1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

179 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

91 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN T Ự NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM Y ẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VI ỆT NAM ....

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Lu ận án tiến sĩ kinh tế

Hà N ội, Năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

-

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: K ế toán

Mã s ố: 934.03.01

Người hướng dẫn KH 1: PGS.TS Đào Thị Thu Giang

Hà N ội, Năm 2022

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận án tiến sĩ này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn,

rất nhiệt tình từ các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, và cả từ gia đình tôi

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Đào Thị Thu Giang và TS Tạ Quang Bình, hai thầy cô hướng dẫn khoa học của tôi Trong quá trình nghiên cứu, thầy cô đã luôn ở bên giúp tôi định hướng những bước đi tiếp theo của mình, luôn khích lệ và động viên và đưa cho tôi những lời khuyên quý báu trong lúc tôi mất phương hướng trong quá trình nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Thầy Cô khoa Kế toán- Kiểm toán Trường đại học Thương mại Trong những buổi bảo vệ chuyên đề, các thầy cô đã có nhiều ý kiến đóng góp để tôi có thể hoàn thiện được luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô Viện đào tạo sau đại học Trường

ĐH Thương Mại đã nhiệt tình hỗ trợ tôi hoàn thành các thủ tục nghiên cứu, bảo vệ trong hơn 5 năm tôi làm nghiên cứu sinh tại trường

Tôi chân thành cảm ơn Thầy Cô Khoa Kế toán - Kiểm toán đại học Ngoại Thương đã tạo điều kiện về thời gian, hỗ trợ tôi trong các công việc chung ở Khoa

để tôi có thể tập trung hoàn thành luận án này

Và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tôi xin cảm ơn gia đình, bố

mẹ, anh chị và bạn bè tôi, đặc biệt là cảm ơn chồng tôi đã luôn khuyến khích, động viên, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án Nếu không có sự sẻ chia, sát cánh từ họ, chắc chắn con đường này sẽ còn khó khăn hơn gấp bội

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn và chúc sức khỏe tất cả các thầy cô, bạn

bè, và gia đình!

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan

Trang 4

L ỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan luận án là công trình nghiên cứu riêng của tác giả với sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Các dữ liệu, số liệu trong luận án được tác giả khảo sát một cách trung thực và khách quan Các nội dung kế thừa từ các nghiên cứu trước đều được tác giả trích nguồn tham khảo Kết quả luận án chưa được công bố trong các nghiên cứu khác ngoại trừ một số dữ liệu và kết quả nghiên cứu đã được công bố trong các công trình khoa học của chính tác giả

Tác giả

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN i

L ỜI CAM ĐOAN ii

DANH M ỤC BẢNG BIỂU vii

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT ix

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 9

1.1 Các nghiên c ứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá tr ị doanh nghiệp trên thế giới 9

1.1.1 Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghi ệp nói chung 9

1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu 11

1.1.3 Các nghiên c ứu về các lợi ích khác của công bố thông tin tự nguyện với doanh nghiệp 15

1.2 Các nghiên c ứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá tr ị doanh nghiệp trên thế giới 17

1.3 Kho ảng trống nghiên cứu 20

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN, GIÁ TR Ị DOANH NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN T Ự NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 26

2.1 Nh ững vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện 26

2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin ra công chúng 26

2.1.2 Khái niệm công bố thông tin tự nguyện 28

2.1.3 Phân lo ại thông tin tự nguyện 30

2.1.4 Các phương pháp đo lường chất lượng công bố thông tin tự nguyện 34

2.2 Nh ững vấn đề chung về doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp 38

2.2.1 Khái ni ệm doanh nghiệp 38

Trang 6

2.2.2 Khái niệm giá trị doanh nghiệp 38

2.2.3 Các cách ti ếp cận và một số phương pháp xác định giá trị nội tại của doanh nghi ệp 43

2.3 Nh ững vấn đề chung về chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp 47

2.3.1 Khái ni ệm chi phí vốn chủ sở hữu 48

2.3.2 Các cách tiếp cận nhằm ước tính chi phí vốn chủ sở hữu 50

2.4 Các lý thuy ết giải thích ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá tr ị doanh nghiệp 57

2.4.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 57

2.4.2 Lý thuy ết rủi ro ước tính 60

2.4.3 Lý thuy ết chi phí liên quan 61

2.4.4 Lý thuyết tín hiệu 63

2.4.5 Nhóm lý thuy ết kinh tế chính trị 64

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 69

3.1 Quy trình nghiên c ứu 69

3.2 Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu 71

3.2.1 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 71

3.2.2 Xây dựng mô hình hồi quy 76

3.2.3 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 78

3.2.4 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 88

3.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 91

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN T Ự NGUYỆN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TẠI CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM Y ẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VI ỆT NAM 92

4.1 Gi ới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam và các công ty phi tài chính niêm y ết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 92

4.1.1 Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam 92

Trang 7

4.1.2 Giới thiệu về các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Vi ệt Nam 95

4.2 Th ực trạng công bố thông tin tự nguyện tại các công ty phi tài chính niêm y ết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 96

4.2.1 Th ực trạng công bố thông tin tự nguyện nói chung tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2017-

2020 96 4.2.2 Th ực trạng công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo loại thông tin 103

4.3 K ết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến chi phí v ốn chủ sở hữu của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường

ch ứng khoán Việt Nam 112

4.3.1 Th ống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến 112 4.3.2 Kết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết 115

4.4 K ết quả nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá

tr ị thị trường của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Vi ệt Nam 118

4.4.1 Th ống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến 118 4.4.2 K ết quả phân tích hồi quy và các kiểm định cần thiết 120

CHƯƠNG 5: CÁC KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP

NH ẰM HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH NIÊM Y ẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG

CH ỨNG KHOÁN VIỆT NAM NÓI RIÊNG VÀ CÁC CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VI ỆT NAM NÓI CHUNG 123 5.1 Các k ết luận rút ra từ nghiên cứu 123

5.2.1 Thực trạng công bố thông tin tự nguyện tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 123

Trang 8

5.2.2 Ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp

t ại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 126

5.2 M ột số khuyến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin

t ự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Vi ệt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung 129

5.2.1 Các khuy ến nghị và giải pháp đối với các công ty phi tài chính niêm yết nói riêng và công ty đại chúng nói chung 129 5.2.2 Các khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước 135

5.3 M ột số hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 141

K ẾT LUẬN 144 DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 146 DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147

PH Ụ LỤC 155

Trang 9

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện nói chung đến giá trị doanh nghiệp nói chung 21 Bảng 1.2: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện nói chung đến chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp 22 Bảng 2.1: Tóm tắt các thước đo chi phí vốn chủ sử dụng trong các nghiên cứu trước 53

Bảng 3.1: Bộ tiêu chí CBTT tự nguyện mới sử dụng trong bài nghiên cứu 83 Bảng 3.2: Bảng tóm tắt về các biến sử dụng trong mô hình (1) - ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp 87 Bảng 3.3: Bảng tóm tắt về các biến sử dụng trong mô hình (2) - ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị thị trường của doanh nghiệp 88

Bảng 3.4: Phân loại doanh nghiệp theo ngành 90

Bảng 4.1: Quy mô thị trường cổ phiếu Việt Nam 93 Bảng 4.2: Điều kiện niêm yết trên sàn HOSE và HNX quy định tại nghị định 58/2012/NĐ-CP 94 Bảng 4.3: Số lượng công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam tại ngày 31/12/2020 95 Bảng 4.4: Phân ngành công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam tại ngày 31/12/2020 96 Bảng 4.5: Mức độ CBTT tự nguyện trung bình của các công ty phi tài chính niêm

yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2017-2020 97

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định T-test trung bình hai mẫu 99

Bảng 4.7: Phân loại mức độ CBTT tự nguyện theo ngành 100 Bảng 4.8: Mức độ CBTT tự nguyện trung bình theo loại thông tin tại các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2017-2020 101 Bảng 4.9: Mức độ CBTT của từng mục thông tin chiến lược và thông tin chung về doanh nghiệp của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2017-

2020 103 Bảng 4.10: Mức độ CBTT của từng mục thông tin tài chính và thị trường vốn của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 105 Bảng 4.11: Mức độ CBTT của từng mục thông tin mang tính tương lai của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 108

Trang 10

Bảng 4.12: Mức độ CBTT của từng mục thông tin xã hội của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 110 Bảng 4.13: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu trong mô hình với biến phụ thuộc

REaston 113 Bảng 4.14: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu trong mô hình với biến phụ thuộc

REBO 113 Bảng 4.15: Hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu nghiên cứu với biến phụ thuộc REaston 114 Bảng 4.16: Hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu nghiên cứu với biến phụ thuộc REBO 114 Bảng 4.17: Kết quả ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) 115 Bảng 4.18: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu trong mô hình với lợi nhuận bất thường được ước tính dựa trên REBO 118 Bảng 4.19: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu trong mô hình với lợi nhuận bất thường được ước tính dựa trên REaston 118 Bảng 4.20: Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình với lợi nhuận bất thường được ước tính dựa trên REBO 119 Bảng 4.21: Hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình với lợi nhuận bất thường được ước tính dựa trên REaston 119 Bảng 4.22: Tóm tắt kết quả hồi quy ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị thị trường của doanh nghiệp theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) 120 Bảng 5.1: Tổng hợp kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn của sở hữu của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2017-

