1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19

58 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Học Tập Trực Tuyến Của Sinh Viên Khoa Ngôn Ngữ Và Văn Hóa Đức Trường Đại Học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN Trong Đại Dịch Covid-19
Tác giả Bùi Thị Phương Anh, Nguyễn Ngọc Diệp, Tuấn Như Ngọc
Người hướng dẫn Nguyễn Đức Giang
Trường học Đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN
Chuyên ngành Ngôn ngữ và văn hóa Đức
Thể loại Đề tài nghiên cứu cuối kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: So sánh “Học tập trực tuyến” Online Learning và “Học tập truyền thống” 19 Bảng 2: Quá trình tự học trong thời gian học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CUỐI KỲ

THỰC TRẠNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN CỦA SINH VIÊN KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA ĐỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NGOẠI NGỮ, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19

Họ và tên: Bùi Thị Phương Anh – 19041389

Nguyễn Ngọc Diệp – 19041410 Tuấn Như Ngọc – 19041452

Khoa: Ngôn ngữ và Văn hóa Đức Môn học: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Giang

Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỌC TẬP TRỰC TUYẾN 5

2.1 “Học tập trực tuyến” (Online Learning) 13

2.1.1 Khái niệm “Học tập trực tuyến” (Online Learning) 13

2.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của “Học tập trực tuyến”

(Online Learning)

15

2.2 “Học tập truyền thống” (Traditional Learning) 17

2.2.1 Khái niệm “Học tập truyền thống” (Traditional Learning) 17

2.2.2 Đặc điểm “Học tập truyền thống” (Traditional Learning) 17

2.2.3 Ưu và nhược điểm “Học tập truyền thống”

(Traditional Learning)

18

Trang 3

2.2.3.2 Nhược điểm 19

2.3 So sánh “Học tập trực tuyến” (Online Learning) và “Học tập

truyền thống” (Traditional Learning)

19

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN

CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH ĐỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NGOẠI NGỮ, ĐHQGHN

20

1.1 Phương pháp và công cụ nghiên cứu thực tiễn 20

2.1 Thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và

Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

22

2.2 Mục đích sử dụng Internet nói chung của sinh viên khoa Ngôn

ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

29

2.3 Thuận lợi và lợi ích của học tập trực tuyến đối với sinh viên

khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ,

ĐHQGHN

30

2.4 Những khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngôn ngữ và

Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học

tập trực tuyến

33

2.5 Những yếu tố tác động ảnh hưởng tới học tập trực tuyến của

sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: So sánh “Học tập trực tuyến” (Online Learning) và “Học

tập truyền thống”

19

Bảng 2: Quá trình tự học trong thời gian học tập trực tuyến của sinh

viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại

ngữ, ĐHQGHN

27

Bảng 3: Quá trình tham gia học tập trực tuyến của sinh khoa Ngôn

ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

28

Bảng 4: Mục đích sử dụng Internet trung bình 1 ngày nói chung của

sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học

Ngoại ngữ, ĐHQGHN

29

Bảng 5: Thuận lợi và lợi ích của học tập trực tuyến đối với sinh viên

khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ,

ĐHQGHN

30

Bảng 6.1: Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn

hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học

tập trực tuyến

33

Bảng 6.2: Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn

hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học

tập trực tuyến

34

Bảng 6.3: Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn

hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học

tập trực tuyến

36

Bảng 7: Đánh giá hiệu quả của học tập trực tuyến 40

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Thiết bị/ phương tiện học tập được sinh viên khoa Ngôn

ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN sử dụng trong thời gian học tập trực tuyến

22

Biểu đồ 2: Địa điểm học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ

và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

23

Biểu đồ 3: Số lượng học phần được đăng ký bởi sinh viên khoa Ngôn

ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong thời gian học tập trực tuyến

24

Biểu đồ 4: Loại học phần được đăng ký bởi của sinh khoa Ngôn ngữ

và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong thời gian học tập trực tuyến

24

Biểu đồ 5: Thời gian học tập trực tuyến trung bình/ngày của sinh viên

khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

25

Biểu đồ 6: Mức độ tập trung và tương tác cao nhất của Ngôn ngữ và

Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong một buổi học tập trực tuyến

26

Biểu đồ 7: Tần suất giải lao trung bình/buổi học của sinh khoa Ngôn

ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

38

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 7

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Ngày nay việc sử dụng công nghệ thông tin có tác động đáng kể đến tất cả mọi khía cạnh của chúng ta Trong bối cảnh ngành giáo dục ngày càng có nhiều các trường đại học nhận ra những lợi ích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học như một phần của môi trường học tập Thông qua công nghệ, việc đào tạo trực tuyến tạo nên môi trường học tập có sự tương tác giữa người học và người dạy Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin đóng một vai trò quan trọng, là cầu nối giữa việc cung cấp các nội dung liên quan đến học tập đến sinh viên

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ đến nền giáo dục, việc học trực tuyến được triển khai và ứng dụng rộng rãi Và đặc biệt hơn, trong bối cảnh dịch bệnh, học trực tuyến là phương pháp duy nhất nhằm không gây ra gián đoạn việc dạy và học tập mà vẫn đảm bảo an toàn, tuân thủ chấp hành cách ly của nhà nước Bên cạnh những lợi ích của việc áp dụng công nghệ vào phương pháp học, vẫn còn những khó khăn nhất định do ảnh hưởng của dịch bệnh: chưa có sự thống nhất trong việc giảng dạy; khó khăn về công

cụ, phương tiện dạy và học; khó khăn tâm lý của sinh viên Hiện nay phương pháp học trực tuyến đã được áp dụng phổ biến hơn nhưng vẫn có nhiều giáo viên và sinh viên bày tỏ mối quan tâm về chất lượng dạy và học tập trực tuyến sẽ có những ảnh hưởng như thế nào đến kết quả của sinh viên

Với những lí do trên, việc nghiên cứu “Thực trạng học tập trực tuyến của

sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội trong đại dịch COVID-19” sẽ chỉ ra những thách thức, khó khăn trong việc học tập trực tuyến và

một số yếu tố tác động ảnh hưởng tới việc học tập trực tuyến của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội Từ đó, đề xuất những giải pháp phù

hợp để khắc phục và nâng cao hiệu quả học tập trực tuyến của sinh viên

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Khảo sát thực trạng học tập trực tuyến trong đại dịch COVID-19 của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN, đồng thời khảo sát những yếu tố tác động ảnh hưởng tới việc học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

3 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong bối cảnh đại dịch COVID-19 được thể hiện như thế nào?

Những yếu tố tác động nào ảnh hưởng tới việc học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong bối cảnh đại dịch COVID-19?

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong bối cảnh đại dịch COVID-19

4.2 Khách thể nghiên cứu

Đề tài tiến hành trên 219 sinh viên năm 2, năm 3 và năm 4 khoa Ngôn ngữ

và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN

5 Giả thuyết khoa học

Việc học tập trực tuyến mang lại cả những thuận lợi và khó khăn cho sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Những yếu tố tác động nào ảnh hưởng tới việc học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bao gồm: Sự tương tác trong học trực tuyến; Năng lực

sử dụng Internet và các thiết bị công nghệ; Năng lực tự học; Động lực học của sinh viên; Yếu tố khách quan bên ngoài (mất điện, mất mạng, hỏng máy, ….)

