MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 4 Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỈ SỐ GNH 5 1.1 Khái quát chỉ số GNH 5 1.1.1. Khái niệm chỉ số GNH 5 1.1.2. Đặc điểm của chỉ số GNH 5 1.1.3. Các yếu tố đánh giá chỉ số GNH 5 1.2 Phát triển kinh tế của quốc gia 6 1.2.1. Khái niệm 6 1.2.2. Các chỉ số đánh giá sự phát triển kinh tế quốc gia 7 1.3 So sánh GNH và một số chỉ số phát triển kinh tế khác 9 1.3.1 Ưu điểm của GNH 9 1.3.2 Tác động của GNH đến sự phát triển kinh tế quốc gia 9 Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ GNH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BHUTAN 10 2.1 Thực trạng tình hình áp dụng chỉ số GNH tại Bhutan 10 2.2 Các yếu tố đánh giá chỉ số GNH tại Bhutan 11 2.3 Ảnh hưởng của GNH đến sự phát triển kinh tế tại Bhutan 14 2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra 20 Chương 3: KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM 23 3.1 Thực trạng và tình hình ứng dụng chỉ số GNH tại Việt Nam 23 3.2 Kinh nghiệm và bài học nhằm phát triển và cải thiện nền kinh tế Việt thông qua GNH 24 KẾT LUẬN 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 LỜI MỞ ĐẦU Vào năm 2011, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 65309 về Hạnh phúc và vào năm 2012, thông qua Ngày Quốc tế Hạnh phúc 203, nhằm hướng tới một định nghĩa toàn diện về sự phát triển. Liên Hiệp Quốc mời các nước thành viên đo lường hạnh phúc của người dân, và đề xuất các quốc gia sử dụng những dữ liệu thu nhập được để điều chỉnh,thay đổi các chính sách của mình. Hành động của Liên Hiệp quốc cho ta thấy một thước đo mới cho sự phát triển tổng giá trị hạnh phúc (GNH). Nó bao hàm toàn bộ sự phát triển kinh tế theo hướng vật chất, tiến bộ xã hội, chất lượng cuộc sống,... Nhận thức được chiến lược phát triển cốt lõi phải xuất phát từ những thứ thật sự làm cho cuộc sống có ý nghĩa, hạnh phúc, trong những năm gần đây, bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng phát triển nền kinh tế các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển bắt đầu quan tâm tới đời sống tinh thần của công dân đất nước mình và chú trọng tới tổng hạnh phúc quốc gia (GNH). Chính vì vậy, tổng hạnh phúc quốc gia ngày càng quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc đánh giá, nhận định sự phát triển của quốc gia đó. Việc tìm ra các yếu tố và phân tích mối quan hệ của chúng đến tổng hạnh phúc quốc gia cũng như các biện pháp để tăng cường luôn được các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển quan tâm. Là một nhóm sinh viên quan tâm tới định nghĩa của sự hạnh phúc và cũng như mối liên hệ của nó với phát triển kinh tế xã hội, nhóm 2 đã quyết định chọn tìm hiểu đề tài “Phân tích ảnh hưởng của chỉ số hạnh phúc quốc gia GNH tới sự phát triển kinh tế tại Bhutan và liên hệ tới Việt Nam. Đề tài với kết cấu 3 chương. Trong chương đầu, chúng em tiến hành tìm hiểu những lý luận chung xung quanh chỉ số GNH và phát triển kinh tế của một quốc gia. Ở chương 2, chúng em đi phân tích sâu vào việc vận dụng chỉ số GNH để đo lường phát triển kinh tế xã hội tại đất nước Bhutan. Cuối cùng, ở chương 3, chúng em đưa ra một số so sánh và liên hệ về việc áp dụng GNH tại Việt Nam và đưa ra một số lưu ý kinh nghiệm. Do còn hạn chế về kiến thức và hiểu biết, trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài trên, bài tiểu luận của chúng em có thể còn tồn tại một số thiếu sót. Chúng em rất mong sẽ nhận được nhận xét và góp ý của cô để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn. Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỈ SỐ GNH 1.1 Khái quát chỉ số GNH 1.1.1. Khái niệm chỉ số GNH Tổng hạnh phúc quốc gia trong tiếng Anh là Gross National Happiness; viết tắt là GNH. Tổng hạnh phúc quốc gia là thước đo tiến bộ kinh tế và đạo đức mà Quốc vương Bhutan đã giới thiệu vào những năm 1970 như là một sự thay thế cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Thay vì tập trung nghiêm ngặt vào các biện pháp kinh tế định lượng thì tổng hạnh phúc quốc gia tính đến sự kết hợp phát triển của các yếu tố chất lượng cuộc sống. Thuật ngữ Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia Gross National Happiness (GNH) được vua Bhutan Jigme Singye Wangchuck đặt ra khi ông lên ngôi năm 1972, thể hiện quyết tâm theo đuổi một con đường phát triển kinh tế chọn lọc và thận trọng qua các phương tiện tâm lý và sinh lý,nhằm bảo vệ môi trường và gìn giữ nền văn hóa tâm linh độc đáo của một xứ sở thấm đẫm tinh thần Phật giáo. Nó là thước đo tiến bộ kinh tế và đạo đức mà Quốc vương Bhutan giới thiệu như một sự thay thế cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP), quan niệm định nghĩa lại sự thịnh vượng trong một tầm nhìn bao quát hơn, đo lường phúc lợi thật sự hơn là chỉ với sự tiêu thụ vật chất. Thay vì tập trung nghiêm ngặt vào các biện pháp kinh tế định lượng thì tổng hạnh phúc quốc gia tính đến