2020 127 Bảng 5.2: Tổng hợp kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị

thị trường của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2017-2020 127

Sơ đồ 3.1: Quy trình các bước nghiên cứu 69

Trang 11

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

BCTN Báo cáo thường niên

CBTT Công bố thông tin

CTPTC Công ty phi tài chính

CTĐCQML Công ty đại chúng quy mô lớn

HNX Ha Noi stock exchange – Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội HOSE Ho Chi Minh stock exchange – Sở giao dịch chứng khoán Hồ

Chí Minh IFRS International financial reporting standard – Chuẩn mực báo

cáo tài chính quốc tế KQKD Kết quả kinh doanh

PTBV Phát triển bền vững

SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

TTCK Thị trường chứng khoán

UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước

UPCOM Sàn giao dịch UPCOM – Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Trang 12

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công bố thông tin tự nguyện là việc doanh nghiệp công bố các thông tin bao gồm cả thông tin kế toán và các thông tin khác mà các thông tin này không bắt buộc

phải công bố theo các quy định của pháp luật, chế độ kế toán, quy định của tổ chức niêm yết, trong BCTC và trên các phương tiện truyền thông Đây là một xu hướng nghiên cứu phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực kế toán Có một vài nhân tố đóng vai trò quan trọng thúc đẩy việc nghiên cứu này Có thể kể đến như sự phát triển của phương tiện truyền thông, nhu cầu ngày càng cao của các bên liên quan về nguồn thông tin minh bạch, đáng tin cậy của doanh nghiệp và tập quán điều hành doanh nghiệp (Uyar và Kilic, 2012)

Lợi ích lớn nhất của việc công bố thông tin tự nguyện đối với doanh nghiệp

là khi công bố thông tin một cách minh bạch, rõ ràng và thường xuyên, doanh nghiệp sẽ tạo được niềm tin với nhà đầu tư, từ đó giúp doanh nghiệp huy động được vốn dễ dàng hơn, với chi phí rẻ hơn Việc công bố thông tin tự nguyên sẽ làm giảm tình trạng thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và nhà quản lý, phù hợp với lý thuyết về chi phí ủy nhiệm được đưa ra bởi Jensen và Meckling (1976) Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc công bố thông tin này sẽ làm giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp (Francis và cộng sự, 2005; Hail, 2002; Dhaliwal và cộng sự, 2011) và làm tăng giá trị công ty (Charumathi và Ramesh, 2020; Al-Akraa và Ali, 2012)

Để nâng cao chất lượng CBTT hướng tới minh bạch hóa thông tin trên thị trường chứng khoán, những năm vừa qua, các cơ quan quản lý Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm minh bạch hóa thông tin trên TTCK như: xiết chặt và điều chỉnh các quy định pháp lý về CBTT; thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị công ty, từ đó tạo môi trường thúc đẩy việc minh bạch hóa thông tin của các CTNY; tổ chức các cuộc thi nhằm nâng cao nhận thức của nhà quản lý về tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường tài chính minh bạch… Tuy nhiên, có một thực tế là chất lượng CBTT tự nguyện tại Việt Nam vẫn còn thấp

Trang 13

cả về số lượng và chất lượng Ví dụ như, theo kết quả đánh giá của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội báo cáo trong Hội nghị Doanh nghiệp thường niên 2020, điểm trung bình công bố các thông tin mang tính thông lệ của các CTĐCQML niêm yết trên HNX chỉ đạt 33,75%1 Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Thanh Loan và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng dự báo KQKD của các công ty phi tài chính niêm yết Việt Nam2 có chất lượng thấp, thiếu chính xác và thường quá lạc quan Sở dĩ chất lượng CBTT tự nguyện tại Việt Nam còn thấp có thể là do các nhà quản lý chưa nhận thức được đầy đủ các lợi ích mà việc CBTT tự nguyện mang lại cho doanh nghiệp

Việc chứng minh lợi ích của việc CBTT tự nguyện mang lại cho doanh nghiệp là rất quan trọng Thứ nhất, khi các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về lợi ích của CBTT tự nguyện, họ sẽ điều chỉnh hành vi của mình, công bố các thông tin có chất lượng tốt một cách kịp thời hơn, từ đó góp phần minh bạch hoá thông tin trên thị trường tài chính Thứ hai, trong môi trường thông tin minh bạch đó, các nhà đầu tư

và các bên liên quan có thể yên tâm, ra quyết định đầu tư một cách khôn ngoan và điều này tác động đến mức độ hoạt động hiệu quả của thị trường vốn Thứ ba, khi hiểu rõ lợi ích của CBTT tự nguyện đối với doanh nghiệp nói riêng và thị trường tài chính nói chung, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ có thêm căn cứ để điều chỉnh, đưa ra các biện pháp khích lệ, hướng dẫn nhằm giúp doanh nghiệp cải thiện chất lượng CBTT tự nguyện hơn nữa

Mặc dù tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về chủ đề ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp song những nghiên cứu này còn rất nhiều hạn chế Cụ thể là: (1) các kết quả nghiên cứu còn chưa nhất quán, có những nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp (Nguyen,

D V., & Nguyen, L T N., 2017), có những nghiên cứu lại chứng minh CBTT tự nguyện nói chung không có mối quan hệ đáng kể với giá trị doanh nghiệp (Binh, Ta Quang, 2014) (2) Hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào một khía cạnh của giá

1 60010182-0.html

https://hnx.vn/vi-vn/m-tin-tuc-hnx/Hoi%20nghi%20Doanh%20nghiep%20thuong%20nien%202020-2 Thông tin dự báo KQKD của nhà quản lý là một thông tin mang tính tự nguyện cao bởi sự chính xác của dự báo phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, trình độ và cả phán đoán chủ quan của nhà quản lý (Nguyễn Thị Thanh Loan và cộng sự, 2020)

Trang 14

trị doanh nghiệp như chi phí vốn chủ sở hữu, chi phí vốn bình quân, năng lực cạnh tranh… chính vì vậy lý luận chung về chủ đề này vẫn còn chưa được hệ thống hoá một cách đầy đủ (3) Các thước đo sử dụng trong các nghiên cứu trước về CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế hoặc cần điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh hiện nay tại Việt Nam

Xuất phát từ những lí do trên, đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của công bố thông tin t ự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm

yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là một đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý

luận và thực tiễn Luận án sẽ góp phần hệ thống hoá lại một cách đầy đủ hơn lý luận chung về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp, sử dụng thước

đo mới về CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp để cung cấp thêm bằng chứng, kiểm định lại các kết quả nghiên cứu trước và trả lời câu hỏi thực tiễn quan trọng đối với doanh nghiệp và các cơ quan quản lý: việc CBTT tự nguyện có làm gia tăng giá trị doanh nghiệp hay không?

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận án là nghiên cứu ảnh hưởng của việc CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam, từ đó đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết nói riêng và của các công ty đại chúng Việt Nam nói chung

Xuất phát từ mục tiêu chung đã nêu, luận án xây dựng các mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, dựa trên cơ sở lý luận về CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp bao gồm các khái niệm, các loại thông tin tự nguyện, các chỉ tiêu đánh giá… luận

án sẽ phân tích thực trạng hoạt động CBTT tự nguyện tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam theo ngành nghề kinh doanh và theo từng loại thông tin

Thứ hai, dựa trên các nghiên cứu trước, sau khi xác định mô hình nghiên cứu

và thu thập các số liệu cần thiết, luận án tiến hành phân tích ảnh hưởng của CBTT

Trang 15

tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam Trên cơ sở đó, luận án đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện việc CBTT tự nguyện, từ đó góp phần làm gia tăng giá trị cho các CTPTC niêm yết nói riêng và cho các công ty đại chúng Việt Nam nói chung Ngoài ra, luận án cũng đưa

ra một số gợi ý về các hướng nghiên cứu có liên quan trong tương lai

2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận án cần làm rõ những câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau đây:

- Câu hỏi 1: Các công trình nghiên cứu trước đã trình bày, luận giải về các lý thuyết chung về CBTT tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp như thế nào?

- Câu hỏi 2: Thực trạng hoạt động CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như thế nào?

- Câu hỏi 3: CBTT tự nguyện có tác động đến giá trị doanh nghiệp tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào?

- Câu hỏi 4: Các kiến nghị, giải pháp đối với các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung, kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Việt Nam nhằm hoàn thiện việc CBTT tự nguyện của các công ty này là gì?

