MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.
Trang 1Hà Nội - 2022
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THÀNH LONG
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Trang 2Hà Nội - 2022
VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THÀNH LONG
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 9.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Lê Quang Thông
2 TS Lương Minh Huân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Phạm Thành Long
Trang 4EVFTA (European-Vietnam Free Trade Agreement): Hiệpđịnh thương mại tự do Việt Nam – EU
do
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số doanh nghiệp khu vực tư nhân đang hoạt động ở vùng ĐNB
74Bảng 3.2: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp khu vực tư
nhân vùng ĐNB (%) 78 Bảng 3.3 Tổng số lao động trong các doanh nghiệp khu vực tư nhân
vùng ĐNB 79Bảng 3.4: Thu nhập bình quân một tháng của người lao động trong khu
vực kinh tế tư nhân (nghìn đồng) 80 Bảng 3.5 Các quyết định/kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh ở
các địa phương vùng Đông Nam bộ 93
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình PCI 29
Hình 2.2 Mô hình tiếp cận nghiên cứu MTKD của GEM 30
Hình 2.3 Mô hình Chẩn đoán tăng trưởng HRV 32
Hình 2.4 Mô hình phân tích PEST của Francis J Aguilar 34
Hình 2.5 Cấu trúc môi trường kinh doanh trong nghiên cứu 35
Hình 3.1.Tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng Đông Nam bộ so với cả nước 72
Hình 3.2: Tổng sản phẩm theo giá hiện hành của doanh nghiệp khu vực tư
nhân của cả nước và các tỉnh vùng Đông Nam bộ (nghìn tỷ đồng) 74
Hình 3.3: Số doanh nghiệp khu vực tư nhân đăng ký thành lập mới của cả nước và vùng ĐNB 75
Hình 3.4: Số doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đang hoạt động phân theo quy mô lao động (%) 76
Hình 3.5 Số doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân đang hoạt động phân theo quy mô vốn (%) 77
Hình 3.6 Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp vùng ĐNB (Nghìn tỷ đồng) 78
Hình 3.7: Tổng thu nhập của lao động trong doanh nghiệp vùng ĐNB 80
Hình 3.8 Xếp hạng những trở ngại hàng đầu về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp của Việt Nam năm 2016 82
Hình 3.9.Tình hình an ninh trật tự tại tỉnh là Tốt (%) 83
Hình 3.10 Vốn FDI đăng ký đầu tư vào các địa phương vùng ĐNB năm 2019 83
Hình 3.11 Mức thuế thu nhập doanh nghiệp (%) giai đoạn 2004 – 2020 87
Hình 3.12 Lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân đối với các doanh nghiệp KTTN vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2008 – 2019 89
Hình 3.13 Các kênh tài chính doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ tiếp cận 91
Trang 7Hình 3.14.Tin tưởng HTPL sẽ đảm bảo quyền tài sản/thực thi hợp đồng
của doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ (%) 96 Hình 3.15 Hệ thống pháp luật (HTPL) có cơ chế giúp doanh nghiệp tố
cáo cán bộ nhũng nhiễu (%) 96 Hình 3.16 Đánh giá của DN tham gia điều tra về hệ thống pháp luật
trong kinh doanh ở vùng Đông Nam bộ 97Hình 3.17.Tính năng động của lãnh đạo các địa phương vùng Đông Nam
bộ năm 2015 và 2019 98 Hình 3.18 Chi phí không chính thức các tỉnh vùng Đông Nam bộ giai
đoạn 2017-2019 99 Hình 3.19 Các khoản CPKCT ở mức chấp nhận được (% Đồng ý) 99 Hình 3.20 Chi phí thời gian của doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ năm
2015 và 2019 101Hình 3.21 Dân số trung bình vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019 102 Hình 3.22 Lao động vùng Đông Nam bộ đáp ứng được nhu cầu sử dụng
của doanh nghiệp (%) năm 2015 và 2019 102 Hình 3.23 Lao động chuyên môn kĩ thuật bậc cao vùng Đông Nam bộ
năm 2019 104 Hình 3.24 Lao động đang làm việc phân chia theo vị thế việc làm ở
vùng Đông Nam bộ 104Hình 3.25: Lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin ở các tỉnh vùng 105 Đông Nam bộ năm 2020 105 Hình 3.26: Chỉ số đào tạo lao động trong PCI cấp tỉnh vùng Đông Nam
