Hợp đồng bảo hiểm: là một loại hợp đồng dân sự. Vì vậy ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm, HĐBH còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự. Do đó, khái niệm về HĐBH được nhìn nhận thông qua hai luật là Bộ luật dân sự 2015 và Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019). Về hợp đồng nói chung, Điều 385 BLDS 2015 quy định như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự”. Ở khoản 1 Điều 12 LKDBH hiện hành thì quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.” Hình thức HĐBH: Theo quy định tại Điều 14 LKDBH hiện hành thì: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.”
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM, NỘI DUNG CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM MỐI QUAN HỆ GIỮA GIẤY CHỨNG NHẬN
BẢO HIỂM, ĐƠN BẢO HIỂM VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Môn học: Pháp luật kinh doanh bảo hiểm Giảng viên giảng dạy: ThS Bạch Thị Nhã Nam
Nhóm thực hiện: Nhóm 8 Lớp:, thứ 3 ca 3
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2019
Trang 22.3 Điểm mới giữa quy định về hình thức của HĐBH trong BLDS 2005 và BLDS 2015 5
3.2 Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản 6 3.3 Phạm vi, điều khoản, thời hạn và điều kiện 7
3.3.2 Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm: 8 3.3.3 Điều khoản về thời hạn, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm: 8
4 Mối quan hệ giữa Giấy chứng nhận bảo hiểm, Đơn bảo hiểm và HĐBH 16
4.2 So sánh Giấy chứng nhận bảo hiểm và Đơn bảo hiểm 17 4.3 Mối quan hệ giữa đơn bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm 18
5 Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình nền kinh tế Việt Nam phát triển, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung Ngành bảo hiểm nước ta bắt đầu phát triển khi thể chế độc quyền kinh doanh bảo hiểm được xoá bỏ theo Nghị định 100/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993 Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã
có những bước tiến đáng kể và nếu được phát triển đúng hướng, góp phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích những vấn đề xoay quanh hợp đồng bảo hiểm để có cái nhìn chính xác và toàn diện là rất cần thiết
Nhận thức rõ được tầm quan trọng đó, nhóm 8 đã tìm hiểu và biên soạn bài tiểu luận với chủ đề “Hình thức của hợp đồng bảo hiểm, nội dung các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm Mối quan hệ giữa giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm”
Bài tiểu luận có bố cục cụ thể như sau:
A - LÝ THUYẾT CHUNG
1 Các khái niệm chung
2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm
3 Phân tích nội dung của các điều khoản
4 Mối quan hệ giữa Giấy chứng nhận bảo hiểm, Đơn bảo hiểm và Hợp đồng bảo hiểm
B - BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Trang 4BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 5A - LÝ THUYẾT CHUNG
1 Các khái niệm chung
- Hợp đồng bảo hiểm: là một loại hợp đồng dân sự Vì vậy ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm, HĐBH còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự Do đó, khái niệm về HĐBH được nhìn nhận thông qua hai luật là Bộ luật dân sự 2015 và Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010, 2019) Về hợp đồng nói chung, Điều 385 BLDS 2015 quy định như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự” Ở khoản 1 Điều 12 LKDBH hiện hành thì quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo
đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm.”
- Hình thức HĐBH: Theo quy định tại Điều 14 LKDBH hiện hành thì:
“Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản
Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.”
của các chủ thể mà còn “Là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp
1
Khoản 1 Điều 401 BLDS 2015
Trang 6luật có quy định” 2, là bằng chứng thể hiện việc các chủ thể tham gia giao kết hơp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên khi có tranh chấp xảy ra
Vì thế, các hợp đồng dân sự có thể được thiết lập bằng lời nói, hành vi hoặc văn bản Nếu pháp luật không có quy định thì các chủ thể có thể chọn một trong ba hình thức để xác lập hợp đồng Nhưng trong trường hợp pháp luật có quy định cụ
thể, ở đây là Điều 14 LKDBH hiện hành đã yêu cầu: “Hợp đồng bảo hiểm phải lập
thành văn bản.”
Vậy vì sao HĐBH phải lập thành văn văn bản?