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập dữ liệu

Luận án thu thập dữ liệu thứ cấp từ BCTN của các CTPTC niêm yết trên

Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) để đo lường mức độ CBTT tự nguyện của các công

ty này Các báo cáo thường niên được thu thập thủ công từ website của Stoxplus hoặc từ website của các công ty

Dữ liệu về dự báo kết quả kinh doanh của nhà phân tích được tải từ cơ sở

dữ liệu I/E/B/S của Thompson reuters Bên cạnh đó, các dữ liệu tài chính khác

Trang 16

như tổng tài sản, tổng nợ phải trả, eps, giá trị sổ sách của một cổ phần, giá đóng cửa điều chỉnh của cổ phiếu,… được cung cấp bởi công ty dịch vụ tài chính Fiin Group

Phương pháp phân tích dữ liệu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm phân tích dữ liệu thu thập được Cụ thể như sau:

Phương pháp thống kê, mô tả

Sau khi hệ thống hóa lại các vấn đề liên quan, dựa trên các dữ liệu và thông tin thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả sẽ sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để đưa ra những đánh giá về thực trạng CBTT tự nguyện

của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2017- 2020

Phương pháp phân tích hồi quy

Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam dưới hai khía cạnh: ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn chủ sở hữu và đến giá trị thị trường của các doanh nghiệp nghiên cứu Trong cả hai mô hình nghiên cứu này, tác giả đều sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square

- OLS) để xử lý dữ liệu bởi dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng không cân và phương pháp OLS là phương pháp phổ biến được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp Việc xử lý dữ liệu được thực hiện trên phần mềm kinh tế lượng STATA Kết quả phân tích sẽ là cơ sở để tác giả đưa ra các kết luận nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp tại các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu

V ề mặt không gian

Trang 17

Nghiên cứu tập trung vào các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam trước ngày 31/12/2016 và tiếp tục niêm yết trong giai đoạn 4 năm 2017-2020 Sở

dĩ luận án lựa chọn nghiên cứu tại các CTPTC niêm yết bởi vì đây là nhóm công

ty chiếm tỷ lệ lớn (khoảng hơn 80%) trong tổng số các CTNY trên TTCK Việt Nam Nhóm công ty này tạo ra của cải, vật chất cho xã hội và đóng vai trò nòng cốt thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phi tài chính hoàn toàn khác so với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tài chính hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ tài chính, đầu tư chứng khoán/phi chứng khoán Đối tượng kinh doanh của công ty phi tài chính là hàng hoá, dịch vụ thông thường, trong khi đó đối tượng kinh doanh của công ty tài chính là hàng hoá, dịch vụ đặc biệt như: tiền, chứng khoán và dịch vụ tài chính Từ sự khác biệt về đối tượng kinh doanh dẫn đến những thông tin cả bắt buộc và tự nguyện mà các nhà đầu tư, các đơn vị cho vay và các bên liên quan cần nắm được về doanh nghiệp tài chính và phi tài chính cũng có nhiều điểm khác biệt Do đó, để đánh giá chính xác hơn thực trạng CBTT tự nguyện, mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện với giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam, luận án sẽ tập trung vào nghiên cứu điển hình tại các công ty phi tài chính

Trang 18

V ề mặt phạm vi nội dung

Tác giả chỉ phân tích ảnh hưởng của CBTT tự nguyện nói chung đến giá trị doanh nghiệp, mà không tập trung đi sâu vào tìm hiểu ảnh hưởng của từng loại thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp

5 Các đóng góp mới của luận án

Nh ững đóng góp mới của luận án về mặt lý luận

Th ứ nhất, Luận án là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam hệ thống lại đầy đủ

lý thuyết về CBTT tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và các lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp

Th ứ hai, dựa trên các nghiên cứu trước, sau khi phân tích các quy định

pháp lý hiện hành và tập quán CBTT của một số CTPTC niêm yết điển hình, Luận án đã xây dựng lại danh mục các tiêu chí CBTT tự nguyện mới, phù hợp hơn với bối cảnh nền kinh tế, quy định pháp lý… trong giai đoạn hiện nay

Th ứ ba, Luận án cũng là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt

Nam ước tính chi phí vốn chủ sở hữu ngầm định dựa trên dự báo KQKD của nhà phân tích Chi phí vốn chủ sở hữu ước lượng theo phương pháp này đã được chứng minh là ưu việt hơn so với khi ước lượng chi phí vốn theo tỷ suất lợi nhuận thực tế trong quá khứ và khắc phục được hạn chế của mô hình CAPM khi không xét đến vai trò của thông tin (Botosan, 1997)

Nh ững đóng góp mới của luận án về mặt thực tiễn

Th ứ nhất, dựa trên danh mục các tiêu chí CBTT tự nguyện đã xây dựng,

luận án đã nghiên cứu thực trạng CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam, từ đó giúp người đọc thấy hiểu rõ hơn về chất lượng CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết Việt Nam hiện nay Kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định chất lượng CBTT tự nguyện của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam vẫn còn thấp và cần cải thiện hơn nữa ở nhiều điểm

Th ứ hai, Luận án đã cung cấp thêm bằng chứng chứng minh lợi ích kinh tế

của việc CBTT tự nguyện tới giá trị thị trường của doanh nghiệp và tới giá trị nội tại của doanh nghiệp thông qua ảnh hưởng tới chi phí vốn chủ sở hữu của doanh

Trang 19

nghiệp tại một thị trường đang phát triển như Việt Nam Bằng chứng này sẽ giúp điều chỉnh lại nhận thức và hành vi của các nhà quản lý của các CTPTC niêm yết trên TTCK Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung đối với việc CBTT tự nguyện

Th ứ ba, dựa trên các kết quả nghiên cứu, luận án đã đưa ra một số khuyến

nghị cụ thể đối với các công ty niêm yết và các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm góp phần nâng cao chất lượng CBTT tự nguyện, giảm chi phí vốn chủ sở hữu và gia tăng giá trị doanh nghiệp của các CTPTC niêm yết trên TTCK nói riêng và của các công ty đại chúng Việt Nam nói chung

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, Luận án được kết cấu gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về công bố thông tin tự nguyện, giá trị doanh nghiệp và ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp

Chương 3: Quy trình và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 5: Các kết luận, một số khuyến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng và các công ty đại chúng Việt Nam nói chung

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Các n ghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện với giá trị doanh nghiệp nói chung

"Hassan và các cộng sự (2009) xem xét ảnh hưởng của CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện được thực hiện trên mẫu gồm 80 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Ai cập trong giai đoạn"1995-2002."Sở dĩ các tác giả xem xét mức độ CBTT bắt buộc là do việc không tuân thủ quy định về CBTT của các công ty niêm yết Ai cập"là rất phổ biến."Sử dụng phương pháp pooled generalized least squares (GLS) với sai số chuẩn có điều chỉnh, kết quả nghiên cứu trái ngược với dự báo của phần lớn lí thuyết"tài chính Sau khi kiểm soát các yếu tố quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tốc độ tăng trưởng, ngành kinh tế, kết quả cho thấy tồn tại một mối quan hệ nghịch chiều đáng kể giữa CBTT bắt buộc với giá trị doanh nghiệp, trong khi đó CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều nhưng không đáng kể với giá trị doanh nghiệp Các tác giả lý giải điều này là do mối quan hệ giữa CBTT với giá trị doanh nghiệp là mối quan hệ phức tạp, và ở Ai Cập, chi phí của việc CBTT cao hơn so với những lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp

Dựa trên lý thuyết tín hiệu, Uyar và Kilic (2012) xem xét ảnh hưởng của việc CBTT tự nguyện tới giá trị thị trường của doanh nghiệp, với mẫu nghiên cứu là 129 công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 Giá trị doanh nghiệp được các tác giả đo lường qua 4 biến: giá trị thị trường của cổ phiếu ở thời điểm cuối năm và 6 tháng sau, logarit tự nhiên của chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu ở thời điểm cuối năm và sáu tháng sau Kết quả thu được là không đồng nhất, mức độ CBTT tự nguyện có tác động tích cực đáng kể đến giá trị thị trường hiện tại và tương lai của doanh nghiệp nhưng không ảnh

Trang 21

hưởng đáng kể đến chỉ số giá trị thị trường so với giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu

Wang, Ali và Al-Akra (2013) trong bài nghiên cứu với tiêu đề “Value relevance of voluntary disclosure and the global financial crisis: evidence from China”, tạm dịch là “sự phù hợp của CBTT tự nguyện và khủng hoàng tài chính toàn cầu: bằng chứng từ Trung Quốc”, đã tìm hiểu tác động điều tiết của khủng hoảng tài chính toàn câu đến mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn (2SLS) với mẫu nghiên cứu là 714 quan sát của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến trong giai đoạn 2005-2009 Kết quả hồi quy cho thấy việc CBTT không những không tạo ra giá trị cho các công ty Trung Quốc mà còn làm giảm giá trị của những doanh nghiệp CBTT ở trong cả thời điểm khủng hoảng tài chính và không khủng hoảng Mối quan hệ này càng mạnh ở các doanh nghiệp

có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao Các tác giả lý giải rằng, điều này là do các chi phí của việc CBTT cao hơn lợi ích mà nó mang lại cho doanh nghiệp