bộ
năm 2020 105 Hình 3.27 Dự báo tổng đầu tư cơ sở hạ tầng của vùng Đông Nam bộ giai
đoạn 2016- 2040 107
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 9
1.1 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh 9
1.2 trò Vai của nhà nước trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh 14
1.3 Thực tiễn cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam thời gian qua 18
1.4 Các yêu cầu về môi trường kinh doanh trong hội nhập quốc tế 21
Tiểu kết chương 1 23
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 24
2.1 Các lý thuyết về môi trường kinh doanh và vai trò của môi trường kinh doanh trong phát triển kinh tế 24
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm môi trường kinh doanh 24
2.1.2 Một số lý thuyết về môi trường kinh doanh 28
2.1.3 Lựa chọn mô hình lý thuyết nghiên cứu 35
2.2 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh 36
2.2.1 An ninh - chính trị 36
2.2.2 Đặc điểm kinh tế 37
2.2.3 Thể chế pháp luật 40
2.2.4 Bộ máy hành chính 41
2.2.5 Nguồn nhân lực 42
2.2.6 Cơ sở hạ tầng 42
2.3 Vai trò của môi trường kinh doanh đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp 44 2.4 Hội nhập quốc tế và các cải cách của Việt Nam về môi trường kinh doanh trong hội nhập 51
2.4.1 Bối cảnh hội nhập 51
2.4.2 Một số cải cách của Việt Nam về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập 54
2.5 học Bài kinh nghiệm của một số nước về cải thiện môi trường kinh doanh 62
2.5.1 Trung Quốc 62
2.5.2 Singapore 65
2.5.3 Malaysia 66
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ 70
3.1 Tổng quan vùng Đông Nam bộ 70
3.1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 70
3.1.2 Tình hình hoạt động các doanh nghiệp tư nhân vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019 72
3.2.Thực trạng môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ giai đoạn 2015-2019 81
Trang 93.2.1 An ninh - chính trị 81
3.2.2 Đặc điểm kinh tế 84
3.2.3 Thể chế pháp luật 92
3.2.4 Bộ máy hành chính 97
3.2.5 Nguồn nhân lực 101
3.2.6 Cơ sở hạ tầng 105
3.3 Thuận lợi và khó khăn trong cải thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ 110
3.3.1 Thuận lợi 110
3.3.2 Khó khăn 112
Tiểu kết chương 3 118
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÙNG ĐÔNG NAM BỘ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN NĂM 2030 121
4.1 Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ 121
4.1.1 Bối cảnh kinh tế Việt Nam và vùng Đông Nam bộ trong tình hình mới 121
4.1.2 Quan điểm và xu hướng cải thiện MTKD cho doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế 123
4.1.3 Nhận thức vai trò của nhà nước về cải thiện môi trường kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế 125
4.1.4.Định hướng phát triển môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ 128
4.2 Các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ trong quá trình hội nhập quốc tế 132
4.2.1 Giải pháp về đảm bảo an ninh – chính trị 132
4.2.2 Giải pháp về pháp luật kinh doanh 133
4.2.3 Giải pháp về cải cách hành chính và chính sách hỗ trợ 135
4.2.4 Giải pháp về thuế và các khoản “phải chi” 139
4.2.5 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 140
4.2.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 142
4.2.7 Giải pháp về chính sách hội nhập 144
4.2.8 Giải pháp liên kết vùng Đông Nam bộ 146
Tiểu kết chương 4 152
KẾT LUẬN 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156
PHỤ LỤC 161