kết hợp phát triển của các yếu tố chất lượng cuộc sống. 1.1.2. Đặc điểm của chỉ số GNH Hiến pháp năm 2008 quy định rằng các nhà lập pháp phải tính đến từng điều khoản khi xem xét luật mới. Những trụ cột này cung cấp nền tảng cho hạnh phúc được thể hiện trong 9 lĩnh vực của GNH: phúc lợi tâm lý, mức sống, quản trị tốt, sức khỏe, sức sống cộng đồng, đa dạng văn hóa, sử dụng thời gian và khả năng phục hồi sinh thái. 1.1.3. Các yếu tố đánh giá chỉ số GNH GNH thường được căn cứ vào 4 yếu tố: quản trị tốt, phát triển kinh tế xã hội bền vững, bảo tồn văn hóa và bảo tồn môi trường. Bốn yếu tố chính này đã được phân loại thêm thành các lĩnh vực nhằm tạo ra sự hiểu biết rộng rãi về GNH và phản ánh phạm vi tổng thể của các giá trị GNH. Giá trị Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH) được đề xuất là một hàm chỉ số của tổng bình quân đầu người của các thước đo sau: Sức khỏe kinh tế: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê các chỉ số kinh tế như nợ tiêu dùng, tỷ lệ thu nhập bình quân trên chỉ số giá tiêu dùng và phân phối thu nhập. Sức khỏe môi trường: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê các chỉ số môi trường như ô nhiễm, tiếng ồn và giao thông. Sức khỏe thể chất: Được thể hiện thông qua phép đo thống kê các chỉ số sức khỏe thể chất như bệnh nặng. Sức khỏe tâm thần: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê các chỉ số sức khỏe tâm thần như việc sử dụng thuốc chống trầm cảm và sự gia tăng hoặc suy giảm của bệnh nhân trị liệu tâm lý. Sức khỏe nơi làm việc: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê các chỉ số lao động như đơn xin việc làm, thay đổi công việc, khiếu nại tại nơi làm việc và các vụ kiện. Sức khỏe xã hội: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê các chỉ số xã hội như phân biệt đối xử, an toàn, tỷ lệ ly hôn, khiếu nại về xung đột trong gia đình và các vụ kiện gia đình, các vụ kiện công cộng, tỷ lệ tội phạm. Sức khỏe chính trị: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê các chỉ số chính trị như mức độ dân chủ, tự do cá nhân và xung đột nước ngoài. 1.2 Phát triển kinh tế của quốc gia 1.2.1. Khái niệm Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống và công bằng xã hội. Nền kinh tế phát triển là một khu vực hoặc một nước có mức độ giàu có và các nguồn lực sẵn có cho người dân hoặc công dân của nó. Một nền kinh tế phát triển là một khu vực hay một nước có rất nhiều của cải và tài nguyên có sẵn cho cư dân hoặc công dân của nó. Các nền kinh tế phát triển có xu hướng thể hiện kết quả tốt hơn trên các chỉ số đo lường, đây là cách để đo lường các yếu tố kinh tế và phi kinh tế của một quốc gia. Bốn khía cạnh của một nền kinh tế phát triển tốt hơn là một nền kinh tế hiệu quả, một chính thể đáp ứng, một xã hội bình đẳng và một nền hành chính có năng lực. 1.2.2. Các chỉ số đánh giá sự phát triển kinh tế quốc gia Để đo lượng mức độ phát triển của nền kinh tế, các nhà kinh tế đã xây dựng các chỉ số đo lường các yếu tố nói trên. Các chỉ số kinh tế thường được sử dụng để đo lường sự phát triển kinh tế này là: – Tổng sản phẩm trong nước (GDP): Tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là chỉ tiêu được dùng để đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời gian nhất định GDP chính là một chỉ số quan trọng được dùng để ước tính quy mô nền kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng của một quốc gia. – GDP bình quân đầu người GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu thống kê kinh tế thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh tính bình quân trên đầu người của một quốc gia trong một năm. GDP bình quân đầu người của một quốc gia tại một thời điểm cụ thể sẽ được tính bằng cách lấy GDP của quốc gia tại thời điểm đó chia cho tổng số dân của quốc gia cũng tại thời điểm đó. Chỉ số GDP bình quân đầu người cao tỷ lệ thuận với mức thu nhập cũng như đời sống của người dân ở quốc gia đó. Tuy nhiên, một số quốc gia có chỉ số GDP cao chưa chắc đã là quốc gia có mức sống cao nhất. – Tổng thu nhập quốc dân (GNI) Tổng thu nhập quốc dân GNI là tổng số tiền kiếm được của người dân và doanh nghiệp của một quốc gia. Chỉ tiêu này được sử dụng để đo lường và theo dõi sự giàu có của một quốc gia từ năm này qua năm khác. Con số này bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia cộng với thu nhập nhận được từ các nguồn ở nước ngoài. GNI là một chỉ tiêu thay thế cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để đo lường và theo dõi sự giàu có của một quốc gia và được coi là chính xác hơn ở một số quốc gia. Bên cạnh những chỉ số kinh tế, để đánh giá sự phát triển của một quốc gia, người ta cũng sử dụng một số yếu tố phi kinh tế như: – Chỉ số Phát triển Con người (HDI) – Tổng Hạnh phúc quốc gia Chỉ số Phát triển Con người chỉ định các quốc gia có điểm từ 0 đến 1 bằng cách sử dụng các thước đo như “cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh”, “giáo dục” và “mức sống”, trong khi Chỉ số Tổng Hạnh phúc quốc gia đo lường mức độ hạnh phúc thông qua khảo sát “mức độ hạnh phúc”. Mặc dù các phép đo không liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế, các nền kinh tế phát triển vẫn có xu hướng ghi điểm cao hơn. Hơn nữa, những mối tương quan này làm nổi bật các mối quan hệ quan trọng giữa các yếu tố phi kinh tế và các nền kinh tế năng suất hơn. Nghĩa là, cải thiện tốt hơn các yếu tố phi kinh tế của một quốc gia chẳng hạn như giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho công dân là điều cần thiết để phát triển kinh tế tốt hơn. 1.3 So sánh GNH và một số chỉ số phát triển kinh tế khác 1.3.1 Ưu điểm của GNH Cũng giống như nhiều ᴄhỉ ѕố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễ dàng trong ᴠiệᴄ định nghĩa hơn là đo lường nó một ᴄáᴄh ᴄhính хáᴄ. Thaу ᴄho ᴠiệᴄ nỗ lựᴄ tìm kiếm một ᴄhỉ ѕố đo lường hạnh phúᴄ tổng ᴄộng haу hạnh phúᴄ trung bình, ᴄáᴄ nhà nghiên ᴄứu tìm ᴄáᴄh đo lường mứᴄ độ đạt đượᴄ haу gần đạt đượᴄ một “mứᴄ độ đủ” trong ᴄáᴄ mảng lĩnh ᴠựᴄ hạnh phúᴄ. So với GDP, GDP bình quân đầu người hay GNI, GNH quan tâm nhiều đến sự hạnh phúc của người dân quốc gia nước đó hơn là tập trung vào những con số để tăng trưởng kinh tế. Trong khi GDP không bao gồm уếu tố ᴠốn ᴄon người ᴠà phát triển хã hội, bảo ᴠệ ѕinh thái, do ᴠậу không thể bao hàm ᴄhất lượng ᴄuộᴄ ѕống ᴠà ᴄũng không phản ánh đượᴄ ѕự phân bố bình quân đầu người một ᴄáᴄh trung thựᴄ ở những quốᴄ gia ᴄó mứᴄ ᴄhênh lệᴄh giàu, nghèo ᴄao thì GNH lại quan tâm đến các khía cạnh về con người đặc biệt là sức khoẻ như: Sức khỏe kinh tế, Sức khỏe môi trường, Sức khỏe thể chất, Sức khỏe tâm thần, Sức khỏe nơi làm việc, Sức khỏe xã hội, Sức khỏe chính trị. 1.3.2 Tác động của GNH đến sự phát triển kinh tế quốc gia Hạnh phúc là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ không ngừng của xã hội loài người. Với mức sống ngày càng được nâng cao, việc mưu cầu hạnh phúc của con người ngày càng trở nên cấp thiết hơn. GNH là “công cụ đo lường” cho sự tiến bộ chung của xã hội. Để đo lường sự tiến bộ của một xã hội, tiêu chí quan trọng nhất là nó có thể đáp ứng các yêu cầu cơ bản của sự phát triển toàn diện và hướng về con người hay không, có đáp ứng tốt các nhu cầu kinh tế, chính trị và văn hóa của đông đảo quần chúng hay không và liệu nó có thể phục vụ được nhiều người hay không? Nhờ sự ổn định về mặt xã hội mà Chính phủ hay Nhà nước của quốc gia đó mới có thể an tâm tập trung phát triển kinh tế. Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ GNH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BHUTAN 2.1 Thực trạng tình hình áp dụng chỉ số GNH tại Bhutan Nằm giữa hai cường quốc kinh tế là Trung Quốc và Ấn Độ, với dân số chỉ hơn 760.000 người. Trên bản đồ đất nước Bhutan thể hiện 9 thành phố và thị trấn chính. Địa hình tại Bhutan đa phần là địa hình hiểm trở, núi cao vời vợi tách biệt giữa thế giới. Nơi đây được xem là một nền kinh tế nhỏ do hoạt động mang tính tự cung, tự cấp và bởi sự chia cắt địa hình mà hoạt động giao thương gần như là bị cô lập phần lớn quốc gia. Vương quốc Bhutan được biết đến trên toàn cầu, với thước đo độc đáo để đánh giá về sự phát triển của quốc gia là Chỉ số Tổng hạnh phúc Quốc gia (GNH). Bhutan đã thành lập một Ủy ban Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH), cơ quan có trách nhiệm đảm bảo mọi thứ của đất nước đóng góp cho hạnh phúc nói chung và hạnh phúc của người dân Bhutan. Việc theo đuổi GNH được quy định trong Hiến pháp của Bhutan. Khái niệm chỉ số GNH của Bhutan dựa trên 4 tiêu chuẩn tự túc về kinh tế, môi trường trong sạch, bảo tồn và phát huy văn hóa và chính quyền cai trị tốt dưới hình thức dân chủ. Tình hình kinh tế: GDP bình quân đầu người (GDPngười) của Bhutan là 3.122 USDngười vào năm 2020. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Bhutan đạt 7.80% trong năm 2020, giảm 194 USDngười so với con số 3.316 USDngười của năm 2019. GDP bình quân đầu người của Bhutan năm 2021 dự kiến sẽ đạt 2.939 USDngười nếu nền kinh tế Bhutan vẫn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng GDP và mức dân số như năm vừa rồi. Bhutan còn bán điện sử dụng nước (thủy điện) cho Ấn Độ. Từ lĩnh vực công nghiệp, Bhutan có công nghiệp xi măng, chế biến trái cây, gỗ và du lịch. Bhutan cũng xuất khẩu hàng hóa sang một số nước như Ấn Độ, Bangladesh và Philippines với các mặt hàng chủ lực là điện, thạch cao, thảo quả, thủ công mỹ nghệ, xi măng, đá quý, trái cây, xi măng và gia vị. Các mặt hàng được nước này nhập khẩu chính là xe cộ, gạo, máy móc thiết bị cho đến ngũ cốc do hợp tác với Nhật Bản, Áo và Ấn Độ. Tình hình bảo vệ môi trường: Trong TEDtalk năm 2016, Thủ tướng Bhutan Tshering Tobgay đã tự hào “khoe” với thế giới về thành tựu bảo vệ môi trường của quốc gia, với 72% diện tích quốc gia được bao phủ bởi rừng và cam kết từ chính phủ luôn duy trì