Assidi (2020) xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện và quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh có sự thay đổi về mặt pháp lý ở Pháp Dựa trên dữ liệu 1001 quan sát là các CTNY Pháp thuộc danh mục SBF 120 từ 2006 đến

2016, bằng phương pháp GMM, tác giả đã chỉ ra rằng CBTT tự nguyện có tác động tích cực đến giá trị doanh nghiệp Hơn nữa, thay đổi về mặt pháp lý làm gia tăng lợi ích cho doanh nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng hệ thống quản trị doanh nghiệp

Charumathi và Ramesh (2020) nghiên cứu tác động của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp sử dụng mẫu nghiên cứu là các CTNY Ấn Độ thuộc danh mục chỉ số BSE 100 trong giai đoạn 5 năm từ 2010-2014 Kết quả hồi quy FEM cho thấy CBTT tự nguyện có mối quan hệ thuận chiều với giá trị doanh nghiệp, được đo lường bằng chỉ số TobinQ, chỉ số giá thị trường/giá trị sổ sách (P/B ratio) và giá trị doanh nghiệp Song khi xem xét ảnh hưởng của từng loại thông tin tên giá trị doanh nghiệp kết quả thu được rất khác nhau Chỉ có thông tin chung và thông tin chiến

Trang 22

lược có tác động tích cực đến chỉ số TobinQ ở mức ý nghĩa 90%, trong khi đó thông tin PTBV có tác động tiêu cực đến chỉ số TobinQ ở mức 95% Trong khi đó các loại thông tin khác không có tác động đáng kể đến giá trị doanh nghiệp

Khác với các nghiên cứu trên, chỉ tập trung vào CBTT môi trường tự nguyện, Clarkson và cộng sự (2013) tìm thấy bằng chứng chứng minh tác động tích cực của CBTT môi trường tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp ngay cả khi đã kiểm soát hiệu quả thực thi môi trường Các tác giả lí giải mối quan hệ này dựa trên lý thuyết tín hiệu được đề cập tới trong nghiên cứu của Clarkson và cộng sự (2008)

Cụ thể là, các doanh nghiệp thực thi môi trường tốt sẽ không phải gánh chịu những nghĩa vụ môi trường tiềm tàng trong tương lai và được hưởng các lợi thế cạnh tranh

do việc cải tiến quy trình SXKD và khác biệt hoá sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí kinh doanh và có được lợi thế thương mại xanh Nhà đầu tư không thể phân loại được doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp không CBTT môi trường tự nguyện Do đó, việc CBTT môi trường tự nguyện của doanh nghiệp sẽ gửi tín hiệu phù hợp, giúp thị trường đánh giá đúng giá trị của doanh nghiệp Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và được thực hiện trên mẫu gồm 195 quan sát của các công ty đại chúng Mỹ thuộc 5 ngành kinh tế gây ô nhiễm môi trường trong 2 năm 2003 và 2006

Vận dụng lý thuyết tín hiệu để giải thích ảnh hưởng của CBTT online về quá trình chuyển đổi số đến giá trị doanh nghiệp, Salvi và cộng sự (2020) đã chứng minh tác động tích cực của CBTT online về quá trình chuyển đổi số đến giá trị của doanh nghiệp được đo lường bằng chỉ số TobinQ Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy OLS và được thực hiện trên mẫu gồm 114 công ty niêm yết ở nhiều quốc gia trong năm 2018

1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu

Mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thường được lý giải thông qua lý thuyết thông tin bất cân xứng và lý thuyết

Trang 23

rủi ro ước tính Diamond và Verrecchia (1991) nói rằng CBTT làm giảm thông tin bất cân xứng từ đó làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu, tăng nhu cầu của các nhà đầu tư lớn từ đó làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu Bên cạnh đó, trước khi ra quyết định đầu tư, những nhà đầu tư khôn ngoan (rational investor) cần phải xem xét lợi suất kỳ vọng thu được từ tài sản và rủi ro đầu tư liên quan Rủi ro đầu tư đó bao gồm cả rủi ro thông tin không chắc chắn (hay còn gọi là rủi ro ước tính) Việc cải thiện mức độ CBTT có thể làm giảm rủi ro ước tính không thể đa dạng hóa của nhà đầu tư, giảm beta từ đó làm giảm chi phí vốn của doanh nghiệp (Barry và Brown, 1985; Coles và cộng sự, 1995)

Căn cứ trên 2 lý thuyết trên, đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành ở các quốc gia để xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp Một số những nghiên cứu nổi bật về chủ đề này là:

Sử dụng mẫu nghiên cứu là 122 doanh nghiệp sản xuất năm 1990, kết quả hồi quy OLS của Botosan (1997) cho thấy mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp không có tác động đáng kể đến chi phí vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, khi phân tích thêm, tác giả thấy rằng với những doanh nghiệp có ít nhà phân tích theo dõi, CBTT làm giảm chi phí vốn chủ của doanh nghiệp, trong khi ảnh hưởng này đối với nhóm doanh nghiệp có nhiều nhà phân tích theo dõi là không đáng kể Botosan (1997) giải thích rằng kết quả này có thể là do doanh nghiệp có nhiều phương tiện

để CBTT tự nguyện: qua báo cáo thường niên, họp báo, website, … Do đó việc CBTT tự nguyện trên báo cáo thường niên có thể là không phản ánh hết mức độ CBTT tự nguyện của doanh nghiệp và không quá quan trọng với những doanh nghiệp có nhiều nhà phân tích theo dõi (doanh nghiệp có môi trường thông tin tốt) Trong nghiên cứu này Botosan (1997) sử dụng phương pháp chỉ số công bố để đo lường mức độ CBTT tự nguyện, sau đó sử dụng thông tin này để tính toán tỷ lệ thứ hạng CBTT tự nguyện của doanh nghiệp Để đo lường chi phí vốn chủ sở hữu Botosan sử dụng mô hình định giá dựa trên kế toán phát triển bởi Edwards và Bell (1961), Ohlson (1995) và Feltham và Ohlson (1995) (mô hình định giá EBO)

Trang 24

Francis và cộng sự (2004) lại xem xét mối quan hệ phức tạp giữa chất lượng lợi nhuận, CBTT tự nguyện và chi phí vốn của doanh nghiệp CBTT tự nguyện được đo lường theo phương pháp chỉ số công bố dựa trên báo cáo thường niên và mẫu 10-K của 677 doanh nghiệp Mỹ trong năm 2001 Chi phí vốn chủ sở hữu được ước tính dựa trên dữ liệu dự báo của các nhà phân tích về giá mục tiêu, cổ tức và tỷ

lệ tăng cổ tức do Value Line cung cấp Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS cho thấy, doanh nghiệp có chất lượng lợi nhuận tốt thì CBTT tự nguyện nhiều và ngược

lại Khi không xét đến chất lượng lợi nhuận thì CBTT có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ sở hữu, nhưng khi bổ xung biến chất lượng lợi nhuận thì tác động tích cực của CBTT đến chi phí vốn chủ sở hữu giảm đáng kể hoặc biến mất (tùy vào thước đo chi phí vốn) Francis và các cộng sự (2004) lí giải sở dĩ có điều này là do chất lượng lợi nhuận (thông tin) vừa có tác động lên CBTT tự nguyện, vừa có tác động đến chi phí vốn chủ sở hữu, do đó nếu bỏ qua biến này kết quả không còn chính xác

Không chỉ giới hạn phạm vi ở một quốc gia như những nghiên cứu trước, nghiên cứu của Francis và cộng sự (2005) sử dụng mẫu gồm 672 quan sát doanh nghiệp – năm của 484 doanh nghiệp ngành sản xuất từ 34 quốc gia trong thời gian 2 năm 1993 và 1995 Sử dụng phương pháp hồi quy OLS và kiểm chứng lại bằng phương pháp 2SLS, các tác giả kết luận rằng doanh nghiệp càng phụ thuộc vào tài trợ bên ngoài nhiều thì càng CBTT nhiều, và việc CBTT nhiều làm giảm cả chi phí vốn chủ và vốn vay CBTT tự nguyện có mối quan hệ âm, đáng kể ở mức 5% với chi phí vốn vay và có mối quan hệ âm đáng kể ở mức 10% với chi phí vốn chủ sở hữu Hơn nữa, điều ngạc nhiên là ảnh hưởng tích cực của CBTT tự nguyện đến chi phí vốn ko bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về đặc điểm quốc gia về hệ thống pháp lý hay tài chính, hay CBTT tự nguyện làm giảm chi phí vốn trên toàn thế giới

Bài nghiên cứu của Hail (2002) với tiêu đề “the impact of voluntary corporation disclosures on the ex-ante cost of capital for Swiss Firms”, tạm dịch là