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trên hành trình phát triển từsau đổi mới đến nay với những cải cách kinh tế quan trọng được khởi xướng vàonăm 1986 nhằm hướng tới nền kinh tế thị trường có điều tiết, nhờ vậy mà ViệtNam đã chuyển đổi từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành mộtquốc gia có thu nhập trung bình thấp và hướng tới quốc gia có mức thu nhậptrung bình cao vào năm 2035 Để duy trì xu hướng tăng trưởng ấn tượng, đồngthời tránh bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải giải quyết những thách thứcchính bao gồm chính sách và quản trị nhà nước về kinh tế, cơ sở hạ tầng và nhucầu năng lượng, tăng cường khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân và cải thiệnmôi trường kinh doanh cho doanh nghiệp bởi lẽ khả năng hoạt động của cácdoanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào những tác động tích cực hay tiêu cực từ môitrường kinh doanh mang lại Môi trường kinh doanh thuận lợi về mặt trực tiếp sẽtạo cơ hội và động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh, mở rộnghoạt động sản xuất, gia tăng lợi nhuận; gián tiếp sẽ tạo công ăn việc làm cho xãhội, góp phần xóa đói giảm nghèo, là động lực để nâng cao sức cạnh tranh và tính
tự chủ của nền kinh tế cũng như nâng cao chất lượng tăng trưởng, góp phần hoànthành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Do đó, vấn đề cải thiệnmôi trường kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược pháttriển kinh tế không chỉ riêng Việt Nam mà là hầu hết các nước trên thế giới
Theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2020, cả nước có 758.610 doanhnghiệp đang hoạt động, tăng 6,14% so với năm 2019 Tuy nhiên, đà phá sản củacác doanh nghiệp trong thị trường vẫn tiếp tục tăng đặc biệt là trong bối cảnh dịchCovid-19 vẫn chưa được kiểm soát tốt trên thế giới như hiện nay Theo số liệucủa Tổng cục Thống kê, 8 tháng đầu năm 2020 có 34.300 doanh nghiệp đăng kýtạm ngừng kinh doanh có thời hạn, 24.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờlàm thủ tục giải thể, 10.400 doanh nghiệp hoàn tất thủ
Trang 11tục giải thể và 30.600 doanh nghiệp không hoạt động, tất cả đều tăng cao so vớicuối năm 20191 Trong báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh 2020 của WB,Việt Nam ở thứ hạng 70/190 quốc gia về chỉ số môi trường kinh doanh thuận lợi,Việt Nam đạt 69,8 điểm trên 100, cao hơn năm ngoái (68,36), nhưng lại tụt mộtbậc so với năm 2019 Qua đây có thể thấy rõ, cải thiện MTKD ở Việt Nam là việclàm cần thiết và quan trọng hàng đầu trong ổn định nền kinh tế vĩ mô và hội nhậpkinh tế quốc tế Xác định rõ vai trò quan trọng của việc cải thiện kinh doanh đốivới sự phát triển của nền kinh tế, Chính phủ đã có những nỗ lực quan trọng cảicách môi trường kinh doanh (MTKD) thông qua Nghị quyết số 19/NQ-CP (NQ19) của Chính phủ về cải thiện MTKD, nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT)quốc gia được ban hành hằng năm kể từ năm 2014 đến 2018 và Nghị quyết 02 từnăm 2019 đến nay Bên cạnh đó, Nghị quyết số 35/NQ-CP (NQ 35) năm 2016 về
hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, để hướng đến mục tiêu đưa MTKDcủa Việt Nam vào nhóm 4 quốc gia hàng đầu khu vực ASEAN (ASEAN 4)2
Vùng Đông Nam bộ (ĐNB) là khu vực kinh tế năng động với mức tăngtrưởng cao so với cả nước, nơi tập trung nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp,thương mại, dịch vụ, khoa học–kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao lưu quốc tế,
có lực lượng lao động dồi dào, tay nghề cao, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứukhoa học, công nghệ; có hệ thống đô thị phát triển, các khu công nghiệp phát triểnmạnh trở thành trung tâm và đầu mối giao lưu của các tỉnh phía Nam với cả nước
và quốc tế, được gắn kết bởi đường bộ, đường biển, đường hàng không, tạo điềukiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Vùng cũng như mở rộng các quan hệkinh tế liên vùng và quốc tế Bên cạnh đó, năm 2019, vùng Đông Nam bộ đã đạtđược những thành tựu to lớn, với quy mô GRDP chiếm khoảng 41,97% GDPtoàn nền kinh tế, đóng góp gần
1 Trần Thủy (2020), 10 nghìn doanh nghiệp giải thể, hàng vạn doanh nghiệp gặp nguy cơ, Báo điện tử Vietnamnet
ngày 5/9/2020, truy cập ngày 25/01/2021
2 Đặng Thị Mai Hương & Đặng Thị Lan (2019), Việt Nam nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, Tạp chí Công
Thương, truy cập ngày 26/06/2019.