carbon ở mức trung tính. Trong những năm qua, Bhutan đã tích cực khai thác điện gió, hầm biogas; hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân, thay vào đó là các phương tiện công cộng, xe đạp, xe buýt điện… để môi trường ngày càng xanh hơn và chung tay vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Đầu năm 2016, hai tuabin gió đầu tiên được xây dựng, khánh thành tại làng Rubesa, quận Wangdue Phodrang, tạo ra 600 kWh điện, đủ cung cấp điện cho 300 hộ dân trong làng. Đây là minh chứng cho thấy, Chính phủ Bhutan tích cực khai thác các nguồn năng lượng tái tạo, đáp ứng nhu cầu điện ngày một tăng. Một trong những quyết tâm chống biến đổi khí hậu được đánh giá cao và ấn tượng nhất của Bhutan là thực hiện hiệu quả Chiến dịch trồng cây gây rừng để duy trì độ che phủ rừng tới 60% diện tích lãnh thổ. Tháng 72015, 100 tình nguyện viên đã trồng 49.672 cây xanh chỉ trong 1 giờ, giúp các cộng đồng dân cư ở vùng núi tránh được tác động của BĐKH, trong đó có nguy cơ sạt lở và lũ quét cao Tình hình phát huy văn hoá: Hai tôn giáo lớn nhất ở Bhutan là Phật giáo và Ấn Độ giáo. Văn hóa của người Bhutan ảnh hưởng rất nhiều từ những giá trị của hai nền tôn giáo này, nhất là Phật giáo. Người Bhutan lấy những điều luật trong tôn giáo làm tôn chỉ sống của họ, họ hướng thiện và thờ kính những vị thần với tất cả lòng thành. Lễ hội là một loại gia vị không thể thiếu đối với đời sống của người Bhutan. Trong đó, Tshechu là lễ hội quan trọng nhất. Mỗi thành phố tổ chức Tshechu theo nhiều cách khác nhau, nhưng đa số thường kéo dài từ 35 ngày, bắt đầu từ 102 âm lịch.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
—o0o—
TIỂU LUẬN KINH TẾ ĐẦU TƯ
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ HẠNH PHÚC QUỐC GIA GNH TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI
BHUTAN VÀ LIÊN HỆ TỚI VIỆT NAM
Trang 21.3.2 Tác động của GNH đến sự phát triển kinh tế quốc gia 9
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ GNH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Thực trạng tình hình áp dụng chỉ số GNH tại Bhutan 10
2.3 Ảnh hưởng của GNH đến sự phát triển kinh tế tại Bhutan 14
3.1 Thực trạng và tình hình ứng dụng chỉ số GNH tại Việt Nam 233.2 Kinh nghiệm và bài học nhằm phát triển và cải thiện nền kinh tế Việt thông qua
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Vào năm 2011, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 65/309
về Hạnh phúc và vào năm 2012, thông qua Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20-3, nhằmhướng tới một định nghĩa toàn diện về sự phát triển Liên Hiệp Quốc mời các nướcthành viên đo lường hạnh phúc của người dân, và đề xuất các quốc gia sử dụng những
dữ liệu thu nhập được để điều chỉnh,thay đổi các chính sách của mình
Hành động của Liên Hiệp quốc cho ta thấy một thước đo mới cho sự phát triển
- tổng giá trị hạnh phúc (GNH) Nó bao hàm toàn bộ sự phát triển kinh tế theo hướngvật chất, tiến bộ xã hội, chất lượng cuộc sống, Nhận thức được chiến lược phát triểncốt lõi phải xuất phát từ những thứ thật sự làm cho cuộc sống có ý nghĩa, hạnh phúc,trong những năm gần đây, bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng phát triển nềnkinh tế các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển bắt đầu quan tâm tới đờisống tinh thần của công dân đất nước mình và chú trọng tới tổng hạnh phúc quốc gia(GNH) Chính vì vậy, tổng hạnh phúc quốc gia ngày càng quan trọng và có ý nghĩa tolớn trong việc đánh giá, nhận định sự phát triển của quốc gia đó Việc tìm ra các yếu tố
và phân tích mối quan hệ của chúng đến tổng hạnh phúc quốc gia cũng như các biệnpháp để tăng cường luôn được các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triểnquan tâm
Là một nhóm sinh viên quan tâm tới định nghĩa của sự hạnh phúc và cũng nhưmối liên hệ của nó với phát triển kinh tế - xã hội, nhóm 2 đã quyết định chọn tìm hiểu
đề tài “Phân tích ảnh hưởng của chỉ số hạnh phúc quốc gia GNH tới sự phát triển kinh
tế tại Bhutan và liên hệ tới Việt Nam" Đề tài với kết cấu 3 chương Trong chươngđầu, chúng em tiến hành tìm hiểu những lý luận chung xung quanh chỉ số GNH vàphát triển kinh tế của một quốc gia Ở chương 2, chúng em đi phân tích sâu vào việcvận dụng chỉ số GNH để đo lường phát triển kinh tế - xã hội tại đất nước Bhutan Cuốicùng, ở chương 3, chúng em đưa ra một số so sánh và liên hệ về việc áp dụng GNH tạiViệt Nam và đưa ra một số lưu ý kinh nghiệm
Do còn hạn chế về kiến thức và hiểu biết, trong quá trình nghiên cứu và tìmhiểu về đề tài trên, bài tiểu luận của chúng em có thể còn tồn tại một số thiếu sót
Trang 4Chúng em rất mong sẽ nhận được nhận xét và góp ý của cô để bài tiểu luận của chúng
em được hoàn thiện hơn
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỈ SỐ GNH
1.1 Khái quát chỉ số GNH
1.1.1 Khái niệm chỉ số GNH
Tổng hạnh phúc quốc gia trong tiếng Anh là Gross National Happiness; viết tắt là GNH.