- Có nhiều lí do khiến cho hình thức HĐBH bằng văn bản được đặt ra
+ Thứ nhất, do yêu cầu an toàn trong kinh doanh bảo hiểm và tính phức tạp của
hoạt động bảo hiểm trong việc xác định rủi ro và định phí Đảm bảo của người bảo hiểm đối với người được bảo hiểm không đơn thuần như việc bán một món hàng được thể hiện bằng hiện vật cụ thể mà ở đây chỉ là những cam kết
+ Thứ hai, thời gian thực hiện hợp đồng kéo dài có khi nhiều năm, thậm chí trên
20 năm như trường hợp bảo hiểm nhân thọ
+ Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm có khả năng chuyển nhượng Đây là một quy định
căn cứ vào thực tiễn, đặc biệt là trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu Nếu không có quy định này, sẽ dẫn đến tình trạng hàng hóa không được bảo hiểm khi người nhập hàng bán hàng cho người khác
+ Thứ tư, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bồi thường Sau khi tổn thất xảy ra, lợi
ích tài chính của người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm sẽ khác về nội dung mà
họ đã thỏa thuận trước đó nếu các thỏa thuận đó không được ghi lại bằng văn bản
Như vậy, pháp luật quy định hình thức của hợp đồng bảo hiểm là văn bản nhằm nâng cao độ chính xác thực về những nội dung đã cam kết Khi có tranh
2
Khoản 2 Điều 17 BLDS 2015
Trang 7chấp, hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn cho các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình
2.3 Điểm mới giữa quy định về hình thức của HĐBH trong BLDS 2005 và BLDS 2015
- Quy định về HĐBH đã được rút khỏi BLDS 2015 và được điều chỉnh bởi LKDBH Hơn nữa, về hình thức của HĐBH cũng không có nhiều sự khác nhau giữa BLDS 2005 và LKDBH hiện hành
- Việc rút quy định về HĐBH khỏi BLDS 2015 nhằm mục đích giảm sự phức tạp khi phải dựa vào cả luật chuyên ngành và BLDS, nhất là trong điều kiện thực tế pháp lý, thực tế hoạt động liên quan đến bảo hiểm mang tính chuyên ngành cao Từ
đó, việc áp dụng luật sẽ ít bất cập hơn, không còn sự chồng chéo về quy định Tuy nhiên, có những vấn đề mà trong LKDBH nếu không đề cập mà có tranh chấp xảy
ra, luật được áp dụng sẽ là BLDS 2015 hoặc những luật khác có liên quan
3 Phân tích nội dung của các điều khoản
3.1 Đối tƣợng bảo hiểm
Tùy vào từng loại HĐBH thì đối tượng bảo hiểm sẽ khác nhau
- Bảo hiểm tài sản: Là loại bảo hiểm lấy tài sản (bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ
trị giá được bằng tiền và quyền tài sản) làm đối tượng bảo hiểm 3
- Bảo hiểm con người: Đối tượng của các loại hình này, chính là tuổi thọ, tính
mạng, sức khỏe và tai nạn con người 4
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của
người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định của pháp luật 5
Trang 83.2 Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản đƣợc bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
- Giá trị tài sản đƣợc bảo hiểm: là giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm giao kết
HĐBH Giá trị bảo hiểm được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau
+ Với tài sản mới, giá trị bảo hiểm khi mua bảo hiểm tài sản được xác định bằng giá trị mua mới trên thị trường cộng với chi phí vận chuyển, lắp đặt hoặc chi phí làm mới, xây dựng mới tài sản
+ Với tài sản đã qua sử dụng, giá trị bảo hiểm của tài sản có thể xác định bằng giá trị còn lại (nguyên giá tài sản trừ đi khấu hao), giá trị đánh giá lại (theo kết luận của hội đồng thẩm định giá hoặc các chuyên gia giám định độc lập), hoặc theo cách khác
- Số tiền bảo hiểm: là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm và công
ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho tài sản Căn cứ để thỏa thuận số tiền bảo hiểm trong HĐBH tài sản là giá trị bảo hiểm Người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm không được thỏa thuận để bảo hiểm cho tài sản với số tiền bảo hiểm cao hơn giá trị bảo hiểm Số tiền bảo hiểm trong HĐBH tài sản là căn cứ để công ty bảo hiểm định phí bảo hiểm và xác định trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tổn thất đối với tài sản được bảo hiểm