Trang 1243,68% thu ngân sách quốc gia, thu nhập theo đầu người cao gấp 1,46 lần mứcbình quân cả nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn tốc độ tăngtrưởng bình quân chung nền kinh tế3 Theo thống kê tại Sách trắng doanh nghiệpViệt Nam 2020, vùng Đông Nam bộ có bình quân 17,4 doanh nghiệp đang hoạtđộng trên 1000 dân, cao nhất trong 06 vùng kinh tế xã hội cả nước4 Từ nhận thức
và hành động của chính phủ về cải thiện MTKD của Việt Nam và vai trò quantrọng của sự phát triển doanh nghiệp ở vùng Đông Nam bộ, vốn là trung tâm kinh
tế lớn nhất nước cho nên việc cải thiện MTKD vùng ĐNB cần phải quan tâm đặcbiệt Tuy nhiên hiện nay, có rất ít các nghiên cứu về MTKD chỉ cho riêng vùngĐông Nam bộ Nhận thức được tầm quan trọng này, lựa chọn và nghiên cứu đề
tài: “Môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn hiện nay.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án là xác định được các yếu tố cấu thành môi trườngkinh doanh vùng ĐNB, nhận diện những thuận lợi, khó khăn của doanh nghiệpvùng ĐNB trong quá trình sản xuất, kinh doanh Từ đó có cơ sở đề xuất các giảipháp nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp Vùng trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
(i) Tổng quan một cách hệ thống cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế;
(ii) Đánh giá thực trạng về môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ(iii) Đề xuất giải pháp hoàn thiện môi trường kinh doanh cho doanh
nghiệp vùng Đông Nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Tổng cục thống kê (2019), Niên giám thống kê cả nước và các tỉnh vùng Đông Nam bộ, NXB
Thống kê
4 Nguyễn Thanh Hòa (2020), Tình hình phát triển doanh nghiệp và môi trường kinh doanh khu vực Đông
Nam bộ, Cổng thông tin quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp ngày 30/09/2020, Truy cập ngày 25/01/2021
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trường kinh doanh của các doanhnghiệp vùng Đông Nam bộ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: nghiên cứu thực trạng MTKD vùng ĐNB tập trung chủ yếugiai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019 và đề xuất giải pháp đến năm 2030
Về địa bàn: nghiên cứu thực hiện trong 6 tỉnh vùng Đông Nam bộ
Giới hạn đối tượng nghiên cứu: do số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhânvùng Đông Nam Bộ chiếm tỷ lệ lớn (năm 2019 là 243.813/294.405 doanh nghiệpchiếm 82,8% số lượng doanh nghiệp toàn vùng) đồng thời là những doanh nghiệprất “nhạy cảm” với các chính sách và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ môi trườngkinh doanh nên Luận án tập trung phân tích môi trường kinh doanh cho các doanhnghiệp tư nhân trong nước vùng Đông Nam bộ
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Việc nghiên cứu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là hiện tượngkinh tế, xã hội tương đối phức tạp nên đòi hỏi cách tiếp cận đa dạng để giải thíchhiện tượng Đã có rất nhiều lý thuyết và giả thiết khác nhau được xây dựng nhằmphân tích các nhân tố cấu thành MTKD cũng như tác động của MTKD đến doanhnghiệp Khi phân tích nhân tố cấu thành MTKD, luận án sử dụng các khung lý thuyếtsau: mô hình PCI của VCCI ; mô hình nghiên cứu GEM, mô hình chẩn đoán tăngtrưởng HRV, mô hình PEST Tính phù hợp khi áp dụng và nội dung các mô hình lýthuyết nghiên cứu này sẽ được phân tích chi tiết trong phần Chương II và cách tiếpcận này có ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp thu thập số liệu điều tra vàphương pháp nghiên cứu của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp thống kê, mô tả