“Ảnh hưởng của việc CBTT tự nguyện của doanh nghiệp đến chi phí vốn kì vọng của các doanh nghiệp Switzerland” Sử dụng mô hình định giá thu nhập thặng dư

Trang 25

(residual income valuation model) để ước tính chi phí vốn kì vọng, tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ xếp hạng CBTT tự nguyện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch đáng kể với chi phí vốn chủ ước tính Hay cụ thể, tại Switzerland, những doanh nghiệp CBTT nhiều

có chi phí vốn thấp hơn 1.8%-2.4% so với các doanh nghiệp khác Kết quả này là vững ngay cả khi đã kiểm soát yếu tố rủi ro hệ thống, rủi ro tài chính và quy mô doanh nghiệp Nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu gồm 73 công ty phi tài chính Switzerland năm 1998, sử dụng cả hai phương pháp OLS và 2SLS

Bài viết của Botosan và plumlee năm 2000 với tiêu đề “Disclosure level and expected cost of equity capital: An examination of analysts’ rankings of corporate disclosure”, tạm dịch là “mức độ CBTT và chi phí vốn chủ sở hữu kì vọng: nghiên

cứu xếp hạng của nhà phân tích về việc CBTT của doanh nghiệp” Trong bài viết này Botosan và Plumlee đã sử dụng 4 thước đo chi phí vốn chủ sở hữu và 3 thước

đo CBTT đánh giá bởi AIMR (CBTT trên báo cáo thường niên và các thông tin bắt buộc khác; CBTT hàng quý và các thông tin không bắt buộc khác, và CBTT qua các kênh khác) Mẫu nghiên cứu gồm 3.620 quan sát đại diện cho 43 ngành trong thời gian 11 năm từ 1986-1996 Kết quả nghiên cứu của họ rất khác biệt khi sử dụng các thước đo chi phí vốn chủ và thước đo CBTT khác nhau Nếu đo lường chất lượng CBTT tổng hợp, kết quả thu được là rất ngạc nhiên và trái ngược với dự đoán của lí thuyết Hệ số hồi quy của biến CBTT tổng hợp mang dấu dương một cách đáng kể

và có hệ thống khi sử dụng các thước đo chi phí vốn khác nhau Botosan và Plumlee

lí giải rằng sở dĩ có điều này là do các khía cạnh CBTT khác nhau có ảnh hưởng khác nhau tới chi phí vốn chủ Cụ thể là, chi phí vốn chủ sở hữu giảm khi CBTT trên BCTN tăng, chênh lệch là khoảng 0.5% sau khi kiểm soát beta và kích cỡ doanh nghiệp Nhưng CBTT quý và các thông tin không bắt buộc khác lại có mối quan hệ thuận chiều với chi phí vốn chủ Trong khi đó, chi phí vốn chủ và CBTT qua các kênh khác lại ko có mối quan hệ đáng kể Mặc dù mqh thuận chiều giữa COE và các báo cáo khác trái với các lí thuyết hiện nay, xong lại phù hợp với lo ngại của nhà quản lý là việc CBTT kịp thời có thể làm ảnh hưởng tới tâm lí của nhà đầu tư trong ngắn hạn từ đó làm cho cổ phiếu biến động nhiều hơn

Trang 26

1.1.3 Các nghiên cứu về các lợi ích khác của công bố thông tin tự nguyện với doanh nghiệp

Sengupta (1989) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên xem xét mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện với chi phí vốn vay Ông lập luận rằng khi ra quyết định cho vay, nhà đầu tư cá nhân và tổ chức phải đánh giá rủi ro ước tính của doanh nghiệp dựa trên những thông tin đang có Một trong những yếu tố làm tăng rủi ro phá sản của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp giữ lại các thông tin bất lợi phù hợp Khả năng này càng cao thì phần bù rủi ro yêu cầu càng lớn Rủi ro này được đánh giá qua lịch sử CBTT của doanh nghiệp Sử dụng mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn 1987-1991, kết quả thực nghiệm khẳng định nhận định trên là đúng CBTT tự nguyện làm giảm chi phí vốn vay trong cả 2 mô hình với biến phụ thuộc là lợi suất đáo hạn và tổng chi phí lãi vay

Nghiên cứu của Plumlee và cộng sự (2010) xem xét ảnh hưởng của CBTT môi trường tới giá trị doanh nghiệp thông qua việc xem xét mối quan hệ giữa chất lượng CBTT môi trường tự nguyện với các thành phần của giá trị doanh nghiệp (kỳ vọng dòng tiền trong tương lai và chi phí vốn chủ sở hữu) Mẫu nghiên cứu là các CTNY Mỹ thuộc 5 ngành: dầu khí, hóa chất, thực phẩm/đồ uống, dược phẩm và đồ điện trong 6 năm từ 2000 đến 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ CBTT môi trường tự nguyện có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến cả kỳ vọng dòng tiền trong tương lai và chi phí vốn chủ sở hữu Hơn nữa, khi phân loại thông tin công bố theo loại thông tin (thông tin cứng và mềm) và theo bản chất (thông tin tích cực/trung lập/tiêu cực), các tác giả chỉ ra một vài loại thông tin có mối quan hệ dương với kỳ vọng dòng tiền trong tương lai; trong khi đó, một số loại thông tin có mối quan hệ thuận chiều, một số có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp

Wang, Choi, and Li (2008) chỉ ra mối quan hệ phi tuyến, hình chữ U ngược giữa việc từ thiện với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Wang và cộng sự (2008) giải thích rằng việc từ thiện giúp doanh nghiệp nâng cao danh tiếng, do đó giúp cải

Trang 27

thiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, được đo lường bởi chỉ tiêu ROA và TobinQ Song, số tiền từ thiện nhiều làm tăng chi phí người ủy quyền và các chi phí

cơ hội, dẫn đến tỷ lệ lợi nhuận biên giảm ở mức đóng góp từ thiện cao Nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu của 817 CTNY Mỹ thuộc danh mục Taft Corporate Giving Directory trong giai đoạn 1987-1999 sử dụng mô hình hồi quy lựa chọn mẫu Heckman Hơn nữa, họ cũng chỉ ra rằng môi trường kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ hưởng lợi của doanh nghiệp từ hoạt động từ thiện Trong môi trường kinh doanh năng động, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều hơn vào các bên liên quan, trong việc cung cấp các nguồn lực quan trọng, do đó, những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường này thu được lợi ích lớn hơn từ việc từ thiện

Lev và cộng sự (2010) sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả granger để kiểm tra ảnh hưởng của tăng trưởng từ thiện lên tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn 1989 - 2000 Kết quả thực nghiệm cho thấy đóng góp từ thiện có mối quan hệ tích cực đáng kể với tốc độ tăng trưởng doanh thu sau

đó, trong khi chiều ngược lại có ý nghĩa thống kê ở mức thấp (90%) Bên cạnh đó, những ngành nghề thuộc lĩnh vực tiêu dùng trong đó khách hàng lẻ là chủ yếu (ví dụ: ngành bán lẻ, ngành dịch vụ tài chính) nhạy cảm hơn với việc đóng góp từ thiện Lev và cộng sự (2010) giải thích rằng việc đóng góp từ thiện có thể giúp doanh nghiệp quảng bá hình ảnh đến khách hàng, nâng cao sự hài lòng, lòng trung thành của khách hàng, giảm sự co dãn về giá của cầu đối với sản phẩm

Eccles, Ioannou và Serafeim (2012) cho rằng việc thực hiện CSR tốt có thể giúp doanh nghiệp thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, xây dựng chuỗi cung ứng bền vững hơn, tránh xung đột và các chi phí đi kèm với cộng đồng xung quanh (duy trì giấy phép tiếp tục kinh doanh), phát triển các sản phẩm, quy trình kinh doanh ưu việt, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Điều này góp phần cải thiện KQKD của doanh nghiệp trong dài hạn Theo dõi hiệu quả của mẫu bắt cặp gồm 180 doanh nghiệp Mỹ trong khoảng thời gian 18 năm từ 1993 – 2010, Eccles và cộng sự (2012) rút ra kết luận rằng lợi nhuận bất thường hàng năm của nhóm PTBV cao cao

Trang 28

hơn của nhóm PTBV thấp 4.8% (nếu tính trọng số dựa trên giá trị) Nhóm PTBV cao cũng có tỷ lệ lợi nhuận theo kế toán (ROA, ROE) trong dài hạn cao hơn tỷ lệ lợi nhuận của nhóm PTBV thấp Điều này cho thấy tác động tích cực của PTBV đến hiệu quả thị trường vốn cũng như hiệu quả kế toán của doanh nghiệp trong dài hạn