Tùy theo HĐBH có cách xác định số tiền bảo hiểm khác nhau:
+ Đối với bảo hiểm tài sản: là số tiền bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm dựa trên
cơ sở giá trị thực tế Theo đó khoản 1 điều 42 LKDBH hiện hành có quy định như
sau: “Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm
cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị” Vậy nên, theo ý muốn của các bên thì số tiền bảo hiểm
chỉ có thể bằng hoặc thấp hơn giá trị thị trường của tài sản bảo hiểm chứ không được vượt quá giá trị thị trường của tài sản lúc giao kết
Trang 9Việc “doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị mà tài sản thực tế có” là một phương pháp bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm Nếu một hợp đồng mà giá trị bảo hiểm của tài sản lại cao hơn giá trị thị trường của tài sản lúc giao kết, thì trong trường hợp sự kiện bảo hiểm xảy ra, có hai trường hợp có thể xảy ra: Một là công ty bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi thiệt hại là quá lớn vì lý do số tiền doanh nghiệp phải bồi thường trên giá trị lúc ký kết là quá cao so giá trị của tài sản đã bị giảm ở tương lai; hai là công ty bảo hiểm sẽ thu lợi trên khoản chênh lệch dư ra nếu tổn thất thực
tế có giá trị nhỏ hơn giá trị của tài sản thực tế đã tăng ở tương lai so với lúc ký kết hợp đồng
Tuy nhiên, luật cũng để lại một lối giải quyết trong trường hợp phát hiện hợp đồng bảo hiểm giá trị tài sản bảo hiểm lớn hơn giá trị thực tế của tài sản được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá trị thị trường của tài sản bảo hiểm, sau khi trừ các chi phí hợp lý có liên quan Trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không vượt quá giá trị thị trường của tài sản được bảo hiểm, theo khoản 2 điều 42
Do đó, nếu một phần của hợp đồng bảo hiểm xem như không có hiệu lực và không được bồi thường, bên mua bảo hiểm cũng không được hoàn trả phần phí bảo hiểm đã có phần giá trị vượt quá do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm
+ Đối với bảo hiểm con người: Điều 32 LKDBH hiện hành có quy định: “Số tiền
bảo hiểm hoặc phương thức xác định số tiền bảo hiểm được bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”
3.3 Phạm vi, điều khoản, thời hạn và điều kiện
3.3.1 Cơ sở pháp lý
Điều 13 LKDBH hiện hành
Trang 103.3.2 Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm và điều khoản bảo hiểm:
- Phạm vi bảo hiểm là giới hạn trách nhiệm gánh vác rủi ro của doanh nghiệp bảo
hiểm do người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra theo quy định trong HĐBH
Các rủi ro trong phạm vi bảo hiểm phải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Rủi ro phải có khả năng xảy ra;
+ Rủi ro xảy ra không xác định được thời điểm;
+ Rủi ro chưa xảy ra, nếu rủi ro đã xảy ra thì hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực
- Điều kiện bảo hiểm là người tham gia bảo hiểm phải có một mối liên hệ nhất định
với đối tượng được bảo hiểm đã được pháp luật công nhận
+ Trong HĐBH tài sản, bên tham gia bảo hiểm phải là chủ sở hữu của tài sản được bảo hiểm Nhưng ngoài quyền sở hữu, một người cũng có thể mua bảo hiểm tài sản cho tài sản mà họ có quyền sử dụng đối với tài sản đó và khi tài sản đó bị thiệt hại thì họ cũng bị mất đi một lợi ích nhất định
+ Trong HĐBH con người, mối liên hệ giữa người tham gia bảo hiểm với đối tượng được bảo hiểm là mối liên hệ trực tiếp giữa người tham gia bảo hiểm với thiệt hại xảy ra theo đó họ là người gánh chịu tổn thất Vì vậy, người tham gia bảo hiểm được coi là người có quyền lợi có thể được bảo hiểm nếu đối tượng bảo hiểm
là chính bản thân họ hoặc là những người có quan hệ nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng
+ Đối tượng được bảo hiểm phải trong trạng thái bình thường
3.3.3 Điều khoản về thời hạn, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm:
- Thời hạn bảo hiểm là khoản thời gian doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trách
nhiệm bảo hiểm Trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm bắt đầu từ thời điểm HĐBH có hiệu lực và bên mua bảo hiểm đã nộp phí bảo hiểm Thời hạn bảo
Trang 11hiểm do các bên tự thỏa thuận trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Có 2 cách tính thời hạn bảo hiểm: tính theo thời hạn hoặc tính theo vụ việc
- Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm được xác định từ khi sự kiện bảo
hiểm đã được thỏa thuận trong HĐBH xảy ra Tuy nhiên, trách nhiệm bảo hiểm chỉ phát sinh khi hội đủ các điều kiện sau:
+ HĐBH đã giao kết hoặc có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm
+ Bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm (việc đóng phí bảo hiểm có thể do các bên tự thỏa thuận như: đóng phí nhiều kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm cho bên bảo hiểm nợ phí bảo hiểm…)
Nói cách khác, khi thời điểm sự kiện bảo hiểm xảy ra, muốn phát sinh trách nhiệm bồi thường thì gồm phải có bằng chứng về thỏa thuận bảo hiểm được ký kết của các bên về sự kiện bảo hiểm và bên mua bảo hiểm phải hoàn tất nghĩa vụ quan trọng nhất của mình, nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm
3.4 Điều khoản loại trừ:
Theo điều 16 Luật KDBHhiện hành có quy định cụ thể như sau:
“Điều 16 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
1 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
2 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng
3 Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:
Trang 12a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;
b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
- Thông thường loại trừ trách nhiệm bảo hiểm bao gồm các trường hợp sau:\
+ Những thiệt hại hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra do lỗi cố ý của người tham gia bảo hiểm hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm (khi việc chi trả quyền lợi bảo hiểm đem lại lợi ích cho những người nói trên mà bản thân họ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại hoặc rủi ro sự kiện bảo hiểm) như tự tử, đánh nhau (không phải phòng vệ chính đáng), vi phạm pháp luật, không tuân thủ uống thuốc theo đơn chỉ định của bác sỹ, không tuân thủ nội quy an toàn lao động bị tai nạn lao động, …
+ Biết được sự kiện xảy ra mới mua bảo hiểm như phát hiện có bệnh mới bắt đầu tham gia bảo hiểm cho bệnh này (không khai báo), có thai mới mua bảo hiểm thai sản, …
+ Thiệt hại được bảo hiểm xảy ra mang tính chất thảm họa gây ra bởi động đất, sóng thần, núi lửa phun, chiến tranh, đình công, bạo động bạo loạn Ví dụ, điển hình là trận sóng thần (Tsunami) xảy ra năm 2004 làm vài chục ngàn người bị chết Mặc dù pháp luật các nước đều có những quy định rất chặt chẽ đối với các doanh nghiệp bảo hiểm về việc lập quỹ dự phòng bồi thường, dự phòng tổn thất lớn (dự phòng đảm bảo cân đối) nhưng các quỹ này chỉ là để bồi thường cho những trường hợp tử vong và thương tật trong điều kiện bình thường của cuộc sống vì phí bảo hiểm được tính dựa trên cơ sở một bảng tỷ lệ rủi ro (tử vong, thương tật …) thông thường Trở lại với ví dụ sóng thần Tsunami, giả sử hơn 40% số người chết đó tham gia bảo hiểm tại một doanh nghiệp bảo hiểm và nếu doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả số tiền bảo hiểm cho các trường hợp tử vong này thì rất có thể sẽ đưa đến việc mất khả năng thanh toán do cùng một lúc phải chi trả một khoản tiền quá lớn.Vì vậy, khi tính phí bảo hiểm theo tỷ lệ rủi ro thông thường doanh nghiệp bảo hiểm cần phải quy định loại trừ trách nhiệm bảo hiểm đối với trường hợp này