Luận án sử dụng nhiều nguồn số liệu thống kê từ các cơ quan nghiên cứu,các cơ quan quản lý nhà nước ở các tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ Các số liệunày được nghiên cứu tập hợp và mô tả nhằm làm rõ vai trò của nhà nước trong tạolập môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp ở vùng Đông Nam bộ và cảnước
Trang 14- Phương pháp thu thập thông tin
Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằmđảm bảo sự đa dạng, phong phú của thông tin; độ tin cậy của các dữ liệu, cácminh chứng, luận chứng đảm bảo tính chính xác, khách quan và khoa học; đảmbảo thuyết phục khi chứng minh cho các luận điểm được trình bày trong luận án
- Phương pháp nghiên cứu thông tin thứ cấp
Phương pháp này được sử dụng để thu thập, khai thác, tổng hợp thông tin
từ các nguồn tư liệu đã có sẵn có liên quan đến các nội dung mà luận án nghiêncứu Phương pháp này nghiên cứu dữ liệu dưới dạng in ấn, hình ảnh hoặc âmthanh để khám phá xem chúng có ý nghĩa gì, thúc đẩy hay ngăn cản điều gì, vàthông tin gì đang được truyền tải Hình thức dữ liệu cụ thể rất đa dạng bao gồmcác bài báo, các cuộc khảo sát ý kiến, báo cáo của các doanh nghiệp, văn bản củachính phủ, thông tin về cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh qua các năm Nguồntài liệu thứ cấp còn là các công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học, các báo cáo,
số liệu thống kê, kết quả điều tra… của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổchức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu Nguồntài liệu sẵn có được thu thập từ nguồn tài liệu trong nước lẫn nước ngoài có liênquan đến chức năng của nhà nước trong tạo lập môi trường kinh doanh cho doanhnghiệp hiện nay
Phương pháp điều tra, khảo sát:
Mục đích của phương pháp này nhằm thông qua quá trình khảo sát, nhậndiện những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình phát triển Từ
đó, có cơ sở để đề xuất các kiến nghị, giải pháp cải thiện MTKD phù hợp với thựctrạng hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn vùng Đông Nam bộ
LA khai thác các thông tin từ 130 phiếu hỏi điều tra phục vụ cho nghiêncứu Phiếu hỏi điều tra được thiết kế cho nhóm đối tượng là các doanh nghiệp tưnhân trong nước ở vùng Đông Nam bộ trong đó số lượng mẫu phiếu điều tra đượcphân bổ bao gồm: TP.HCM (40); Bình Dương (30); Đồng Nai (30);
Trang 15Bình Phước (10); Tây Ninh (10) và BRVT (10) Cụ thể, ý kiến rất đồng ý (đạtmức độ 5); ý kiến đồng ý (đạt mức độ 3 và 4); ý kiến ít đồng ý (mức độ 1 và
2) và ý kiến không đồng ý (mức độ 0)
Thời gian thực hiện điều tra: từ tháng 3 - 6/2019
Mẫu điều tra được lựa chọn có chủ đích theo phương pháp ngẫu nhiênthuận tiện, xác định những người tham gia điều tra có liên quan tới chủ đề nghiêncứu
Tháng 7/2019, tổng số phiếu thu về là 130 phiếu, trong đó có 120 phiếu đạtnội dung yêu cầu đề ra
