tổ chức sinh hoạt CLB trẻ em (60 em), tổ chức
Lễ phát động “Tháng hành động vì trẻ em”, đưa 01 em HS giỏi thuộc hộ cận nghèo tham dự trại hè “Ước mơ hồng” tại tỉnh Đồng Tháp