Trang 13nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh Trên thực tế, một số doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cả những thảm hoạ như động đất, núi nửa … Sở dĩ các doanh nghiệp này thể chấp nhận bảo hiểm với các thảm hoạ là vì họ đã tính phí bảo hiểm cho rủi ro thảm hoạ này mặc dù trên thực tế những rủi ro mang tính thảm hoạ rất khó dự đoán và định lượng
+ Thiệt hại gián tiếp như giảm sút giá trị thương mại (khi khắc phục tài sản bị tổn thất), giảm giá, mất thị trường hoặc thiệt hại kinh doanh (đối với bảo hiểm tài sản đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh không bồi thường thiệt hại về thu nhập kinh doanh mang lại từ tài sản đó kể từ khi thiệt hại đến khi khắc phục xong) + Thiệt hại tài sản do bị trộm cắp trong tai nạn và thiệt hại các tài sản mang theo không được kê khai rõ ràng để được bảo hiểm như tiền, vàng bạc, đá quý, trang sức, hành lý, tranh cổ, hài cốt, …
+ Các trường hợp áp dụng chế tài không chi trả tiền bảo hiểm khi người mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm vi phạm việc cung cấp thông tin về rủi ro được bảo hiểm hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 5 ngày làm việc) kể từ khi họ biết thông tin này (trừ trường hợp bất khả kháng theo Luật quy định)
+ Các rủi ro, sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm khác đã có trên thị trường như bảo hiểm tài sản có hoặc không bảo hiểm cho bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, bảo hiểm trách nhiệm người sử dụng lao động, bảo hiểm trộm cắp, bảo hiểm tai nạn lao động,…
+ Thu hẹp phạm vi bảo hiểm của một sản phẩm bảo hiểm đã có trên thị trường bằng cách cụ thể hoá các điều khoản được nêu trong hợp đồng, liệt kê thêm một số loại trừ trách nhiệm bảo hiểm (rủi ro, sự kiện không được bảo hiểm) để hình thành
ra sản phẩm bảo hiểm mới (như bảo hiểm hàng hóa vật chất có điều khoản bảo hiểm A, B, C; bảo hiểm tai nạn con người có các điều khoản bảo hiểm về tử vong, tai nạn và điều trị ốm đau) Từ đó, doanh nghiệp bảo hiểm có thể giảm thiểu được
Trang 14rủi ro tổn thất khi phải chi trả quá nhiều cho một loại bảo hiểm Điều này không
giống với trường hợp tái bảo hiểm, bởi lẽ, tái bảo hiểm là một loại nghiệp vụ mà
doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để chuyển một phần trách nhiệm đã chấp nhận với người được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho doanh nghiệp bảo hiểm đó một phần chi phí bảo hiểm thông qua hợp đồng tái bảo hiểm Còn trường hợp nêu trên, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có thể tự chi trả cho hợp đồng bảo hiểm đã ký với bên mua bảo hiểm, khi đã thu hẹp được phạm vi bảo hiểm thông qua các điều khoản loại trừ, nhằm cụ thể hoá hơn loại bảo hiểm đó để không thuộc vào phạm vi bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm khác đã có trên thị trường và đồng thời, giảm thiểu khả năng về rủi ro tổn thất có thể xảy ra cho doanh nghiệp bảo hiểm
- Ngoài những phạm vi loại trừ như trên, các doanh nghiệp bảo hiểm còn có thể áp dụng điều khoản loại trừ đối với các trường hợp như: chiến tranh, nội chiến, bạo động, nổi loạn, các hoạt động thể thao nguy hiểm, ảnh hưởng của rượu, bia, ma tuý, các sở thích nguy hiểm, bệnh tật, tàn tật có sẵn…
- Như vậy tất cả các sản phẩm bảo hiểm dù là bảo hiểm mọi rủi ro đều phải có loại trừ bảo hiểm (cho các rủi ro, sự kiện bảo hiểm) xảy ra do lỗi của người được bảo hiểm hoặc do xảy ra thảm họa hoặc thuộc phạm vi bảo hiểm của loại sản phẩm khác thông dụng trên thị trường Việc đề ra loại trừ bảo hiểm là cần thiết và thiết yếu trong tất cả các các sản phẩm bảo hiểm kể cả với sản phẩm bảo hiểm mọi rủi
ro vẫn phải có loại trừ bảo hiểm
- Vậy nên, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là một trong những điều khoản cơ bản bắt buộc phải có của HĐBH đã được pháp điển hoá trong Luật kinh doanh bảo hiểm nhằm:
+ Đảm bảo sự công bằng giữa mức phí đóng và quyền lợi được nhận đồng thời đảm bảo mức phí hợp lý (không quá cao)