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

6.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong việc học tập trực tuyến trong bối cảnh COVID-19 của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

6.2 Nghiên cứu thực trạng (những thuận lợi và khó khăn) của việc học tập trực tuyến trong bối cảnh đại dịch COVID-19 mang tới cho sinh viên khoa Ngôn ngữ

và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

6.3 Nghiên cứu những yếu tố tác động ảnh hưởng tới việc học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN trong bối cảnh đại dịch COVID-19

7 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu về thực trạng của việc học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

- Giới hạn hạn khách thể: đề tài chỉ khảo sát trên 219 khách thể là sinh viên năm

2, năm 3 và năm 4 khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức, thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN; trong đó 71 sinh năm hai khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức, thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN, 98 sinh viên năm ba khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức, thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN và

50 sinh viên năm tư khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức, thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN Do sinh viên năm nhất khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức, thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN mới bắt đầu trải nghiệm học kỳ đầu tiên tại Đại học dưới hình thức trực tuyến trong một khoảng thời gian ngắn (đầu tháng 10 đến hiện tại) nên chưa đủ yêu cầu và điều kiện để được chọn làm khách thể nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: 15 ngày (từ ngày 09/11/2021 đến ngày 23/11/2021)

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 10

Phương pháp nghiên cứu lý luận là để phân tích, nghiên cứu các văn bản lý thuyết, tài liệu khác nhau về các khái niệm, lịch sử phát triển về Online Learning và các công cụ đi kèm bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận, từng mặt để hiểu chúng một cách toàn diện Từ đó, lựa chọn những thông tin quan trọng để phục vụ cho đề tài nghiên cứu Sau đó liên kết, sắp xếp các tài liệu, thông tin lý thuyết đã thu thập được để tạo ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc, logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học

8.2 Phương pháp nghiên cứu điều tra viết

Điều tra một nhóm đối tượng trên diện rộng (cụ thể là toàn bộ sinh viên năm

2 đến năm 4 khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN) nhằm phát hiện thực trạng học tập trực tuyến, những khó khăn và thuận lợi của sinh viên và tính hiệu quả, lợi ích của việc học tập trực tuyến (Online Learning) đem lại cho sinh viên Cụ thể, nhóm nghiên cứu sẽ dùng Phương pháp Anket với các câu hỏi đóng và mở ngắn gọn, đã chuẩn hóa với các phương án trả lời trên phiếu trả lời Phương pháp giúp nhóm nghiên cứu nhanh chóng thu thập được những thông tin cần thiết của mẫu nghiên cứu, thuận lợi cho xử lý số liệu và chính xác, khách quan

8.3 Phương pháp bổ trợ tính toán

Phương pháp tính toán, thống kê được sử dụng cho nghiên cứu như một công

cụ để xử lý các thông tin định lượng được trình bày dưới dạng: con số rời rạc, bảng

số liệu, biểu đồ, xử lý thông tin đó định tính bằng biểu đồ đã thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: quan sát, điều tra, thực nghiệm… nhằm làm cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy cao Các phương pháp như thống kê xác suất, phân tích biểu đồ và các kỹ thuật xử lý với máy tính kèm công thức toán học được sử dụng để tìm ra các đặc điểm chung nhất của các đối tượng nghiên cứu

9 Dự kiến cấu trúc

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được trình bày trong 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của học tập trực tuyến

Chương 2: Khảo sát Thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

Trang 11

PHẦN HAI: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỌC TẬP TRỰC TUYẾN

1 Tổng quan lịch sử

1.1 Ở Việt Nam

Năm 2021, tác giả Bùi Quang Dũng, Nguyễn Thị Hoài Phương, Trương Thị Xuân Nhi với luận án: “Một số khó khăn của sinh viên ngành Công tác xã hội, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế” cho biết: “Để tham gia lớp học trực tuyến một cách hiệu quả, sinh viên cần có một mức độ thành thạo công nghệ nhất định và phương pháp học tập phù hợp để tham gia vào các lớp học và tương tác trên không gian mạng Trong các lớp học truyền thống, quá trình truyền đạt và tiếp nhận thông tin được diễn

ra trực tiếp và nhanh chóng, sinh viên có thể trực tiếp phản hồi và nêu ý kiến Sự tương tác trực tiếp này giúp quá trình học tập dễ dàng hơn, phong phú và dễ tiếp thu hơn Tuy nhiên, khi chuyển đổi hoàn toàn sang hình thức học trực tuyến đã khiến cho người học gặp nhiều khó khăn do thiếu một số kỹ năng cần thiết trong học tập và kết quả khảo sát (biểu đồ 3) đã cho thấy rõ điều này Cụ thể, 25% sinh viên cho rằng bản thân thiếu kỹ năng tương tác với giảng viên và kỹ năng sử dụng phương tiện, thiết bị công nghệ thông tin còn hạn chế chiếm 24% Đáng chú ý, tỷ lệ sinh viên có tâm lý chán nản, không hứng thú với việc học trực tuyến chiếm đến 43% Có thể nói, trạng thái tinh thần của sinh viên trong quá trình học cũng phản ánh hiệu quả học tập trực tuyến Việc học trực tuyến trong thời gian dài, sinh viên phải dành nhiều thời gian trước màn hình máy tính, thiếu giao tiếp giữa giảng viên với sinh viên, dẫn đến tâm

lý mệt mỏi của phần lớn sinh viên Do đó, việc sinh viên cảm thấy chán nản, không hứng thú là một trong những nhược điểm lớn nhất của người học trực tuyến Việc thiếu các mối quan hệ trực tiếp ngăn cản sự tương tác trong quá trình học và có thể khiến sinh viên cảm thấy thiếu động lực học tập Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của sinh viên, bởi vì tâm lý được xem là yếu tố cốt lõi và đóng vai trò rất quan trọng quyết định đến hiệu quả học tập Do đó, yếu tố tâm lý của người học cần được xem xét và chú ý hơn trong thời gian tới”

Trong Tạp chí Công thương, số 23, tháng 9/2020 của tác giả Ngô Thị Lan Anh và Hoàng Minh Đức đã chỉ ra Lợi thế của đào tạo trực tuyến là đơn giản và

Trang 12

Lợi thế của đào tạo trực tuyến là đơn giản và dễ tiếp cận người học, linh hoạt, chủ động định hướng học tập và học mọi lúc, mọi nơi Tuy nhiên, đào tạo trực tuyến còn

có những hạn chế nhất định Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm là thực hành thí nghiệm không được như đào tạo truyền thống, rèn luyện kỹ năng bị hạn chế như khoảng cách giữa người dạy và học, thói quen học, hạ tầng công nghệ, giáo trình, chưa đáp ứng được yêu cầu, sự tiếp cận công nghệ của giảng viên, tài liệu học tập bị sao chép khiến giảng viên ngại đưa tài liệu lên mạng Mặt khác, có một hạn chế nữa đó là tính thiếu chủ động trong học tập của người học, trong khi môi trường học tập trực tuyến đòi hỏi người học phải có tính độc lập và tự giác cao Bên cạnh đó, thói quen chuộng bằng cấp hệ chính quy cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của e-learning Việc thúc đẩy phát triển e-learning là cần thiết nhưng cần đảm bảo các yếu tố' về hạ tầng công nghệ, pháp lý liên quan hình thức này phải hoàn thiện, chính sách chất lượng phải đảm bảo và thống nhất Giảng viên cũng phải được trang bị kỹ năng công nghệ cũng như sư phạm phù hợp, xây dựng nội dung học liệu chất lượng và có thể chia sẻ giữa các cơ sở giáo dục Theo kết quả khảo sát của Quỹ Từ thiện Cộng đồng người sử dụng internet Việt Nam và Công ty cổ phần VNG với 839 người tham gia trả lời, thì 3 rào cản đối với những người ôn thi/học trực tuyến là: Việc thu phí (35%); Phải kết nối internet thường xuyên (24%) và khó tìm kiếm đề thi/bài giảng cần thiết (16%) Còn theo khảo sát của DeltaViet (2014), “nội dung bài giảng hấp dẫn” và