Tổng hạnh phúc quốc gia là thước đo tiến bộ kinh tế và đạo đức mà Quốc
vương Bhutan đã giới thiệu vào những năm 1970 như là một sự thay thế cho tổng sảnphẩm quốc nội (GDP) Thay vì tập trung nghiêm ngặt vào các biện pháp kinh tế định
lượng thì tổng hạnh phúc quốc gia tính đến sự kết hợp phát triển của các yếu tố chất
lượng cuộc sống
Thuật ngữ Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia - Gross National Happiness (GNH) đượcvua Bhutan Jigme Singye Wangchuck đặt ra khi ông lên ngôi năm 1972, thể hiệnquyết tâm theo đuổi một con đường phát triển kinh tế chọn lọc và thận trọng qua cácphương tiện tâm lý và sinh lý,nhằm bảo vệ môi trường và gìn giữ nền văn hóa tâm linhđộc đáo của một xứ sở thấm đẫm tinh thần Phật giáo Nó là thước đo tiến bộ kinh tế vàđạo đức mà Quốc vương Bhutan giới thiệu như một sự thay thế cho tổng sản phẩmquốc nội (GDP), quan niệm định nghĩa lại sự thịnh vượng trong một tầm nhìn bao quáthơn, đo lường phúc lợi thật sự hơn là chỉ với sự tiêu thụ vật chất Thay vì tập trungnghiêm ngặt vào các biện pháp kinh tế định lượng thì tổng hạnh phúc quốc gia tínhđến kết hợp phát triển của các yếu tố chất lượng cuộc sống
1.1.2 Đặc điểm của chỉ số GNH
Hiến pháp năm 2008 quy định rằng các nhà lập pháp phải tính đến từng điều khoản khixem xét luật mới Những trụ cột này cung cấp nền tảng cho hạnh phúc được thể hiệntrong 9 lĩnh vực của GNH: phúc lợi tâm lý, mức sống, quản trị tốt, sức khỏe, sức sốngcộng đồng, đa dạng văn hóa, sử dụng thời gian và khả năng phục hồi sinh thái
1.1.3 Các yếu tố đánh giá chỉ số GNH
Trang 5GNH thường được căn cứ vào 4 yếu tố: quản trị tốt, phát triển kinh tế - xã hộibền vững, bảo tồn văn hóa và bảo tồn môi trường Bốn yếu tố chính này đã được phânloại thêm thành các lĩnh vực nhằm tạo ra sự hiểu biết rộng rãi về GNH và phản ánhphạm vi tổng thể của các giá trị GNH.
Giá trị Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH) được đề xuất là một hàm chỉ số củatổng bình quân đầu người của các thước đo sau:
Sức khỏe kinh tế: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống kê cácchỉ số kinh tế như nợ tiêu dùng, tỷ lệ thu nhập bình quân trên chỉ số giá tiêu dùng vàphân phối thu nhập
Sức khỏe môi trường: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lườngthống kê các chỉ số môi trường như ô nhiễm, tiếng ồn và giao thông
Sức khỏe thể chất: Được thể hiện thông qua phép đo thống kê các chỉ số sứckhỏe thể chất như bệnh nặng
Sức khỏe tâm thần: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lườngthống kê các chỉ số sức khỏe tâm thần như việc sử dụng thuốc chống trầm cảm và sựgia tăng hoặc suy giảm của bệnh nhân trị liệu tâm lý
Sức khỏe nơi làm việc: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lườngthống kê các chỉ số lao động như đơn xin việc làm, thay đổi công việc, khiếu nại tạinơi làm việc và các vụ kiện
Sức khỏe xã hội: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lường thống
kê các chỉ số xã hội như phân biệt đối xử, an toàn, tỷ lệ ly hôn, khiếu nại về xung độttrong gia đình và các vụ kiện gia đình, các vụ kiện công cộng, tỷ lệ tội phạm
Sức khỏe chính trị: Được thể hiện thông qua khảo sát trực tiếp và đo lườngthống kê các chỉ số chính trị như mức độ dân chủ, tự do cá nhân và xung đột nướcngoài
1.2 Phát triển kinh tế của quốc gia
1.2.1 Khái niệm
Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó
bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế
Trang 6Nền kinh tế phát triển là một khu vực hoặc một nước có mức độ giàu có và cácnguồn lực sẵn có cho người dân hoặc công dân của nó Một nền kinh tế phát triển làmột khu vực hay một nước có rất nhiều của cải và tài nguyên có sẵn cho cư dân hoặccông dân của nó Các nền kinh tế phát triển có xu hướng thể hiện kết quả tốt hơn trêncác chỉ số đo lường, đây là cách để đo lường các yếu tố kinh tế và phi kinh tế của mộtquốc gia Bốn khía cạnh của một nền kinh tế phát triển tốt hơn là một nền kinh tế hiệuquả, một chính thể đáp ứng, một xã hội bình đẳng và một nền hành chính có năng lực.
1.2.2 Các chỉ số đánh giá sự phát triển kinh tế quốc gia
Để đo lượng mức độ phát triển của nền kinh tế, các nhà kinh tế đã xây dựng cácchỉ số đo lường các yếu tố nói trên Các chỉ số kinh tế thường được sử dụng để đolường sự phát triển kinh tế này là:
– Tổng sản phẩm trong nước (GDP):
Tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là chỉ tiêu
được dùng để đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuốicùng được sản xuất trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời gian nhất định
GDP chính là một chỉ số quan trọng được dùng để ước tính quy mô nền kinh tếcũng như tốc độ tăng trưởng của một quốc gia
– GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu thống kê kinh tế thể hiện kết quả sản
xuất kinh doanh tính bình quân trên đầu người của một quốc gia trong một năm GDPbình quân đầu người của một quốc gia tại một thời điểm cụ thể sẽ được tính bằng cáchlấy GDP của quốc gia tại thời điểm đó chia cho tổng số dân của quốc gia cũng tại thờiđiểm đó
Trang 7Chỉ số GDP bình quân đầu người cao tỷ lệ thuận với mức thu nhập cũng nhưđời sống của người dân ở quốc gia đó Tuy nhiên, một số quốc gia có chỉ số GDP caochưa chắc đã là quốc gia có mức sống cao nhất.