Chen và cộng sự (2018) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bắt buộc CBTT TNXH tại Trung Quốc năm 2008 đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp Sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID), Chen và các cộng sự (2018) đã

kết luận rằng việc bắt buộc CBTT TNXH giúp thay đổi hành vi của doanh nghiệp, giảm lượng khí thải, nước thải ra môi trường, song việc này đánh đổi bằng chi phí của cổ đông, hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp giảm Bên cạnh đó, họ còn chỉ

ra rằng hiệu quả đầu tư TNXH tại các doanh nghiệp sở hữu bởi nhà nước thấp hơn

so với các doanh nghiệp khác Bằng chứng là những doanh nghiệp sở hữu bởi nhà nước có mức độ sụt giảm khả năng sinh lời lớn hơn, song mức độ cải thiện về môi trường cao hơn lại ở những thành phố có ít doanh nghiệp sở hữu bởi nhà nước

1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc công bố thông tin tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp trên thế giới

Các nghiên cứu về CBTT tự nguyện ở Việt Nam chủ yếu mới chỉ tập trung vào tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ CBTT tự nguyện của các doanh nghiệp chứ chưa tập trung vào tìm hiểu tác động của CBTT tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp nói riêng và doanh nghiệp nói chung Trong hiểu biết của nghiên cứu sinh, ở Việt Nam hiện có những nghiên cứu sau viết về chủ đề này:

Bài viết của Binh, Ta Quang (2014) với tiêu đề “The impacts of Voluntary Information Disclosure on the Fluctuation of Stock Market: Evidence from Vietnam” tạm dịch là “Ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới sự biến động của TTCK: Bằng chứng từ Việt Nam” là một trong những nghiên cứu tiên phong tìm hiểu mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam Sử dụng mẫu nghiên cứu là 199 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam năm 2009, tác giả xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện lên chi phí vốn bình

Trang 29

quân (WACC), chỉ số giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ của vốn chủ sở hữu, mức

độ biến động về giá cổ phiếu, độ lệch chuẩn của loganepe của khối lượng giao dịch Kết quả nghiên cứu cung cấp một vài bằng chứng về lợi ích của CBTT tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp Cụ thể là trong mô hình với các biến kiểm soát, mức độ CBTT tự nguyện chỉ có mối quan hệ thuận chiều với mức độ biến động về giá cổ phiếu và có mối quan hệ ngược chiều với mức độ biến động về khối lượng giao dịch

ở mức ý nghĩa 90%, và không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với chi phí vốn

chủ sở hữu và tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ Khi phân tích thông tin ra thành 6 loại thông tin, kết quả chỉ có thông tin chung về doanh nghiệp là có mối quan hệ đáng kể nghịch chiều với chi phí vốn ở mức ý nghĩa 95%, có mối quan hệ thuận chiều với mức độ biến động giá cổ phiếu ở mức ý nghĩa 90% Còn lại tất cả các loại thông tin khác đều không có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Nguyen, D V., & Nguyen, L T N (2017) với mẫu nghiên cứu là 225 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE năm 2015, tìm ra bằng chứng ủng hộ mối quan hệ nghịch chiều giữa CBTT và chi phí vốn chủ Trong nghiên cứu này, chi phí vốn chủ được ước tính dựa trên mô hình chiết khấu cổ tức như Botosan (1997), song do thiếu dữ liệu dự báo của nhà phân tích nên hai tác giả sử dụng tỷ lệ trả cổ tức và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu trong quá khứ để tự ước tính lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp CBTT được đo lường theo phương pháp chỉ số công bố dựa trên danh mục thông tin phát triển bởi Botosan (1997)

Không hẳn là nghiên cứu về CBTT tự nguyện song bài viết của Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019) cũng là một trong số ít bài nghiên cứu về vai trò của thông tin trong việc làm giảm chi phí vốn chủ tại Việt Nam Nghiên cứu này tìm hiểu ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến chi phí vốn chủ thông qua nghiên cứu 294 công ty niêm yết HOSE trong giai đoạn 2014-2016 Kết quả ước lượng SGMM cho thấy minh bạch thông tin có mối quan hệ nghịch chiều với chi phí vốn chủ ở mức ý nghĩa thấp 10% Trong khi đó, kết quả theo phương pháp FEM thì lại không có ý nghĩa thống kê Điều này có thể là do trong nghiên cứu của mình Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc sử dụng mô hình CAPM để ước tính chi phí vốn

Trang 30

chủ sở hữu mà nhiều nghiên cứu trước đã khẳng định rằng những mô hình truyền thống như CAPM đều giả định rằng mọi thông tin phù hợp đã được phản ảnh trong giá ở mọi thời điểm, do đó thông tin bất cân xứng ko ảnh hưởng tới giá Hay nói cách khác, trong mô hình CAPM không xét đến vai trò của thông tin (Botosan, 1997; Francis và cộng sự, 2004)

Nguyễn Văn Bảo (2020) nghiên cứu về ảnh hưởng của CBTT bắt buộc và tự nguyện tới năng lực cạnh tranh của các CTNY Việt Nam Nghiên cứu sử dụng mẫu

là 145 doanh nghiệp ngành xây dựng và kinh doanh bất động sản trên hai sàn HOSE

và HNX trong giai đoạn 2016-2018 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo lường bằng tỷ lệ doanh thu của doanh nghiệp so với tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu Sau khi so sánh kết quả hồi quy, tác giả kết luận phương pháp hồi quy REM là phù hợp và mức độ CBTT tự nguyện có tác động tích cực, làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Khác với những nghiên cứu trên, luận án tiến sỹ của Tạ Thị Thúy Hằng (2019) chỉ tập trung vào xem xét ảnh hưởng của việc CBTT TNXH tới hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu gồm 43 CTNY Việt Nam trong thời gian 11 năm từ 2006-2016, sử dụng các phương pháp hồi quy FEM, REM, 2SLS, GMM với biến phụ thuộc là ROA và TobinQ Kết quả cho thấy việc thực hiện và CBTT TNXH quá khứ có ảnh hưởng tích cực đến chỉ tiêu ROA và TobinQ của năm tiếp theo

Trước đó, Hồ Ngọc Thảo Trang và Liafisu Sina Yekini (2014) cũng đã thực hiện một nghiên cứu về chủ đề mối quan hệ giữa CBTT TNXH với hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhưng với số mẫu nhỏ hơn nhiều Mẫu nghiên cứu chỉ gồm 20 doanh nghiệp tài chính niêm yết lớn nhất Việt Nam trong thời gian 3 năm từ 2010-2012 Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp được đo lường bằng nhiều thước đo khác nhau: ROA, ROE, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản Kết quả cho thấy mức độ CBTT TNXH có mối quan hệ thuận chiều có ý nghĩa thống kê ở mức từ 95% trở lên với tất cả các biến phụ thuộc

Trang 31

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

Như vậy có thể thấy chủ đề về ảnh hưởng của công bố thông tin tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp đã được nghiên cứu bởi rất nhiều học giả trên thế giới và cũng đã bắt đầu được nghiên cứu bởi các học giả Việt Nam Sau khi tìm hiểu, xem xét các kết quả nghiên cứu trước, nghiên cứu sinh nhận thấy một số những điểm như sau:

Th ứ nhất, mặc dù có nhiều lý thuyết ủng hộ các lợi ích của việc CBTT tự

nguyện đối với giá trị doanh nghiệp, song các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam vẫn chưa đưa ra được nhiều bằng chứng thuyết phục về vấn đề này Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của CBTT tự nguyện lên chi phí vốn chủ sở hữu (Hail, 2002; Francis và cộng sự, 2005) và giá trị doanh nghiệp (Charumathi và Ramesh, 2020; Saha và Kabra, 2019; Clarkson và cộng sự, 2013) Song cũng có nhiều nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa CBTT tự nguyện với chi phí vốn chủ sở hữu (Francis và cộng sự, 2004 và 2008) và giá trị doanh nghiệp (Hassan và cộng sự, 2009) Thậm chí một số nghiên cứu còn chứng minh rằng trong một số trường hợp CBTT tự nguyện có tác động tiêu cực đến chi phí vốn chủ sở hữu và giá trị doanh nghiệp (Botosan và Plumlee, 2000; Kristandl và Bontis, 2007; Wang và cộng sự, 2013) Một số ít nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam cũng đưa ra nhiều kết quả khác nhau Ví dụ như: Binh, Ta Quang (2014) chỉ ra rằng CBTT tự nguyện nói chung không có mối quan hệ thống kê đáng kể với chi phí vốn chủ sở hữu và tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ của doanh nghiệp, trong khi

đó Nguyen, D V., & Nguyen, L T N (2017) lại đưa ra bằng chứng về mối quan hệ nghịch chiều giữa hai yếu tố này Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019) lại chỉ

ra rằng tuỳ vào phương pháp ước lượng khác nhau sẽ cho ra kết quả nghiên cứu khác nhau về mối quan hệ giữa hai yếu tố này Chính vì sự không nhất quán của các nghiên cứu trước về tác động của CBTT tự nguyện đối với giá trị doanh nghiệp, do vậy đây vẫn là chủ đề cần tiếp tục bàn luận trong tương lai Kết quả nghiên cứu của Luận án này sẽ cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện với giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam – một thị trường đang phát triển