“được học với giảng viên uy tín” là yếu tố rất quan trọng để thu hút người học trực tuyến

Theo nghiên cứu của các chuyên gia Đại học RMIT và Đại học Kinh tế TP

Hồ Chí Minh, quan sát đáng chú ý khác là mặc dù việc giảng dạy đã chuyển sang hình thức trực tuyến nhưng hầu hết các phương thức đánh giá vẫn giữ nguyên như khi học trực tiếp Theo nhóm nghiên cứu, cần phải xem xét lại toàn diện xem các trường đại học nên điều chỉnh cách thức đánh giá sinh viên ra sao cho phù hợp với nền tảng dạy và học đã thay đổi, cũng như các kỹ năng mới của cả sinh viên và giảng

viên Song song với điều đó, nghiên cứu ghi nhận những phản ứng trái chiều về hiện diện xã hội trong học tập trực tuyến Quy mô lớp học lớn và việc thiếu các mối quan

hệ cá nhân được xác lập từ trước được coi là lý do chính của việc thiếu giao lưu trong

Trang 13

lớp Những sinh viên không quen biết nhau sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi làm việc nhóm Nghiên cứu cũng nhận thấy một số cách kiểm tra/đánh giá không yêu cầu sinh viên hợp tác chặt chẽ với nhau, khiến nhu cầu xây dựng sự hiện diện xã hội khi học tập trực tuyến cũng giảm theo

Trong luận án “Cảm nhận của sinh viên chính quy khi trải nghiệm học trực tuyến hoàn toàn thời gian phòng chống dịch Covid-19” (2020) của Phan Thị Ngọc Thanh đã chỉ ra Nhóm khó khăn có số lượng phản hồi nhiều nhất liên quan đến Internet (có 945 ý kiến) bao gồm những kết quả về: kết nối không ổn định trong quá trình học, cúp điện, tốc độ đường truyền kém, không có wifi phải dùng 3G nên chi phí cao Đây là nguyên nhân chính làm cho việc học trực tuyến trở nên khó khăn hơn

và cũng là một trong những nguyên nhân làm cho sinh viên bị mất điểm do khi giảng viên điểm danh thì sinh viên bị mất kết nối khỏi lớp học Nguyên nhân thứ hai là về vấn đề sử dụng hệ thống, tiếp nhận thông tin, 549 ý kiến của sinh viên cho rằng đây chính là khó khăn của họ Những vấn đề của hệ thống về giao diện sử dụng, không hoạt động của một vài chức năng thông báo, điển hình như chức năng thông báo đến sinh viên khi giảng viên có cập nhật thông tin mới, bỏ sót một vài hoạt động học tập

có tính điểm làm cho sinh viên cảm thấy bối rối trong quá trình học trực tuyến Do dịch bệnh đến bất ngờ, một số giảng viên vẫn sử dụng Google Drive, email làm công

cụ giảng dạy chính chứ không sử dụng LMS Điều này làm cho một số sinh viên cảm thấy hoang mang trong quá trình học Nhóm nguyên nhân kế tiếp là về vấn đề không nắm bắt được nội dung môn học khi học trực tuyến (có 407 ý kiến), sinh viên cho rằng việc học trực tuyến không hiệu quả, không dễ tiếp thu cũng như khó để hệ thống kiến thức trong lúc học Nguyên nhân của khó khăn này có thể là do sinh viên chưa thích nghi được với phương pháp học mới khi có sự thay đổi một cách đột ngột hoặc

do sinh viên không quen với việc tự học, tự nghiên cứu thông qua các thiết bị công nghệ Nhóm nguyên nhân thứ tư là về vấn đề thiếu tương tác với giảng viên hoặc phương pháp giảng dạy chưa phù hợp Đây là nguyên nhân dẫn đến có 217 ý kiến đề xuất từ sinh viên về việc cảm thấy khó khăn trong quá trình học Một số giảng viên ít tương tác với sinh viên qua các kênh, không giải đáp thắc mắc cho sinh viên một cách kịp thời, chấm bài sửa bài không đủ chi tiết, không theo sát quá trình học của sinh

Trang 14

viên dẫn đến việc sinh viên không theo kịp bài học Kế đến, 166 ý kiến sinh viên cho rằng nội dung của bài giảng gặp một số vấn đề như chưa phù hợp, chưa thu hút, còn nhiều lỗi, chưa có dẫn chứng ví dụ cụ thể v.v… Có một số slides và video của các môn không khớp về mặt nội dung, gây khó khăn trong quá trình tổng hợp kiến thức của người học Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên tại các trường đại học đã có cảm nhận ở mức độ tiệm cận hoặc trên trung bình đối với trải nghiệm học tập trực tuyến trên hệ thống LMS Cụ thể, những yếu tố liên quan đến công nghệ và nội dung học tập được sinh viên đánh giá cao hơn so với hai thành phần cá nhân hóa và hỗ trợ học tập (Hình 7) Điều này chứng tỏ dù phải phản ứng nhanh do lý do khách quan (dịch Covid-19) nhưng các trường đại học đã có sự đầu tư xây dựng, triển khai nội dung đào tạo trên hệ thống trực tuyến Tuy nhiên do triển khai gấp rút nên các trường vẫn chưa có một Chương trình tập huấn, hướng dẫn cụ thể dành cho sinh viên, giúp

họ có thể thích nghi và đạt được hiệu quả học tập cao nhất trên hệ thống LMS

Trong nghiên cứu “Thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội trong đại dịch Covid-19” của Phạm Lê Dương

và Trần Thùy Linh sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp khảo sát bằng hỏi trực tuyến Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên sử dụng internet cho mục đích học tập từ 3h đến 6h chiếm tỷ lệ cao nhất 38,7%, tiếp đến là nhóm sinh viên có giờ học tập 6h đến 9h chiếm 26,4% và cuối cùng là nhóm dưới 3h chiếm 11,4% Điều

đó cho thấy cường độ học tập của sinh viên khá cao khi thời gian dành cho học tập trên 6h mỗi ngày chiếm đến 49,8% Ở chiều ngược lại cho thấy khi giờ học tập của sinh viên càng cao thì nhu cầu sử dụng internet cho các mục đích khác như giải trí chiếm tỷ lệ thấp dần Cụ thể hơn, ở sinh viên sử dụng internet dành cho mục đích khác dưới 3h chiếm 33,5%, từ 6h-9h chiếm 6,3% và từ 3h-6h chiếm 33,5% Sinh viên học tập trực tuyến thường cảm thấy bị cô lập về mặt xã hội và nhiều sinh viên thiếu

kỹ năng tự định hướng và quản lý thời gian cần thiết để có thể thành công trong việc học tập

Trong bối cảnh dịch bệnh và tình hình chung của đất nước, sinh viên các trường gần như chưa có sự chuẩn bị tâm thế ban đầu cho việc học tập trực tuyến Tuy nhiên, khi xét về khía cạnh thuận lợi, phần lớn các em đều nhấn mạnh đúng một phần,