– Tổng thu nhập quốc dân (GNI)
Tổng thu nhập quốc dân GNI là tổng số tiền kiếm được của người dân và
doanh nghiệp của một quốc gia Chỉ tiêu này được sử dụng để đo lường và theo dõi sựgiàu có của một quốc gia từ năm này qua năm khác
Con số này bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia cộng với thunhập nhận được từ các nguồn ở nước ngoài
GNI là một chỉ tiêu thay thế cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để đo lường vàtheo dõi sự giàu có của một quốc gia và được coi là chính xác hơn ở một số quốc gia
Bên cạnh những chỉ số kinh tế, để đánh giá sự phát triển của một quốc gia,
người ta cũng sử dụng một số yếu tố phi kinh tế như:
– Chỉ số Phát triển Con người (HDI)
– Tổng Hạnh phúc quốc gia
Chỉ số Phát triển Con người chỉ định các quốc gia có điểm từ 0 đến 1 bằng
cách sử dụng các thước đo như “cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh”, “giáo dục” và “mức
sống”, trong khi Chỉ số Tổng Hạnh phúc quốc gia đo lường mức độ hạnh phúc thông
qua khảo sát “mức độ hạnh phúc” Mặc dù các phép đo không liên quan trực tiếp đếnphát triển kinh tế, các nền kinh tế phát triển vẫn có xu hướng ghi điểm cao hơn Hơnnữa, những mối tương quan này làm nổi bật các mối quan hệ quan trọng giữa các yếu
tố phi kinh tế và các nền kinh tế năng suất hơn Nghĩa là, cải thiện tốt hơn các yếu tốphi kinh tế của một quốc gia chẳng hạn như giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho côngdân là điều cần thiết để phát triển kinh tế tốt hơn
Trang 81.3 So sánh GNH và một số chỉ số phát triển kinh tế khác
1.3.1 Ưu điểm của GNH
Cũng giống như nhiều ᴄhỉ ѕố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễã hội kháᴄ, GNH dường như là dễdàng trong ᴠiệᴄ định nghĩa hơn là đo lường nó một ᴄáᴄh ᴄhính хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễáᴄ Thaу ᴄho ᴠiệᴄ nỗlựᴄ tìm kiếm một ᴄhỉ ѕố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễố đo lường hạnh phúᴄ tổng ᴄộng haу hạnh phúᴄ trung bình, ᴄáᴄnhà nghiên ᴄứu tìm ᴄáᴄh đo lường mứᴄ độ đạt đượᴄ haу gần đạt đượᴄ một “mứᴄ độđủ” trong ᴄáᴄ mảng lĩnh ᴠựᴄ hạnh phúᴄ
So với GDP, GDP bình quân đầu người hay GNI, GNH quan tâm nhiều đến sựhạnh phúc của người dân quốc gia nước đó hơn là tập trung vào những con số để tăngtrưởng kinh tế Trong khi GDP không bao gồm уếu tố ᴠốn ᴄon người ᴠà phát triển хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễãhội, bảo ᴠệ ѕố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễinh thái, do ᴠậу không thể bao hàm ᴄhất lượng ᴄuộᴄ ѕố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễống ᴠà ᴄũng khôngphản ánh đượᴄ ѕố tâm lý ᴠà хã hội kháᴄ, GNH dường như là dễự phân bố bình quân đầu người một ᴄáᴄh trung thựᴄ ở những quốᴄ gia
ᴄó mứᴄ ᴄhênh lệᴄh giàu, nghèo ᴄao thì GNH lại quan tâm đến các khía cạnh về con
người đặc biệt là sức khoẻ như: Sức khỏe kinh tế, Sức khỏe môi trường, Sức khỏe thể
chất, Sức khỏe tâm thần, Sức khỏe nơi làm việc, Sức khỏe xã hội, Sức khỏe chính trị
1.3.2 Tác động của GNH đến sự phát triển kinh tế quốc gia
Hạnh phúc là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ khôngngừng của xã hội loài người Với mức sống ngày càng được nâng cao, việc mưu cầuhạnh phúc của con người ngày càng trở nên cấp thiết hơn
GNH là “công cụ đo lường” cho sự tiến bộ chung của xã hội Để đo lường sựtiến bộ của một xã hội, tiêu chí quan trọng nhất là nó có thể đáp ứng các yêu cầu cơbản của sự phát triển toàn diện và hướng về con người hay không, có đáp ứng tốt cácnhu cầu kinh tế, chính trị và văn hóa của đông đảo quần chúng hay không và liệu nó
có thể phục vụ được nhiều người hay không? Nhờ sự ổn định về mặt xã hội mà Chínhphủ hay Nhà nước của quốc gia đó mới có thể an tâm tập trung phát triển kinh tế
Trang 9Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA CHỈ SỐ GNH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BHUTAN
2.1 Thực trạng tình hình áp dụng chỉ số GNH tại Bhutan
Nằm giữa hai cường quốc kinh tế là Trung Quốc và Ấn Độ, với dân số chỉ hơn760.000 người Trên bản đồ đất nước Bhutan thể hiện 9 thành phố và thị trấn chính.Địa hình tại Bhutan đa phần là địa hình hiểm trở, núi cao vời vợi tách biệt giữa thếgiới Nơi đây được xem là một nền kinh tế nhỏ do hoạt động mang tính tự cung, tự cấp
và bởi sự chia cắt địa hình mà hoạt động giao thương gần như là bị cô lập phần lớnquốc gia
Vương quốc Bhutan được biết đến trên toàn cầu, với thước đo độc đáo để đánhgiá về sự phát triển của quốc gia là Chỉ số Tổng hạnh phúc Quốc gia (GNH) Bhutan