Trang 32

B ảng 1.1: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự

nguy ện nói chung đến giá trị doanh nghiệp nói chung

K ết quả thực nghiệm Bi ến đại diện cho giá

tr ị doanh nghiệp Các nghiên c ứu tiêu biểu

CBTT tự nguyện không

có quan hệ với giá trị

doanh nghiệp

MCAP, LnMVBV, TobinQ

Charumathi và Ramesh (2020); Assidi (2020); Al-Akra và Ali (2012); Saha và Kabra (2019); Salvi và cộng

sự (2020) CBTT tự nguyện có quan

hệ nghịch chiều với giá trị

doanh nghiệp

MCAP, LnMVBV, TobinQ

Wang và cộng sự (2013)

Kết quả không nhất quán

tùy theo từng thước đo

giá trị doanh nghiệp

MCAP, LnMVBV, TobinQ

Uyar và Kilic (2012); Binh, T.Q (2012)

Ngu ồn: Tác giả tự tổng hợp

Trang 33

B ảng 1.2: Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của CBTT tự nguy ện nói chung đến chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

CBTT tự nguyện không có quan hệ với chi

phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

Francis và cộng sự (2004);

Francis, Nanda và Olssson (2008)

CBTT tự nguyện có quan hệ thuận chiều với

chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

Botosan và Plumlee (2000)

CBTT tự nguyện có quan hệ nghịch chiều với

chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp

Francis và cộng sự (2005); Hail (2002); Nguyen, D V., &

Nguyen, L T N (2017) Kết quả không nhất quán tùy theo từng thước

đo chi phí vốn chủ sở hữu doanh nghiệp, loại

thông tin, phương pháp hồi quy…

Kristandl và Bontis (2007);

Botosan (1997); Botosan và Plumlee (2000); Lê Xuân Thái

và Trương Đông Lộc (2019);

Binh, T.Q (2012)

Ngu ồn: Tác giả tự tổng hợp

Th ứ hai, nghiên cứu về ảnh hưởng của việc CBTT tự nguyện tới giá trị

doanh nghiệp tại Việt Nam còn rất hạn chế, chưa có nghiên cứu nào hệ thống lại một cách đầy đủ các lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa CBTT tự nguyện và giá trị doanh nghiệp, cũng như xem xét một cách thấu đáo ảnh hưởng của CBTT tự nguyện một cách trực tiếp và gián tiếp tới giá trị nội tại và giá trị thị trường của doanh nghiệp Những nghiên cứu trước đây về của đề này bao gồm: nghiên cứu của

Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019), Nguyen, D V., & Nguyen, L T N (2017), Binh, Ta Quang (2014) về tác động của CBTT tự nguyện tới chi phí vốn chủ sở hữu, chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp; nghiên cứu của Binh, Ta Quang (2014) xem xét tác động của CBTT tự nguyện tới giá trị thị trường của doanh nghiệp; nghiên cứu của Nguyễn Văn Bảo (2020) về tác động tích cực của

Trang 34

CBTT tự nguyện đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; và nghiên cứu của Tạ Thị Thúy Hằng (2019); Hồ Ngọc Thảo Trang và Liafisu Sina Yekini (2014) về CBTT tự nguyện và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Trong những nghiên cứu

đó, chỉ có nghiên cứu của Binh, Ta Quang (2014) là đồng thời xem xét tác động trực tiếp của CBTT tự nguyện lên giá trị thị trường của doanh nghiệp (đo lường bằng chỉ số giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ), và xem xét tác động gián tiếp của CBTT tự nguyện lên giá trị nội tại của doanh nghiệp (thông qua tác động lên chi phí

sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp) Tuy nhiên, nghiên cứu này có một số hạn chế như sau: (1) dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ BCTN năm 2009 của 199 công ty phi tài chính niêm yết Việt Nam Sau hơn 10 năm hoàn thiện hệ thống pháp

lý và cải thiện môi trường kinh doanh, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi,

do vậy cần thiết phải thực hiện nghiên cứu mới (2) mục đích chính của nghiên cứu

là xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến sự biến động của thị trường chứng khoán mà ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp chỉ là một nội dung bên trong Chính vì vậy, lý thuyết về ảnh hưởng của CBTT tự nguyện lên giá trị doanh nghiệp còn chưa được hệ thống hoá một cách đầy đủ (3) Nghiên cứu này chưa xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới giá trị thị trường của doanh nghiệp một cách trực tiếp mà sử dụng chỉ số giá trị thị trường trên giá trị ghi sổ làm thước đo tương đối cho giá trị thị trường của doanh nghiệp (4) Nghiên cứu sử dụng

mô hình CAPM để ước tính chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu và chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp, mà cách ước tính này có một số hạn chế nhất định do không xét đến vai trò của thông tin (Botosan, 1997) Các nghiên cứu khác về chủ

đề ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam hầu hết chỉ xem xét từng khía cạnh đơn lẻ của giá trị doanh nghiệp như chi phí vốn chủ sở hữu (Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc, 2019, Nguyen, D V., & Nguyen, L T N., 2017), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Nguyễn Văn Bảo, 2020), hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Tạ Thị Thúy Hằng, 2019; Hồ Ngọc Thảo Trang và Liafisu Sina Yekini, 2014), do vậy các lý thuyết giải thích ảnh hưởng của CBTT tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp trong các nghiên cứu này cũng chưa được phân

Trang 35

tích và trình bày một cách đầy đủ Để khắc phục được những nhược điểm của các nghiên cứu trước, Luận án này sẽ hệ thống lại một cách đầy đủ hơn về các lý thuyết liên quan và xem xét ảnh hưởng của CBTT tự nguyện tới giá trị doanh nghiệp một cách trực tiếp thông qua thông tin về giá trị thị trường của doanh nghiệp và gián tiếp thông qua chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu của luận

án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo tại Việt Nam về chủ

đề này

Th ứ ba, khi nghiên cứu tác động của CBTT tự nguyện lên chi phí vốn chủ sở

hữu từ đó ảnh hưởng tới giá trị nội tại của doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam thường ước lượng chi phí vốn chủ sở hữu dựa trên mô hình CAPM (Bình, 2014; Thái và Lộc, 2019) Tuy nhiên, các nghiên cứu trước nói rằng những mô hình truyền thống như CAPM đều giả định rằng mọi thông tin phù hợp đã được phản ảnh trong giá

ở mọi thời điểm, do đó thông tin bất cân xứng ko ảnh hưởng tới giá Hay nói cách khác, trong mô hình CAPM không xét đến vai trò của thông tin (Botosan, 1997; Francis và cộng sự, 2004) Chỉ có nghiên cứu của Dũng và Lan (2017) ước lượng chi phí vốn chủ sở hữu dựa trên mô hình chiết khấu cổ tức Song do khó khăn trong việc thu thập dữ liệu về dự báo KQKD của nhà phân tích, hai tác giả sử dụng thông tin tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ trả cổ tức trong quá khứ để tự ước tính KQKD trong tương lai của doanh nghiệp Botosan và cộng sự (2011) đã nói rằng việc thay thế dự báo của nhà phân tích bằng giá trị thực tế của lợi nhuận/dòng tiền có thể dẫn đến các ước tính chệch một cách có hệ thống, chi phí vốn ước tính theo cách này không còn là chi phí vốn chủ ngầm định đúng nghĩa Việc ước tính chi phí vốn chủ sở hữu bằng cách nhà nghiên cứu sử dụng thông tin trong quá khứ để tự ước tính lợi nhuận/dòng tiền trong tương lai, chịu ảnh hưởng bởi kinh nghiệm, quan điểm cá nhân của nhà nghiên cứu Hơn nữa, mức độ thông tin mà nhà nghiên cứu có thể tiếp cận khác rất nhiều so với mức độ thông tin mà các nhà phân tích (đại diện cho các tổ chức tài chính) có thể tiếp cận Do vậy, luận án này là một trong những nghiên cứu đầu tiên

ở Việt Nam ước tính chi phí vốn chủ ngầm định dựa trên dự báo KQKD của nhà phân tích Sử dụng thang đo mới với nhiều ưu điểm để ước tính chi phí vốn chủ sở hữu, kết

Trang 36

quả nghiên cứu có tác dụng kiểm chứng lại các kết quả nghiên cứu trước đây và góp phần trả lời câu hỏi quan trọng đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước: CBTT tự nguyện có mang lại lợi ích, làm gia tăng giá trị doanh nghiệp hay không

Từ những phân tích trên có thể thấy đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của công

b ố thông tin tự nguyện đến giá trị doanh nghiệp tại các công ty phi tài chính niêm y ết trên thị trường chứng khoán Việt Nam ” là một đề tài có tính mới, cần