Trang 15

đúng hoàn toàn khi việc học tập trực tuyến giúp tránh khỏi bệnh truyền nhiễm chiếm

tỷ lệ cao nhất 99,7% và chỉ có 0,3 không đồng ý Kết quả nghiên cứu đã phần nào phản ánh nhận thức của sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh diễn ra phức tạp ở trong

và ngoài nước, các em đã ý thức được việc cách ly nhằm tránh lây lan bệnh là cần thiết để tham gia vào việc học tập trực tuyến Bên cạnh đó, việc học tập trực tuyến cũng phần nào giúp các em hỗ trợ bố mẹ, gia đình trong công việc nhà khi có đến 47,4% sinh viên hoàn toàn đồng ý, 36,5% sinh viên cho rằng chỉ đúng một phần và

tỷ lệ không đồng ý chỉ chiếm 16,1% Lý giải điều này được đặt trong bối cảnh sinh viên dành toàn thời gian tại nhà và thuận tiện trong việc giúp đỡ bố mẹ, gia đình Đặc biệt, bên cạnh việc thuận lợi học tập trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh và tạo điều kiện cho người học có thể dành thời gian hỗ trợ gia đình thì việc học trực tuyến còn góp phần tạo điều kiện cho sinh viên có thể dành nhiều thời gian hơn để làm bài và đọc tài liệu Cụ thể, phần lớn sinh viên nhận định đúng một phần về việc học trực tuyến giúp có nhiều thời gian hơn để làm bài, đọc tài liệu chiếm 61,9%, tiếp đến là đúng hoàn toàn chiếm 25,3% và cuối cùng là không đúng chiếm 12,8% Nhờ việc tiết kiệm thời gian đi lại giữa các môn học, buổi học đã giúp sinh viên có thời gian tìm đọc tài liệu và hỗ trợ quá trình tự học

1.2 Ở nước ngoài

Năm 2010, Mirjana Radovic-Markovic của trường Đại học Kinh tế Petroşani

đã nghiên cứu về ưu và nhược điểm của việc học trực tuyến so với phương pháp học thông thường Bài nghiên cứu nhằm mục đích để trả lời một số câu hỏi sau: (1) Học trực tuyến cải thiện quá trình tiếp nhận kiến thức ở mức độ nào, bằng cách kết hợp

mô hình giáo dục này với nhiều mô hình khác?; (2) Các điều kiện tiên quyết về cơ sở

hạ tầng kỹ thuật và hậu cần cho học trực tuyến là gì?; (3) Những mô hình học tập điện tử nào đang được sử dụng và mô hình nào cho kết quả tốt nhất?; (4) Vai trò của giáo sư hướng dẫn được điều chỉnh ở mức độ nào khi làm việc với những sinh viên chọn mô hình giáo dục này?; (5) Chi phí so với lợi nhuận thu được tại các khoa tổ chức nghiên cứu trên Internet là bao nhiêu? Dựa trên kết quả của nghiên cứu này, được coi là một trong những nghiên cứu toàn diện nhất và gần đây nhất về loại hình này trên thế giới, dữ liệu chỉ dẫn cho hình thức giáo dục này đã được thu thập

Trang 16

E-learning đã cho phép mức độ tương tác cao hơn giữa các giáo sư và sinh viên và khả năng cung cấp tài liệu nghiên cứu dễ dàng hơn ở cả sinh viên đại học và sau đại học Hơn nữa, các giáo sư và trợ lý đã phát triển tư duy phản biện của sinh viên và giúp họ tự do hơn trong lựa chọn chủ đề thảo luận và trao đổi ý kiến lẫn nhau

và thông tin và mở rộng kiến thức Học sinh đã cho thấy một khả năng thích ứng tuyệt vời với hình thức học tập này Cụ thể, e-learning đã được chứng minh là một cách học rất phổ biến và được chấp nhận, do tính linh hoạt của nó, cũng như mức độ đổi mới cao hơn về việc giới thiệu các chương trình mới và hiện đại so với truyền thống Ngoài ra, nhiều khoa đã chọn học trực tuyến đã bắt đầu triển khai các gói phần mềm khác nhau hỗ trợ học trực tuyến và áp dụng các phương thức học tập khác nhau Ví

dụ như Đại học Bắc Texas (UNT), bắt đầu cung cấp các khóa học trực tuyến và tại chỗ vào năm 1995, đã cải thiện đáng kể các hoạt động của nó kể từ khi được giới thiệu Cụ thể, bằng cách sử dụng hội nghị truyền hình, họ đã liên kết tất cả các địa điểm trong bán kính khoảng 40 dặm từ trụ sở chính của Trường Từ năm 1997, trường Đại học này đã phát triển Trung tâm cung cấp dịch vụ cho các khoa khác để thiết lập

và phát triển các chương trình học trực tuyến Trung tâm kết hợp các nguồn lực công nghệ với các dịch vụ tư vấn chuyên gia Bên cạnh đó, trường Đại học này có khoảng 29.000 sinh viên vào năm 2003 tham dự hơn 4.000 khóa học trực tuyến Đại học Phoenix cũng cung cấp các khóa học trực tuyến cho hơn 140.000 sinh viên, kiếm được lợi nhuận sạch lên tới khoảng 5 triệu đô la Mỹ hàng năm Trường đại học này tuyển sinh 500 sinh viên từ hơn 53 quốc gia trên toàn thế giới Nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới từ lâu đã chấp nhận hình thức giáo dục này, chẳng hạn như Stanford, nhưng mặc dù vậy, ngay cả trường Đại học này cũng không phản đối cách giáo dục mới này, và vào năm 2005, trường cũng đã cung cấp hình thức học tập này Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả sinh viên và quản trị viên đều tin rằng chất lượng của e-learning đáp ứng với các phương pháp giảng dạy truyền thống về mặt chất lượng Theo nghiên cứu này, ba phần tư lãnh đạo trong các khoa và trường đại học của bang tin tưởng chất lượng học tập dựa trên Thực tập là giống hoặc thậm chí tốt hơn so với học trực tiếp Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các trường đại học cung cấp các nghiên cứu trực tuyến cho đến nay đã có hơn 2 triệu sinh viên và con số này đang tăng trung bình 25% mỗi năm

Trang 17

So với cách học truyền thống, theo cách này, hiệu quả học tập được tăng lên nhờ học tập liên tục, để có thể hoàn thành các nghiên cứu trong khung thời gian ngắn hơn so với thời gian được giao Tại Đại học Wisconsin-Madison, 172.000 đô la Mỹ

đã được tiết kiệm, do tiết kiệm thời gian của các giáo sư, những người trước đây phải dành nhiều thời gian hơn trong các buổi giảng dạy để trang trải cho các nhóm lớn sinh viên; Ngoài ra, số lượng phòng học truyền thống đã được giảm bớt, và do đó chi phí cần thiết cho việc sử dụng chúng Mặt khác, bằng cách thiết kế một chương trình trực tuyến, nhiều khoa, trước đây không có địa điểm giảng dạy, đã tiết kiệm được một khoản tiền lớn để mua cơ sở vật chất của lớp học, một ví dụ trong số đó là Đại học Bắc Carolina ở Charlotte Theo ước tính của họ, họ đã tiết kiệm được hơn 5 triệu đô

la Mỹ, bằng cách không đầu tư vào các cơ sở vật chất

Andersson và Grönlund (2009) đã thực hiện một công trình lược khảo tổng quan về các thách thức trong triển khai học trực tuyến tại các nước phát triển và đang

phát triển Kết quả nhóm các thách thức thành bốn khía cạnh là: Người học, Công

nghệ, Khóa học và Bối cảnh Bên cạnh đó, tác giả phân tích các vấn đề thách thức

trong phạm vi các nước phát triển và các nước đang phát triển Kết quả cho thấy ở các nước phát triển, các thách thức được đề cập nhiều nhất liên quan đến khía cạnh