Do phạm vi nội dung của đề tài chủ yếu tập trung vào xem xét môi trườngkinh doanh các doanh nghiệp KTTN, nên LA chỉ tập trung khai thác sâu một sốcâu hỏi có liên quan trong phiếu hỏi điều tra (được trình bày cụ thể trong phụ lục1) Dữ liệu liên quan đến các câu hỏi mà LA quan tâm được nhập vào phần mềmchuyên dụng SPSS (Statistical Package for the Social Sciences), phần mềm thống
kê được sử dụng khá phổ biến phục vụ cho công tác phân tích thống kê LA sửdụng phần mềm SPSS dạng thống kê mô tả và dạng phân tích bảng tra chéo
Để có thêm thông tin chi tiết và khắc phục những thông tin thiếu ở nhữngcâu hỏi đóng trong phiếu điều tra, ngoài việc sử dụng dữ liệu trong phiếu hỏi, LAcòn sử dụng các kết quả điều tra về môi trường kinh doanh của VCCI (PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam) trong giai đoạn 2015 – 2019, dữ liệu từTổng cục Thống kê, Cục thống kê 6 tỉnh thành trong vùng Đông Nam bộ
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu môi trường kinh doanh của các doanhnghiệp vùng Đông Nam bộ, luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau:
Thứ nhất, luận án đã tổng quan cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh đối
với hoạt động đầu tư kinh doanh, trong đó nêu rõ các mục tiêu, phương pháp, nộidung và mô hình họat động của doanh nghiệp; các vấn đề về MTKD cũng như vaitrò của MTKD trong quá trình đưa các doanh nghiệp vùng Đông Nam bộ hộinhập với sân chơi quốc tế
Trang 16Thứ hai, luận án tổng kết một số bài học thành công và chưa thành công từ cải
thiện môi trường kinh doanh của một số quốc gia Trung Quốc, Singapore,Malaysia Đây là cơ sở quan trọng để đối chiếu và so sánh để đánh giá vai trò củaquản lý nhà nước đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam nói chung và ĐôngNam bộ nói riêng
Thứ ba, luận án đã đi sâu phân tích thực trạng họat động của các doanh
nghịệp tư nhân vùng Đông Nam bộ giai đọan 2015-2019 Quá trình đổi mới môitrường kinh doanh tại Việt Nam và có sự khác biệt môi trường kinh doanh củavùng Đông Nam bộ so với các vùng khác cả nước Tác giả cũng đã sử dụng các
số liệu điều tra thu thập được để đánh giá đổi mới môi trường kinh doanh, nhìndưới nhiều góc độ: cơ quan quản lý, các DN và các chuyên gia kinh tế, từ đó chothấy sự cần thiết phải tăng cường đổi mới quản lý nhà nước đối với môi trườngkinh doanh Trên cơ sở các kết quả phân tích dữ liệu điều tra, tác giả đánh giánhững thành công và hạn chế trong đổi mới môi trường kinh doanh cho các doanhnghịêp
Thứ tư, luận án đã phân tích bối cảnh kinh tế Việt Nam và vùng Đông Nam
bộ trong xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp tác động đến sự đổi mới quản lýnhà nước đối với môi trường kinh doanh Đây là những cơ sở để thực hiện các giảipháp đổi mới môi trường kinh doanh, đảm bảo hài hòa lợi ích của doanh nghiệp,nhà nước, xã hội theo các mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế Song song với các giải pháp Luận án cũng đưa ra một sốnội dung kiến nghị DN để đảm bảo đổi mới môi trường kinh doanh được thực hiện
Trang 176.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc bổ sung, hoàn thiện môitrường kinh doanh vùng Đông Nam bộ nói riêng và ở Việt Nam nói chung nhất làtrong việc phối hợp giữa chính quyền các địa phương trong vùng để cải thiện môitrường đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; Luận án được trình bày trong 4 chương như sau:
Chương I: Tổng quan các nghiên cứu về môi trường kinh doanh