đã thành lập một Ủy ban Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH), cơ quan có trách nhiệmđảm bảo mọi thứ của đất nước đóng góp cho hạnh phúc nói chung và hạnh phúc củangười dân Bhutan Việc theo đuổi GNH được quy định trong Hiến pháp của Bhutan
Khái niệm chỉ số GNH của Bhutan dựa trên 4 tiêu chuẩn - tự túc về kinh tế, môitrường trong sạch, bảo tồn và phát huy văn hóa và chính quyền cai trị tốt dưới hìnhthức dân chủ
Tình hình kinh tế: GDP bình quân đầu người (GDP/người) của Bhutan là 3.122USD/người vào năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Bhutanđạt -7.80% trong năm 2020, giảm -194 USD/người so với con số 3.316 USD/ngườicủa năm 2019 GDP bình quân đầu người của Bhutan năm 2021 dự kiến sẽ đạt 2.939USD/người nếu nền kinh tế Bhutan vẫn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng GDP và mứcdân số như năm vừa rồi Bhutan còn bán điện sử dụng nước (thủy điện) cho Ấn Độ Từlĩnh vực công nghiệp, Bhutan có công nghiệp xi măng, chế biến trái cây, gỗ và du lịch.Bhutan cũng xuất khẩu hàng hóa sang một số nước như Ấn Độ, Bangladesh vàPhilippines với các mặt hàng chủ lực là điện, thạch cao, thảo quả, thủ công mỹ nghệ,
xi măng, đá quý, trái cây, xi măng và gia vị Các mặt hàng được nước này nhập khẩuchính là xe cộ, gạo, máy móc thiết bị cho đến ngũ cốc do hợp tác với Nhật Bản, Áo và
Ấn Độ
Trang 10Tình hình bảo vệ môi trường: Trong TEDtalk năm 2016, Thủ tướng BhutanTshering Tobgay đã tự hào “khoe” với thế giới về thành tựu bảo vệ môi trường củaquốc gia, với 72% diện tích quốc gia được bao phủ bởi rừng và cam kết từ chính phủluôn duy trì carbon ở mức trung tính Trong những năm qua, Bhutan đã tích cực khaithác điện gió, hầm biogas; hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân, thay vào
đó là các phương tiện công cộng, xe đạp, xe buýt điện… để môi trường ngày càngxanh hơn và chung tay vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu Đầu năm 2016, haituabin gió đầu tiên được xây dựng, khánh thành tại làng Rubesa, quận WangduePhodrang, tạo ra 600 kWh điện, đủ cung cấp điện cho 300 hộ dân trong làng Đây làminh chứng cho thấy, Chính phủ Bhutan tích cực khai thác các nguồn năng lượng táitạo, đáp ứng nhu cầu điện ngày một tăng Một trong những quyết tâm chống biến đổikhí hậu được đánh giá cao và ấn tượng nhất của Bhutan là thực hiện hiệu quả Chiếndịch trồng cây gây rừng để duy trì độ che phủ rừng tới 60% diện tích lãnh thổ Tháng7/2015, 100 tình nguyện viên đã trồng 49.672 cây xanh chỉ trong 1 giờ, giúp các cộngđồng dân cư ở vùng núi tránh được tác động của BĐKH, trong đó có nguy cơ sạt lở và
lũ quét cao
Tình hình phát huy văn hoá: Hai tôn giáo lớn nhất ở Bhutan là Phật giáo và Ấn
Độ giáo Văn hóa của người Bhutan ảnh hưởng rất nhiều từ những giá trị của hai nềntôn giáo này, nhất là Phật giáo Người Bhutan lấy những điều luật trong tôn giáo làmtôn chỉ sống của họ, họ hướng thiện và thờ kính những vị thần với tất cả lòng thành
Lễ hội là một loại gia vị không thể thiếu đối với đời sống của người Bhutan Trong đó,Tshechu là lễ hội quan trọng nhất Mỗi thành phố tổ chức Tshechu theo nhiều cáchkhác nhau, nhưng đa số thường kéo dài từ 3-5 ngày, bắt đầu từ 10/2 âm lịch
2.2 Các yếu tố đánh giá chỉ số GNH tại Bhutan
Năm 2005, Chính phủ Hoàng gia Bhutan đã đưa ra quyết định phát triển các chỉ
số GNH để chuyển khái niệm GNH từ một khái niệm học thuật sang một khái niệm cóthể đo lường được Các chỉ số nhằm mục đích kiểm tra xem các chương trình và chínhsách có phù hợp với các giá trị của GNH hay không
Có 4 trụ cột, 9 lĩnh vực và 32 chỉ số được xem là những nguyên lý chính đểđánh giá GNH 4 trụ cột bao gồm: kinh tế, sự phát triển bền vững và bình đẳng của
Trang 11kinh tế và xã hội; bảo tồn và phát huy văn hóa; bảo tồn môi trường; và tốt quản trị.Một trong số bốn trụ cột này như được thấy trong bảng, được gán cho chín cá nhân cáclĩnh vực và sau đó là một bộ 32 chỉ số tương ứng với các lĩnh vực và trụ cột Các chỉ
số GNH tổng thể được tổng hợp từ 33 chỉ số được nhóm lại, chính chúng là bao gồm
124 biến (mỗi biến có trọng số chỉ báo riêng)
- Tổng tài sản
- Nhà ở
- Trình độ học vấn
- Năm đi học
- Kiến thức
- Giá trị
- Tự báo cáo sức khỏe
- Số ngày khỏemạnh
- Khuyết tật
- Sức khỏe tinhthần
Bảo tồn và phát
huy văn hoá
- Sự đa dạng văn hoá và khả năng phục hồi
- Thời gian sửdụng
- Sức sống cộng đồng
- Tâm lý lành mạnh
- Sự đóng góp
về văn hoá