Người học (26 trong số 30 công trình nghiên cứu) trong khi đó ít liên quan nhất là về Bối cảnh (2 trong số 30 công trình) Còn lại, vấn đề liên quan đến Khóa học được đề

cập ở 17 công trình và vấn đề công nghệ có 7 công trình đề cập Ngược lại, ở các

nước đang phát triển, vấn đề liên quan đến Người học lại ít được chú trọng (6 trong

30 công trình đề cập) trong khi đó Khóa học và Bối cảnh lại được chú ý nhiều và tương đương nhau (được đề cập trong 23 và 21 công trình) kế đó là Công nghệ (18

công trình) Như vậy, tầm quan trọng của các vấn đề sẽ có sự thay đổi tùy theo ngữ cảnh vĩ mô của môi trường triển khai học trực tuyến Điểm chung có thể xác định là

các vấn đề liên quan đến Khóa học nhìn chung có tầm quan trọng ở bất kể môi trường

nào Trong khi đó, việc các yếu tố Công nghệ ít là một thách thức ở các nước phát triển có thể hiểu được do nền tảng công nghệ tại các quốc gia này đã phát triển cao

và do đó đã đáp ứng yêu cầu công nghệ của việc triển khai học trực tuyến

Trang 18

Awal Bahasoan đã nghiên cứu về sự hiệu quả của việc học online trong đại dịch Covid-19(2019) Nghiên cứu này là một nghiên cứu mô tả định lượng sử dụng phương pháp khảo sát được thực hiện trực tuyến (Sugiyono, 2017) Phương pháp thu thập mẫu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, trong đó mẫu của nghiên cứu này là sinh viên đang hoạt động trong chương trình học quản lý, Khoa Kinh tế, Đại học West Sulawesi Việc thu thập dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu này được thực hiện bằng cách phân phối bảng câu hỏi trực tuyến cho 115 người trả lời

Dữ liệu được thu thập thông qua việc điền vào các câu hỏi được phân phối cho tất cả người trả lời Sau đó, dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để mô tả Các thành phần trong bảng câu hỏi bao gồm một số câu hỏi, cụ thể là (1) Hiện bạn có thực hiện các bài giảng trực tuyến không; (2) Nếu thực hiện bài giảng trực tuyến thì sử dụng những ứng dụng nào; (3) Mức độ hài lòng của bạn khi tham dự các bài giảng trực tuyến; (4) Những trở ngại thường thấy trong các bài giảng trực tuyến; (5) Tài liệu được trình bày có thể hiểu được hay không; (6) Ý kiến của bạn về các bài giảng trực tuyến; (7) Ứng dụng nào phù hợp để thực hiện các bài giảng trực tuyến

Hầu hết tất cả những sinh viên được hỏi đều tham dự các bài giảng trực tuyến, chỉ 2% người được hỏi không thực hiện các bài giảng trực tuyến Trong số 98% người được hỏi đã tham dự mỗi bài giảng trực tuyến, 54% chỉ sử dụng ứng dụng WhatsApp, 11% sử dụng kết hợp hai ứng dụng WhatsApp với Google Classroom và WhatsApp với Zoom 10% người được hỏi sử dụng kết hợp ba ứng dụng WhatsApp, Googleclassroom và Zoom trong mỗi bài giảng Ứng dụng Google Classroom ít phổ biến hơn đối với những người được hỏi trong mỗi lần khôi phục trực tuyến trong đại dịch COVID 19, tức là chỉ có 2% người được hỏi sử dụng nó 21% cho biết chưa hài lòng, 18% khá hài lòng, 8% không hài lòng và 3% cho biết rất hài lòng Sự hài lòng của người được hỏi trong quá trình khôi phục với hệ thống trực tuyến vì quá trình khôi phục vẫn đang diễn ra ngay cả trong trường hợp khẩn cấp do COVID 19 và người trả lời cho biết họ rất hài lòng vì họ có thể tham dự các bài giảng trong khi quây quần bên gia đình và thực hiện các hoạt động khác đã bị trì hoãn do khôi phục ngoại tuyến

Kết quả chỉ ra trong các bài giảng trực tuyến trong đại dịch Covid 19, có 48% sinh viên cho rằng việc học đó hiệu quả nhưng không được năng suất, 36% cho rằng

Trang 19

chúng không hiệu quả và không năng suất và chỉ 17% nói rằng phương pháp học trực tuyến khá hiệu quả và năng suất

Những hạn chế mà người trả lời gặp phải trong các bài giảng trực tuyến: 46% người được hỏi cho biết các ràng buộc về mạng và hạn ngạch, 37% nói rằng đó chỉ

là mạng, 18% nói rằng họ chỉ có hạn ngạch và 1% nói rằng không có ràng buộc Những hạn chế về mạng giải thích sự khó khăn trong việc có được một mạng lưới tại nơi họ sinh sống do thiếu cơ sở hạ tầng hỗ trợ, vì vậy họ phải tìm những nơi có thể kết nối mạng Hạn chế trong trường hợp này là chi phí mua hạn ngạch có giới hạn Mức độ hiểu biết về từng tài liệu được cung cấp trong quá trình khôi phục trực tuyến,

có tới 56% người được hỏi cho biết hiểu về tài liệu được cung cấp, 35% người trả lời không hiểu, 6% không được hiểu và chỉ 3% người được hỏi bày tỏ rất hiểu Sự hiểu lầm của người trả lời được thúc đẩy nhiều hơn bởi việc thiếu giải thích về từng tài liệu được cung cấp và những người trả lời tuyên bố rằng họ rất hiểu vì họ sáng tạo hơn trong việc tìm hiểu tài liệu liên quan qua YouTube hoặc các mô-đun được tải xuống miễn phí trên internet Những người đặc biệt cho rằng các bài giảng trực tuyến trong đại dịch COVID 19 không hiệu quả và kém hiệu quả là do họ không chuẩn bị sẵn sàng để tham dự các bài giảng trực tuyến và cần thời gian để điều chỉnh, cộng với chi phí đáng kể đã phải chịu để mua hạn ngạch Điều chỉnh ở đây là thời gian giảng bài trực tuyến rất thất thường, bài tập được giao quá nhiều so với bài giảng ngoại tuyến và tài liệu được gửi quá ngắn gọn mà không có lời giải chi tiết 59% người được hỏi cho biết sử dụng ứng dụng WhatsApp, 8% sử dụng ứng dụng Zoom, 4% sử dụng ứng dụng Facebook, 3% sử dụng Googleclassroom, 6% sử dụng kết hợp ứng dụng WhatsApp và Zoom, 10% sử dụng kết hợp WhatsApp và Google Classroom và 9 %

đã sử dụng kết hợp ứng dụng Zoom và lớp học của Google Việc sử dụng ứng dụng WhatsApp theo những người được hỏi không phức tạp và được sử dụng phổ biến hơn

2 Khái niệm công cụ

2.1 “Học tập trực tuyến” (Online Learning)

2.1.1 Khái niệm “Học tập trực tuyến” (Online Learning)

Theo Ally (2008), “Online learning” là việc học mà người học sử dụng Internet để truy cập vào các tài nguyên học tập, tương tác với nội dung, giáo viên và

Trang 20

các sinh viên khác, đồng thời nhận được sự hỗ trợ trong quá trình học, để họ có được kiến thức để xây dựng sự hiểu biết và phát triển cá nhân

Theo Benson (2002), “Online learning” là việc sử dụng Internet và các công nghệ dựa trên web khác để cung cấp kinh nghiệm học tập

Theo Carliner (2004, p.1), “Online learning” - nói một cách đơn giản, học trực tuyến đề cập đến việc học và các nguồn hỗ trợ khác có sẵn thông qua máy tính