Chương II: Cơ sở lý luận về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp trongbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương III: Thực trạng môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ
Chương IV: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện môi trường kinh doanh vùng Đông Nam bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Cùng với sự biến động không ngừng của tình hình kinh tế - xã hội cũngnhư nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, yêu cầu vềviệc cải thiện MTKD nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động hiệuquả, nâng cao năng suất ngày càng được đặt ra cấp thiết Từ sự đòi hỏi này, nhiềucác công trình nghiên cứu về MTKD đã được thực hiện với các nhóm nội dung:
1.1 Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh
Lê Danh Vĩnh (2009) cho rằng môi trường kinh doanh được cấu thành từ 2nhóm nhân tố: (1) thể chế chính thức và (2) thể chế phi chính thức Đích hướngđến của quá trình hội nhập quốc tế là việc giảm thiểu tối đa khả năng hoạt độngcủa thể chế phi chính thức và cần sự can thiệp, hỗ trợ của Nhà nước trong việchiện thực hoá, hữu ích hoá các điều kiện của thể chế chính thức Quá trình này đòihỏi phải có sự minh bạch cũng như một lộ trình cụ thể trong việc đưa ra các “luậtchơi” công bằng cho tất cả các hình thức kinh doanh Mặt khác, tác giả cho thấyviệc cải cách thể chế ở Việt Nam trong giai đoạn 2002- 2006 để thực hiện các yêucầu của hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ thông qua các pháp lệnh vàluật được ban hành và sửa đổi qua các năm Bên cạnh đi sâu trình bày về thể chếmôi trường kinh doanh Việt Nam, tác giả còn tập trung vào môi trường kinhdoanh và các tiêu chí đánh giá môi trường kinh doanh của các tổ chức trong nước(VCCI, VNCI: chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh/thành – PCI) và quốc tế (WB, IFC: chỉ
số thuận lợi kinh doanh – BEI; đại học Harvard và Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF: chỉ số môi trường thương mại – ETI) Tác giả đưa ra các quan điểm và địnhhướng hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh ở Việt Nam, theo đó việc hoànthiện thể chế môi trường kinh doanh phải quán triệt bốn điểm chính Tác giả đềxuất các nhóm
Trang 19ra, thể chế kinh tế còn chịu tác động của một số nhân tố khác như: trình độ pháttriển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cơ chếquản lý, trình độ năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện luật, ý thức chấp hànhluật của doanh nghiệp,… Tác giả cũng nêu những thành tựu nổi bật trong môitrường kinh doanh Việt Nam như: (i) Nguyên tắc pháp quyền ngày càng đượckhẳng định và phát huy hiệu quả trong các hoạt động nền kinh tế, nếu trước đâyNhà nước quản lý kinh tế - xã hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và mệnhlệnh hành chính thì nay đã được pháp luật hóa; (ii) tạo được khuôn khổ pháp lýcho việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và (iii) dân chủ hóa đờisống kinh tế - xã hội Tuy nhiên, một số hạn chế cũng được tác giả chỉ ra như:tính bình đẳng trong môi trường kinh doanh giữa các thành phần kinh tế và sựmâu thuẫn giữa các quy định, thẩm quyền ban hành các thể chế quá rộng rãi, giaocho nhiều cơ quan, cải cách hành chính vẫn còn chậm.