được nghiên cứu tại Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ

2.1 Những vấn đề chung về công bố thông tin tự nguyện

2.1.1 Khái niệm về công bố thông tin ra công chúng

Doanh nghiệp với vai trò là một chủ thể gắn liền và tồn tại trong mối quan hệ với xã hội, do đó hoạt động của doanh nghiệp ít nhiều cũng nhận được sự quan tâm của cộng đồng Khi doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chưa phải là công ty đại chúng, hoạt động của doanh nghiệp chỉ ảnh hưởng đến một số đối tượng trong xã hội như: người tiêu dùng, một số ít các cổ đông hay chủ sở hữu của doanh nghiệp,… Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát triển lên, trở thành công ty đại chúng hay công ty niêm yết, hoạt động của doanh nghiệp nhận được sự quan tâm rất lớn bởi cộng đồng Để đáp ứng nhu cầu thông tin của các bên liên quan, doanh nghiệp cần phải công bố thông tin ra công chúng Trong các nghiên cứu trước, việc công bố thông tin ra công chúng được xem xét dưới rất nhiều góc độ khác nhau:

Luật chứng khoán Việt Nam (2019) dành hẳn chương VIII để quy định về công bố thông tin, trong đó nêu rõ các đối tượng công bố thông tin, nguyên tắc công

bố thông tin và yêu cầu về công bố thông tin đối với từng đối tượng, song không nêu khái niệm công bố thông tin là gì

Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF (2000) định nghĩa: "Công bố công khai (public

disclosure) đề cập đến hành động làm cho thông tin hoặc dữ liệu được sẵn sàng truy c ập và sẵn có đối với tất cả các cá nhân và tổ chức quan tâm Một số ví dụ về các hình th ức khác nhau của công bố công khai là: tuyên bố bằng lời nói hoặc văn

b ản được công bố trên một diễn đàn công khai, trên phương tiện truyền thông hoặc công b ố cho công chúng; xuất bản trong một bản tin chính thức, công báo, báo cáo,

ho ặc tài liệu độc lập; và thông tin được đăng trên một trang web"

Trang 38

Nguyễn Thuỳ Dương (2016) đã định nghĩa: Công bố thông tin của công ty

đại chúng trên thị trường chứng khoán dưới góc độ xã hội “là việc công ty đại

chúng cung c ấp rộng rãi các thông tin tài chính hoặc phi tài chính liên quan đến các m ặt hoạt động của mình mà công chúng đầu tư có thể dễ dàng tiếp cận được thông tin đó”; và dưới góc độ pháp lý “là việc công ty tuân thủ các yêu cầu về chế

độ báo cáo, công khai thông tin ra công chúng theo quy định pháp luật”

Gibbins và cộng sự (1990) khi nghiên cứu về việc công bố thông tin tài chính

của doanh nghiệp lại định nghĩa “công bố thông tin tài chính là việc công bố có chủ

đích thông tin tài chính, bất kể dưới hình thức số liệu hay định tính, bắt buộc hay tự nguy ện, thông qua kênh chính thống hay không”

Khái niệm công bố công khai đưa ra bởi IMF là khái niệm chung và rộng nhất, phù hợp để áp dụng với nhiều loại tổ chức kinh tế chính trị khác nhau Khái niệm của Nguyễn Thuỳ Dương (2016) về việc công bố thông tin của công ty đại chúng dưới góc độ xã hội chỉ tập trung vào chủ thể công bố thông tin là các công ty đại chúng và đối tượng sử dụng thông tin là các nhà đầu tư Khái niệm công bố thông tin của công ty đại chúng dưới góc độ pháp lý của Nguyễn Thuỳ Dương (2016) và công bố thông tin tài chính của Gibbins và cộng sự (1990) thì chỉ tập trung vào một bộ phận thông tin công bố bởi doanh nghiệp, là thông tin bắt buộc và thông tin tài chính

Dựa trên những khái niệm nói trên, để thể hiện khái niệm công bố thông tin

ra công chúng một cách đầy đủ, phù hợp với đối tượng công bố thông tin là doanh nghiệp, tác giả định nghĩa:

Vi ệc công bố thông tin ra công chúng là việc doanh nghiệp công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp sao cho tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của doanh nghiệp đều có thể tiếp cận được một cách d ễ dàng

Trong nghiên cứu này, việc công bố thông tin ra công chúng của doanh nghiệp được gọi tắt là công bố thông tin của doanh nghiệp

Trang 39

2.1.2 Khái niệm công bố thông tin tự nguyện

Các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú Căn cứ trên các tính chất khác nhau của thông tin công bố, hoạt động công bố thông tin ra công chúng của doanh nghiệp cũng được chia thành nhiều loại khác nhau tương ứng Dựa trên tính chất bắt buộc công bố của thông tin, hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp được phân thành hai loại: Công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin tự nguyện Hai khái niệm này thường được được hiểu với

ý nghĩa loại trừ nhau Công bố thông tin bắt buộc thì không phải là công bố thông tin tự nguyện hoặc ngược lại

Hai loại công bố thông tin này cũng đã được nhiều nghiên cứu trước đây đề cập đến và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:

Meek, Roberts và Gray (1995) định nghĩa: công bố thông tin tự nguyện là

vi ệc công bố nhiều hơn luật định, việc này thể hiện lựa chọn tự do của nhà quản lý trong vi ệc cung cấp các thông tin kế toán và thông tin khác phù hợp với nhu cầu

c ủa người sử dụng báo cáo thường niên

Tian và Chen (2009) định nghĩa rằng: Công bố thông tin bắt buộc có nghĩa là các nghĩa vụ công bố thông tin của các công ty niêm yết dựa trên các quy định pháp luật, luật lệ tương ứng như luật doanh nghiệp, luật chứng khoán, luật kế toán, và các

luật khác do các cơ quan pháp lý ban hành "Công bố thông tin tự nguyện có nghĩa,

ngoại trừ việc công bố bắt buộc, các công ty niêm yết công bố thông tin một cách tự nguyện vì hình ảnh của công ty, vì nhà đầu tư và để tránh rủi ro bị buộc tội"

Hassan và Marston (2010) phân loại công bố thông tin thành 2 nhóm: CBTT

bắt buộc và CBTT tự nguyện CBTT bắt buộc là những thông tin được công bố

nhằm hoàn thành các yêu cầu về công bố theo quy định của luật, quy tắc nghề nghiệp dưới dạng các chuẩn mực và các quy định niêm yết của sở giao dịch chứng khoán Công bố thông tin tự nguyện là việc công bố bất kỳ thông tin gì ngoài những thông tin bắt buộc CBTT tự nguyện có thể gồm CBTT được khuyến nghị bởi một cơ quan hoặc điều luật có thẩm quyền

Trang 40

Báo cáo cải tiến doanh nghiệp lập bởi Dự án nghiên cứu báo cáo doanh

nghiệp (BRRP) của FASB lại định nghĩa: công bố thông tin tự nguyện là việc công

bố thông tin một cách tự nguyện bởi các công ty niêm yết, mà không phải là các thông tin tài chính cơ bản theo yêu cầu của các nguyên tắc kế toán và của các cơ quan quản lý chứng khoán

Từ những khái niệm trên, có thể hiểu việc công bố thông tin tự nguyện là việc doanh nghiệp công bố rộng rãi những thông tin khác mà những thông tin này không được yêu cầu bởi pháp luật, quy định của tổ chức hành nghề hoặc quy định của sàn chứng khoán,… cho tất cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân chia ranh giới giữa CBTT tự nguyện và CBTT bắt buộc nhiều lúc không rõ ràng Bởi vì có thể quy định pháp luật, quy định của tổ chức hành nghề hoặc sàn chứng khoán nơi công ty niêm yết có yêu cầu doanh nghiệp phải công bố một loại thông tin nhưng thông tin đó lại không được quy định chi tiết, cụ thể hoặc không có chế tài xử phạt nếu doanh nghiệp công bố thông tin sai, điều này dẫn đến mỗi doanh nghiệp công bố thông tin đó một kiểu và không công bố cũng không sao Ví dụ: tại Việt Nam, luật doanh nghiệp năm 2014 yêu cầu các doanh nghiệp phải trình bày kế hoạch kinh doanh trong năm tới, nhưng không nêu cụ thể kế hoạch kinh doanh năm tới gồm những thông tin gì Do đó, có những doanh nghiệp đưa ra dự báo lợi nhuận trước thuế, có những doanh nghiệp đưa ra dự báo lợi nhuận sau thuế, có những doanh nghiệp đưa ra dự báo điểm (một con số KQKD cụ thể), khoảng đóng (một phạm vi biến động của KQKD) hoặc khoảng mở (chỉ đưa ra dự báo KQKD thấp nhất hoặc cao nhất) Hay như báo cáo bộ phận, tại Việt Nam, Bộ tài chính đã ban hành chuẩn mực kế toán số 28 Báo cáo bộ phận, song do không có chế tài xử lý vi phạm hoạt động CBTT nên tỷ lệ thuân thủ việc CBTT bộ phận ở các CTNY trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh năm 2013 chỉ đạt 59% (Lê Thị Hà, 2015)

Do đó, khái niệm CBTT tự nguyện còn có thể hiểu một cách rộng hơn là việc

Ngày đăng: 03/11/2022, 18:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w