Theo Hiltz và Turoff (2005, p 60), “Online learning” là một quá trình xã hội mới đang bắt đầu thay thế hoàn toàn cho cả hình thức đào tạo từ xa và lớp học trực tiếp truyền thống

Theo Oblinger và Oblinger (2005), “Online learning” gợi ý tính liên tục kết nối, sự tiện lợi và tính linh hoạt

Theo Joshua Stern, Ph.D., “Online learning” là giáo dục diễn ra trên Internet Các khóa học dựa trên Internet được cung cấp đồng bộ hoặc không đồng bộ

Chúng tôi đưa ra định nghĩa về “Online Learning” như sau: “Online Learning” là một phương pháp giáo dục, theo đó học sinh được học trong một môi trường hoàn toàn ảo Và “Online Learning” là hình thức giáo dục trực tuyến giúp chúng ta có thể tiếp nhận thông tin dễ dàng chỉ với một chiếc điện thoại, máy tính hoặc máy tính bảng có kết nối Internet Như vậy, học sinh có thể học tập từ xa mà không cần phải đến trường học

2.1.2 Đặc điểm “Học tập trực tuyến” (Online Learning)

Học từ xa trực tuyến đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của học sinh, những người không thể hoặc không muốn tham gia vào các môi trường lớp học truyền thống Những người học này bao gồm những người không thể tham gia các lớp học truyền thống, những người không thể tìm thấy một lớp học cụ thể tại cơ sở mà họ đã chọn, những người sống ở các địa điểm xa xôi, những người làm việc toàn thời gian và chỉ

có thể học tại hoặc sau giờ làm việc và những người chỉ đơn giản là thích học độc lập

Yêu cầu tối thiểu đối với sinh viên để tham gia một khóa học trực tuyến là quyền truy cập vào máy tính, Internet và động lực để thành công trong một lớp học phi truyền thống Các khóa học trực tuyến cung cấp một phương pháp phân phối khóa học tuyệt vời không bị ràng buộc bởi thời gian hoặc địa điểm cho phép bạn có thể

Trang 21

tiếp cận với hướng dẫn mọi lúc, mọi nơi Người học thấy môi trường trực tuyến là một cách thuận tiện để phù hợp với giáo dục vào cuộc sống bận rộn của họ Khả năng truy cập khóa học từ bất kỳ máy tính nào có kết nối Internet, 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần là một động lực to lớn đối với nhiều sinh viên ngày nay.

Sinh viên khi tham gia vào các lớp học trực tuyến có thể chủ động lựa chọn cho mình những kiến thức phù hợp Cùng với việc đánh giá được nhu cầu thực tế, học trực tuyến có thể áp dụng cho tất cả các nhu cầu cụ thể nhất

Phương pháp tương tác bảng điện tử đang là một hình thức học online được chú trọng nhiều nhất Các bài giảng của giáo viên sẽ được trình bày thông qua phương thức học tại lớp truyền thống và được ghi hình lại nhằm làm tư liệu giảng dạy một cách sinh động cho học sinh ở khắp nơi Chính nhờ phương pháp này, sinh viên sẽ tiếp thu bài nhanh chóng và giờ học trở nên hấp dẫn, sinh động hơn

Ngoài ra, đào tạo online đồng bộ còn giúp cho người học có khả năng tự kiểm soát tốc độ học của mình sao cho phù hợp với bản thân, vẫn đảm bảo được chất lượng học tập mà không cần phải có những phần hướng dẫn

2.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của “Học tập trực tuyến” (Online Learning)

2.1.3.1 Ưu điểm

Tương tác: Tăng tương tác và thảo luận giữa học sinh với giáo viên và học sinh với học sinh; một môi trường học tập lấy sinh viên làm trung tâm hơn; ít nghe thụ động hơn và học tập chủ động hơn; một cảm giác kết nối, sức mạnh tổng hợp

Giảng dạy sáng tạo: Phương pháp tiếp cận lấy sinh viên làm trung tâm; tăng tính đa dạng và sáng tạo của các hoạt động học tập; giải quyết các phong cách học tập khác nhau; những thay đổi và cải tiến cũng có thể chuyển sang các khóa học trên

cơ sở

Cải thiện quản lý: Thời gian để kiểm tra công việc của sinh viên kỹ lưỡng hơn; khả năng lập tài liệu và ghi lại các tương tác trực tuyến; khả năng quản lý chấm điểm trực tuyến

Tiết kiệm: Chứa nhiều sinh viên hơn; sự hài lòng của sinh viên tăng lên đồng nghĩa với khả năng duy trì cao hơn và ít lần lặp lại hơn

Tối đa hóa nguồn lực vật chất: Giảm bớt nhu cầu về cơ sở hạ tầng hạn chế trong khuôn viên trường; giảm ùn tắc trong khuôn viên trường và các bãi đậu xe

Trang 22

Tiếp cận: Cung cấp cho học sinh các lựa chọn; tiếp cận thị trường sinh viên mới; thu hút sinh viên hiện tại do đó tăng số lượng đăng ký

Đào tạo mọi lúc mọi nơi: Truyền đạt kiến thức nhanh chóng, thông tin theo yêu cầu của học viên Người học có thể truy cập vào các khóa học trực tuyến tại bất

kỳ nơi đâu: ở nhà, nơi làm việc hay các địa điểm mạng Internet công cộng và vào bất

ký thời gian nào thích hợp khi người học muốn

Tiết kiệm thời gian học tập: So với phương pháp đào tạo truyền thống thì các khóa học qua mạng giúp học viên tiết kiệm khoảng từ 20 đến 40 % thời gian do giảm được thời gian đi lại và sự phân tán

Linh động và uyển chuyển: sinh viên có thể chủ động và linh hoạt trong việc lựa chọn website học qua mạng với sự chỉ dẫn của giáo viên hay những khóa học trực tuyến qua mạng với hình thức tương tác Ngoài ra, học viên còn có thể tự động điều chỉnh tốc độ học tập theo khả năng, và còn có thể nâng cao thêm kiến thức thông qua những tài liệu của thư viện trực tuyến

Hệ thống hóa: Những hệ thống học tập trực tuyến cho phép sinh viên dễ dàng tham gia khóa học, và có thể theo dõi kết quả cũng như tiến độ học tập Với khả năng thiết kế website quản lý học sinh sinh viên, giảng viên có thể biết được những sinh viên nào tham gia khóa học, khi nào họ hoàn tất quá trình học tập và đưa ra giải pháp thực hiện giúp họ phát triển trong quá trình học

Nói chung, ưu điểm của đào tạo qua mạng mang lại sự tiện ích cho cả người học và giảng viên

Đối với giảng viên: có thể sử dụng hình ảnh, âm thanh và video để truyền đạt nội dung học tập đến người học thêm hấp dẫn và sinh động hơn Ngoài ra, còn có thể quản lý học viên thông qua tính năng thiết kế website quản lý trường học

Đối với học viên: Tiết kiệm được nhiều chi phí học tập cũng như chi phí đi lại và địa điểm Ngoài ra, hình thức trả học phí cũng đơn giản thông qua tính năng thiết kế website thanh toán online

Trang 23

Muốn học online tốt thì phải có đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm và có kỹ năng sư phạm tốt

Phương pháp này không phù hợp với những người lớn tuổi, không quá thành đạo về máy tính

Môi trường học tập online không kích thích được sự sáng tạo và chủ động của học viên giống như học tập truyền thống

Làm giảm đi khả năng truyền đạt và sự nhiệt huyết

Có một số giảng viên không thực sự quen với việc dạy online dẫn tới bị áp lực

Nảy sinh vấn đề liên quan tới an ninh mạng và cả quyền sở hữu trí tuệ

2.2 “Học tập truyền thống” (Traditional Learning)