Trang 15+ Bảo vệ các giá trị đạo đức, trật tự xã hội cần được thừa nhận và bảo vệ Cụ thể, điều khoản loại trừ còn cho phép doanh nghiệp bảo hiểm từ chối trả tiền bảo hiểm trong những trường hợp đi ngược lại với đạo lý xã hội, nhằm đảm bảo các giá trị nhân văn, bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Ví dụ điển hình cho trường hợp này là người được bảo hiểm chết do bị kết án và chịu hình phạt tử hình
vì đã có hành vi phạm tội “cố ý giết người” Trong trường hợp này, không chỉ dư luận xã hội lên án mà pháp luật của nhiều nước đều cho phép doanh nghiệp bảo hiểm quyền từ chối trả tiền bảo hiểm tử vong bởi cái chết của người được bảo hiểm
là hậu quả của một hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đi ngược lại chuẩn mực đạo đức xã hội
+ Đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp phòng tránh các trường hợp cố tình trục lợi bảo hiểm
+ Đảm bảo chi phí khách hàng phải trả để được bảo vệ trong hợp đồng bảo hiểm ở mức độ chấp nhận được
+ Bảo vệ doanh nghiệp khỏi việc mất khả năng thanh toán do những rủi ro gây thiệt hại lớn, trên diện rộng và không có quy luật rõ ràng
- Việc bảo vệ doanh nghiệp khỏi trường hợp mất khả năng thanh toán cũng chính
là bảo vệ quyền lợi của khách hàng Cụ thể như, hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đều quy định loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm bị chết do hành vi cố ý của người mua bảo hiểm và/hoặc người thụ hưởng hay do hành động tự tử của người được bảo hiểm trong một giai đoạn nhất định, thường là hai năm kể từ ngày phát hành hợp đồng (đây là thời gian đủ để ngăn chặn trường hợp mua bảo hiểm với mục đích trục lợi bảo hiểm cùng với việc tự tử)
- Cách thể hiện loại trừ bảo hiểm của một sản phẩm bảo hiểm trong quy tắc điều khoản, điều kiện bảo hiểm hoặc trong HĐBH của các doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm các hình thức sau đây:
Trang 16+ Tách riêng thành một điều khoản loại trừ bảo hiểm, bao gồm:
* Điều khoản loại trừ chung: được áp dụng chung cho tất cả các điều kiện bảo hiểm ghi trong quy tắc hoặc HĐBH Ví dụ trong bảo hiểm sức khỏe có điều khoản loại trừ chung cho tất cả các điều khoản bảo hiểm tử vong, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm ốm đau hoặc trong bảo hiểm vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu có điều khoản loại trừ chung cho tất cả các điều kiện bảo hiểm A, điều kiện bảo hiểm B, điều kiện bảo hiểm C
* Điều khoản loại trừ riêng cho từng điều kiện bảo hiểm riêng biệt Ví dụ loại trừ riêng cho điều khoản bảo hiểm ốm đau hoặc bảo hiểm tử vong
Ngoài tách riêng thành một điều khoản loại trừ riêng, nội dung loại trừ bảo hiểm còn thể hiện rải rác trong các điều khoản điều kiện bảo hiểm ghi trong quy tắc hoặc HĐBH
Ví dụ: Không thông báo tai nạn tổn thất xảy ra cho doanh nghiệp bảo hiểm được
biết trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra sự kiện trên trừ trường hợp người được bảo hiểm có lý do bất khả kháng, không biết được thời gian xảy ra sự kiện bảo hiểm và khi biết đã báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm Hoặc bảo hiểm bão lốc không bảo hiểm thiệt hại cho nước mưa tràn vào theo các đường lỗ sẵn có trừ khi đường lỗ này do chính bão lốc tạo ra
- Thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm không thể gom tất cả các loại trừ bảo hiểm thành một điều khoản riêng biệt để người tham gia bảo hiểm dễ đọc, dễ yêu cầu giải thích, dễ hiểu, dễ thực hiện vì những lý do sau:
+ Doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải áp dụng quy tắc điều khoản điều kiện bảo hiểm sẵn có theo thông lệ quốc tế được đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng + Doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải áp dụng cách diễn đạt loại trừ bảo hiểm y hệt quy tắc điều khoản, điều kiện bảo hiểm của nhà nhận tái bảo hiểm quốc tế mà họ