- Nói tiếng bảnxứ
- Từ thiện
- Sự an toàn
- Các mối quan hệ cộng đồng
- Gia đình
- Sự hài lòng trong cuộc sống
- Cảm xúc tíchcực
- Cảm xúc tiêucực
- Vấn đề tâm linh
Bảo tồn môi
trường
Đa dạng sinh thái
Thiệt hại môi trường hoang dã
- Đô thị hoá
- Trách nhiệm hướng tới môi trường
- Những vấn
đề sinh thái
Quản trị tốt Quản trị tốt Tham gia Những quyền Hiệu suất quản
Trang 12chính trị cơ bản của con
người
trị
Chi tiết về 9 lĩnh vực có trong GNH được định nghĩa chi tiết như sau:
- Mức sống: là mức độ tiện nghi vật chất được đo lường bằng thu nhập, điều kiệnđảm bảo tài chính, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
- Giáo dục: là tổ hợp kiến thức, giá trị, kỹ năng và giáo dục chính thức và khôngchính thức ở các cấp độ tuổi
- Sức khỏe: là điều kiện thể chất và tinh thần của con người để có một lối sốnglành mạnh toàn diện cả ở trạng thái tinh thần và thể chất
- Sự đa dạng văn hoá và khả năng phục hồi: là sức mạnh và sự đa dạng của cácchuẩn mực văn hóa, tập quán và lễ hội trên khắp đất nước và các nhóm tuổi
- Thời gian sử dụng: là mức độ hài hòa trong việc dành thời gian giữa công việc
và cuộc sống
- Sức sống cộng đồng: là việc cố gắng tập trung vào điểm mạnh và điểm yếu củacác mối quan hệ và sự tương tác trong cộng đồng Nó thu thập thông tin về sựgắn kết xã hội giữa các thành viên trong gia đình và hàng xóm, và về các hoạtđộng như tình nguyện
- Tâm lý lành mạnh: là những tiêu chuẩn sống này bao gồm tâm linh, các đánhgiá nhận thức phản ánh như sự hài lòng trong cuộc sống và các phản ứng tìnhcảm đối với các sự kiện trong cuộc sống như cảm xúc tích cực và tiêu cực
- Đa dạng sinh thái: là đo lường nhận thức và đánh giá của mọi người về các điềukiện môi trường của khu vực lân cận của họ và đánh giá mô hình hành vi thânthiện với môi trường
- Quản trị tốt: là đánh giá mức độ tham gia vào các quyết định của chính phủ ởcấp địa phương và sự hiện diện của các quyền và tự do khác nhau
Để có thể hoàn thiện và phát triển các chỉ số đánh giá GNH, Bhutan đã tiếnhành các cuộc khảo sát lần lượt vào năm 2007 - 2008, 2010 và 2015
Ở khảo sát tháng 12 năm 2017, Trung tâm Nghiên cứu Bhutan đã thực hiệnbảng câu hỏi khảo sát bao gồm khoảng 750 biến Cuộc khảo sát này chỉ được thực
Trang 13hiện ở 12 quận với quy mô mẫu là 950 người Mặc dù chỉ số GNH tổng thể được tínhtoán từ dữ liệu, nhưng nó không được coi là hợp lệ cho bất kỳ phân tích thống kê nào
do kích thước mẫu hạn chế mà trong khi thực tế là chỉ số này mang tính đại diện chotoàn quốc chứ không phải theo quận
Cả hai cuộc khảo sát năm 2010 và sau đó năm 2015 bao gồm gần 250 chỉ sốtrên tất cả 20 quận của Bhutan, và bao gồm các cuộc phỏng vấn với đa dạng nhữngngười tham gia ở các giới tính, lứa tuổi, khu vực nông thôn và thành thị và các nhómnghề nghiệp Theo đó, khi lập bảng kết quả Khảo sát, Ủy ban chia người Bhutan thành
4 nhóm tùy thuộc vào mức độ hạnh phúc của họ, sử dụng ba ngưỡng giới hạn: 50%,66% và 77% Những người Bhutan đạt được ít hơn 50% trong số 124 biến được xếploại là “không hạnh phúc”; những người có đầy đủ 50–65% lĩnh vực được phân loại là
“ít hạnh phúc”; một nhóm được phân loại là “hạnh phúc” đã đạt được sự đầy đủ trong
66 - 76% lĩnh vực; trong khi nhóm “hạnh phúc sâu sắc” đã đạt được mức độ đầy đủ ở77% trở lên của các chỉ số có trọng số Khảo sát này cho thấy mức độ hạnh phúc nóichung đã được cải thiện so với các cuộc khảo sát trước
Các cuộc khảo sát cho thấy mức độ hạnh phúc đã được cải thiện đáng kể Cáclĩnh vực cho thấy sự cải thiện lớn nhất là dịch vụ, sinh thái và nhà ở Trong khi các chỉ
số trong lĩnh vực sức khỏe, các mối quan hệ cộng đồng, tâm linh, các quyền cơ bảnghi nhận sự suy giảm
Tuy nhiên, trong các cuộc khảo sát hạnh phúc toàn cầu khác, và đặc biệt là Báocáo Hạnh phúc Thế giới 2018, xếp hạng hạnh phúc của Bhutan đã giảm từ hạng 84(2013–15) trên thế giới xuống hạng 97 (2015–17) trong số 156 quốc gia Theo đó, mặc
dù trên tiêu chuẩn toàn cầu, mức độ hạnh phúc của Bhutan không cao, nhưng ởBhutan, hạnh phúc tự báo cáo của họ luôn duy trì ở mức tiêu chuẩn cao
2.3 Ảnh hưởng của GNH đến sự phát triển kinh tế tại Bhutan
Qua tìm hiểu ghi nhận sự phát triển của GDP thực tế ở Bhutan trong nhữngthập kỷ gần đây, đặc biệt là trong những thay đổi đồng thời trong bối cảnh GNH vàtrong chính phủ và xã hội Bhutan nói chung GDP là một khái niệm quan trọng ởBhutan, đặc biệt là trong các bộ kinh tế và ngân hàng trung ương, như một điểm tham