2.2.1 Khái niệm “Học tập truyền thống” (Traditional Learning)

Theo Francesco G Giuseffi, “Traditional Learning” là sự tương tác học tập trực tiếp điển hình xảy ra ở một địa điểm thực tế, chẳng hạn như trong khuôn viên trường đại học Việc học tập do giáo viên hướng dẫn trong một bối cảnh nơi việc triển khai khóa học diễn ra với sự tương tác trực tiếp

Theo David Ciccarelli, Phương pháp học truyền thống hầu như luôn bao gồm một ‘nhà hiền triết trên sân khấu’: giáo viên giao tiếp trực tiếp với một nhóm học sinh trong một cơ sở truyền thống Phương pháp học tập này thường liên quan đến việc học sinh tụ tập trong các lớp học vật lý trong một khung thời gian nhất định với mục đích tìm hiểu về các chủ đề cụ thể hoặc để có được kinh nghiệm và đào tạo công việc thực tế cụ thể Các chương trình giảng dạy và bài học thường dựa trên sách giáo khoa

đã được tiêu chuẩn hóa và được chính phủ phê duyệt, mà giáo viên và học sinh làm việc thông qua

Chúng tôi đưa ra định nghĩa về “Traditional Learning” như sau: Học tập hoặc giáo dục truyền thống diễn ra trong môi trường lớp học Có một giáo viên kiểm duyệt

và điều chỉnh luồng thông tin và kiến thức Sau đó, giáo viên mong muốn sinh viên đào sâu kiến thức của họ thông qua các bài tập viết ở nhà Ngày nay, công nghệ được tích hợp trong lớp học ngày càng nhiều Tuy nhiên, trong các tình huống hướng dẫn trực tiếp, nguồn thông tin chính vẫn là người huấn luyện

2.2.2 Đặc điểm “Học tập truyền thống” (Traditional Learning)

Trang 24

Về cơ bản, học tập truyền thống là phương pháp “lấy hoạt động của người dạy là trung tâm”, là quá trình truyền tải thông tin từ người dạy sang người học Giáo

án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống Người dạy là người thuyết trình, diễn giảng; người học là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Việc học tập truyền thống coi trọng việc truyền tải kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp này có tính hệ thống, logic cao; người dạy có thể truyền tải được nhiều nội dung kiến thức đến người học Song, “do lấy người dạy làm trung tâm” nên phương pháp này có nhược điểm đó là không phát huy được tính tích cực, chủ động, năng lực tư duy sáng tạo của người học, làm cho giờ học dễ đơn điệu, buồn tẻ, nặng về lý luận, ít chú ý đến việc hình thành năng lực cho người học Yêu cầu của việc thực hiện phương pháp này đó là: Người dạy phải chuẩn

bị nội dung bài học một cách kỹ lưỡng, theo hệ thống, logic, chủ yếu thông qua thuyết trình, diễn giảng để truyền tải những tri thức đó đến với người học

2.2.3 Ưu và nhược điểm “Học tập truyền thống” (Traditional Learning)

2.2.3.1 Ưu điểm

Học trực tiếp: Học trực tiếp cho phép học sinh và giáo viên hiểu nhau hơn nhiều Giáo viên có thể nhận ra các hàng đợi vật lý và các sắc thái thường không được chú ý trong cài đặt trực tuyến Quan trọng nhất, tương tác trực tiếp với giáo viên cho phép học sinh xây dựng lòng tin thân thiết với nhà giáo dục

Tạo thói quen tốt: Đối với nhiều trẻ em và thanh niên, kỷ luật tuân theo thời khóa biểu ở trường hàng ngày thiết lập các thói quen quan trọng và thiết lập chúng

để thành công khi là một người lớn đi làm

Ví dụ thực tế: Các nhà giáo dục có cơ hội cung cấp cho học sinh những ví dụ thực tế mà họ có thể tiếp xúc và tương tác Đây là một yếu tố quan trọng đối với người học thực hành

Dạy các kỹ năng xã hội tốt: Ý tưởng được đưa vào một lớp học với những người thuộc mọi hoàn cảnh và kiểu tính cách khác nhau cho phép bạn có vô số cơ hội

xã hội mà bạn không nhất thiết phải trải nghiệm ở định dạng trực tuyến

Tốt hơn cho sức khỏe thể chất: Học sinh có nhiều khả năng được tập thể dục hơn nếu họ đã lên lịch trình dành thời gian mỗi ngày để làm như vậy, hoặc có một phòng tập thể dục trong khuôn viên trường gần đó

Trang 25

2.2.3.2 Nhược điểm

Giờ học không linh hoạt: Giáo viên và học sinh có thể thấy khó duy trì lịch trình nghiêm ngặt của một cơ sở giáo dục nếu họ có nhiều công việc hoặc các cam kết khác

Đi lại: Lái xe qua lại một cơ sở giáo dục hàng ngày có thể chiếm rất nhiều thời gian cho cả nhà giáo dục và người học Để đến trường và từ trường có thể tốn nhiều thời gian và tiền bạc cho xăng, bảo dưỡng phương tiện hoặc phương tiện công cộng

Khoản vay sinh viên lớn hơn: Tính từ điểm cuối cùng, các khoản vay mà sinh viên tham gia học trực tiếp truyền thống nói chung sẽ lớn hơn nhiều do chi phí sinh hoạt (nội trú hoặc ngoài trường), đi lại và học phí đắt hơn

Lắng nghe thụ động: Khi các nhà giáo dục trình bày một bài giảng hoặc bài học trước lớp học của học sinh, những học sinh đó có thể chỉ lắng nghe một cách thụ động, điều này khiến khả năng bỏ học tăng vọt

2.3 So sánh “Học tập trực tuyến” (Online Learning) và “Học tập truyền thống” (Traditional Learning)

“Học tập trực tuyến”

(Online Learning)

“Học tập truyền thống”

(Traditional Learning)

Việc học xảy ra online Việc học xảy ra offline

Tiết kiệm và linh hoạt về thời gian Bó buộc trong một thời gian cố định Tiết kiệm chi phí và công sức Tốn chi phí và công sức hơn

Kiểm soát được quá trình học tập thông

qua các công cụ đánh giá, đưa ra những

biện pháp hỗ trợ nhanh chóng

Đánh giá thông qua các bài kiểm tra

Không giới hạn số lượng người học Giới hạn số lượng người học trong

Trang 26

không gian cố định

Có thể lưu trữ bài học phục vụ cho việc

ôn tập lại kiến thức dễ dàng

Giảng viên giảng dạy một (hoặc vài) lần

và công cụ lưu trữ duy nhất là tập ghi chép của sinh viên

Dễ tiếp cận và thuận tiện Tiếp cận phụ thuộc vào thời gian và khu

vực địa lý Tương tác hạn chế Tương tác sâu rộng giữa giảng viên và

sinh viên

Nguồn thông tin chính là nội dung trực

tuyến

Nguồn thông tin chính là giảng viên

Bảng 1: So sánh “Học tập trực tuyến” (Online Learning) và “Học tập truyền

thống”

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN CỦA SINH VIÊN KHOA NN&VH ĐỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ,

ĐHQGHN

1 Mô tả về nghiên cứu thực tiễn

1.1 Phương pháp và công cụ nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng Anket (Phương pháp điều tra viết) đã được lựa chọn sử dụng để phục vụ cho nghiên cứu này Điểm mạnh lớn nhất của phương pháp này là cho phép nhóm nghiên cứu có thể điều tra diện rộng trên mặt địa

lý với một số lượng lớn khách thể - cụ thể là toàn bộ 219 sinh viên từ năm 2 đến năm

4 khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN trong một khoảng thời gian ngắn, nên thu được nhiều thông tin và có tính định lượng Các số liệu thu được dễ dàng nhập và xử lý để xác định đúng được thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên, những khó khăn và rào cản mà sinh viên phải đối mặt khi học tập trực tuyến trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 đang hoành hành, đồng thời là những mặt thuận lợi và tính hiệu quả của việc học trực tuyến (Online Learning) đem lại cho sinh viên Ngoài ra, phương pháp điều tra cho phép người điều tra có thể chủ

Trang 27

động hơn với những thông tin mong muốn khai thác từ các đối tượng khảo sát Tất

cả các kết quả của phương pháp điều tra đều là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để chứng minh cho tính hiệu quả của phương pháp học đảo ngược Tuy nhiên những kết quả đưa ra mang tính

cá nhân và chủ quan từ góc độ của người được khảo sát, đó cũng là điểm hạn chế của phương pháp điều tra

Công cụ được dùng để phục vụ cho điều tra là nền tảng Google Forms - một ứng dụng dựa trên web được sử dụng để tạo biểu mẫu cho mục đích thu thập dữ liệu Biểu mẫu khảo sát có thể được chia sẻ với đối tượng khảo sát bằng link, gửi email hoặc gửi tin nhắn vào trang web hoặc tin nhắn riêng, bài viết Dữ liệu được thu thập bằng biểu mẫu thường được lưu trữ trong bảng tính (spreadsheet) Google Forms cho phép đặt cả câu hỏi mở và câu hỏi đóng Mặc dù có rất nhiều các ứng dụng khảo sát trực tuyến khác nhưng nhóm khảo sát ưu tiên lựa chọn Google Forms vì là một tùy chọn miễn phí khá tuyệt vời Để đảm bảo rằng thông tin là chính xác và hữu ích, tính xác thực dữ liệu rất quan trọng Vậy nên trên nền tảng công cụ này cung cấp nhiều tùy chọn để kiểm soát câu trả lời của đối tượng khảo sát

1.2 Mẫu nghiên cứu

Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN với

sự đa dạng sinh viên đến từ các vùng miền khác nhau trên cả nước và ở những độ tuổi khác nhau sẽ giúp cho việc lựa chọn mẫu nghiên cứu phù hợp với nội dung và mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Để thu thập được người tham gia vào nghiên cứu với tổng thể nghiên cứu là

Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN đã thu được 219 kết quả nghiên cứu trên tổng thể là

377 sinh viên Mẫu nghiên cứu ở đây là mẫu tình nguyện xác suất được khảo sát lấy kết quả qua Google Forms Khung mẫu nghiên cứu bao gồm thông tin của khách thể, niên khóa, các câu hỏi với các mức độ đồng ý được lựa chọn từ 1 đến 5

1.3 Các bước tiến hành nghiên cứu

Bước chuẩn bị điều tra: gồm có các bước đầu tiên phải chọn mẫu - mẫu xác

suất tình nguyện Địa bàn hay quy mô khảo sát là trên tổng thể sinh viên năm 2, năm

3 và năm 4 Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức Trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN

Trang 28

Tiếp là thiết kế phiếu câu hỏi và khảo sát định tính Thời gian khảo sát diễn ra trong vòng 15 ngày ngày kể từ ngày 09/10/2021 đến ngày 23/10/2021

Bước tiến hành điều tra: Biểu mẫu khảo sát được đăng lên ở dạng bài viết

trên nhóm của hội sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN, được gửi qua Email từ những người điều tra nghiên cứu hoặc tin nhắn bằng link trên các nền tảng mạng xã hội Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu tuân thủ các yêu cầu được để ra - khảo sát trên toàn bộ 377 sinh viên từ năm 2 đến 4 khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại Ngữ - ĐHQGHN

Bước xử lý kết quả điều tra: được tiến hành bằng phương pháp thống kê toán

học: phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu và tiến hành xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh … theo những biến số độc lập để rút ra những thuộc tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ cho các giả thuyết nghiên cứu

2 Phân tích dữ liệu nghiên cứu

2.1 Thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

Học kỳ 1 của năm học 2021-2022 là khoảng thời gian trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 Do đó, trong học kỳ này, sinh viên sinh viên năm 2 đến năm 4 khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN đã học tập trực tuyến theo sự chỉ đạo của nhà trường

Biểu đồ 1: Thiết bị/ phương tiện học tập được sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN sử dụng trong thời gian học tập

trực tuyến

Trang 29

Kết quả khảo sát cho thấy, Laptop là thiết bị/ phương tiện học tập được sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN sử dụng nhiều nhất chiếm 39,7%, tiếp đến là điện thoại chiếm 32,1%, máy tính chiếm 22,2%

và cuối cùng là máy tính bảng chiếm 6% Điều đó cho thấy, laptop được sinh viên sử dụng ưa chuộng nhất, có thể vì sự phù hợp và tiện lợi của laptop trong việc học tập

và nghiên cứu trực tuyến của sinh viên

Biểu đồ 2: Địa điểm học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn

hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN

Theo kết quả khảo sát cho thấy, nhà riêng là địa điểm học tập trực tuyến của sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,3%, theo đó là phòng trọ/KTX chiếm 16%, tiếp đến là nhà bạn bè/người thân chiếm 4,5% và xếp vị trí cuối cùng là quán nét chiếm 1.2% Từ đó có thể thấy, hầu hết sinh viên đã kịp trở về nhà để tránh dịch và để học tập trực tuyến theo chỉ đạo của nhà trường Tuy nhiên, một số ít sinh viên chưa kịp quay trở về nhà hoặc lựa chọn ở lại phòng trọ/KTX để học tập trực tuyến Địa điểm quán nét hoặc nhà bạn bè/người thân cũng là một lựa chọn của thiểu số sinh viên

Ngày đăng: 14/10/2022, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: So sánh “Học tập trực tuyến” (Online Learning) và “Học tập truyền thống” - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 1 So sánh “Học tập trực tuyến” (Online Learning) và “Học tập truyền thống” (Trang 26)
Bảng 2: Quá trình tự học trong thời gian học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 2 Quá trình tự học trong thời gian học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN (Trang 33)
Bảng 3: Quá trình tham gia học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 3 Quá trình tham gia học tập trực tuyến của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN (Trang 34)
Bảng 4: Mục đích sử dụng Internet trung bình/ngày nói chung của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 4 Mục đích sử dụng Internet trung bình/ngày nói chung của sinh viên khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN (Trang 35)
Bảng 5: Thuận lợi và lợi ích của học tập trực tuyến đối với sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 5 Thuận lợi và lợi ích của học tập trực tuyến đối với sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN (Trang 37)
Bảng 6.1: Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học tập trực tuyến - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 6.1 Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học tập trực tuyến (Trang 39)
Bảng 6.2: Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học tập trực tuyến - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 6.2 Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học tập trực tuyến (Trang 41)
Bảng 6.3: Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học tập trực tuyến - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 6.3 Khó khăn và rào cản của sinh viên khoa Ngơn ngữ và Văn hóa Đức trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN trong học tập trực tuyến (Trang 43)
Bảng 7: Đánh giá hiệu quả của học tập trực tuyến - Nhóm 14 thực trạng học tập trực tuyến của sinh viên khoa ngôn ngữ và văn hóa đức trường đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN trong đại dịch covid 19
Bảng 7 Đánh giá hiệu quả của học tập trực tuyến (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w