Boddewyn và Brewer (1994) cho rằng môi trường kinh doanh phụ thuộc rấtlớn vào thể chế kinh tế của các quốc gia Với đặc thù thể chế khác nhau là điềukiện hình thành nên những đặc trưng môi trường kinh doanh khác nhau Ba cấuthành quan trọng của hệ thống thể chế gồm có thể chế chính thức (thành văn, nhưluật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, như tục lệ và các quy tắc xử thế),
và các cơ chế và biện pháp chế tài Scott (1995) chỉ ra rằng, để tồn tại, cácdoanh nghiệp phải phù hợp với các quy tắc và hệ
Trang 20thống niềm tin phổ biến trong môi trường kinh doanh cụ thể, ví dụ như, các Tậpđoàn đa quốc gia (MNCs) hoạt động tại các nước khác nhau với môi trường thểchế khác nhau, sẽ phải đối mặt với các áp lực khác nhau cả ở nước sở tại và nướcchủ đầu tư, điều này ảnh hưởng cơ bản đến chiến lược cạnh tranh (Martinsons,1993; Porter, 1990) và hoạt động quản lý nguồn nhân lực (HRM) (Rosenzweig vàSingh, 1991; Zaheer, 1995) Có nhiều bằng chứng cho thấy các doanh nghiệptrong các nền kinh tế khác nhau, sẽ phản ứng khác nhau với cùng một loại tháchthức (Knetter, 1989) Xã hội, kinh tế, chính trị và các yếu tố cấu thành một cơcấu thể chế trong một môi trường cụ thể có thể tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệpkhi tham gia vào các hoạt động cụ thể ở đó Các doanh nghiệp có xu hướng thựchiện hiệu quả hơn nếu họ nhận được sự hỗ trợ về thể chế từ nhà nước (AllanMudanya, 2013)
Theo VCCI, môi trường kinh doanh được đánh giá dưới 10 yếu tố cấuthành: chi phí gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thờigian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, tính năng động, dịch vụ hỗtrợ doanh nghiệp, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý Hay GEM lại cho rằngbên cạnh các yếu tố cơ bản như: thể chế, cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô,giáo dục thì môi trường kinh doanh là một động thái trong đó có sự chi phốimạnh mẽ bởi bối cảnh kinh tế - xã hội và đặc trưng văn hoá của quốc gia.Môi trường kinh doanh có thể ảnh hưởng đến tác động lan tỏa theo nhiềucách Một trong những cách ảnh hưởng quan trọng nhất được nêu rất chi tiết trong
lý thuyết là thông qua cạnh tranh Theo đó, có sự tương quan thuận giữa cạnhtranh và sức mạnh của lan tỏa Abraham và cộng sự (2006) kết luận rằng tác độnglan tỏa chỉ tích cực trong những lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao Sự cạnh tranhđóng vai trò như chất xúc tác, qua đó giúp các doanh nghiệp trong nước nâng caohiệu suất Sự gia tăng số lượng của các đối thủ cạnh tranh sẽ thúc đẩy nâng caochất lượng để thu hút khách hàng hoặc tối thiểu hóa chi phí nhằm giảm giá thành,tăng thị phần Có nhiều công ty hoạt động trong cùng thị trường cũng làm tăngkhả năng doanh nghiệp thu được tác
Trang 21lượng cơ sở hạ tầng hay biến động tiền tệ Cụ thể, trong Báo cáo môi trường kinh
doanh 2020 của ngân hàng Thế giới www.doingbusiness.orgkhảo sát môi trườngkinh doanh của 189 nền kinh tế trên thế giới Trong đó New Zealand đứng đầu vềmôi trường kinh doanh thuận lợi, tiếp theo là Hong Kong, Trung Quốc,Singapore,…Việt Nam đứng vị trí thứ 70/190 quốc gia, là nước đứng đầu trongkhu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương trong việc thực hiện cải cách cho môitrường kinh doanh.Việt Nam cải thiện hệ thống thông tin tín dụng bằng một nghịđịnh thành lập một khuôn khổ pháp lý cho thành lập các tổ chức tín dụng tư nhân,tăng cường việc bảo hộ các nhà đầu tư trong các trường hợp giao dịch có liênquan đến các bên Tuy nhiên, khả năng bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam xếp hạngthấp nhất trong 10 lĩnh vực, đứng thứ 157 trong số 190 nước Trong lĩnh vực thuế,doanh nghiệp mất tới một phần ba thời gian làm việc trong năm để đi đóng thuế -
872 giờ đồng hồ, gấp 10 lần so với Singapore Đó là những hạn chế trong môitrường kinh doanh ở Việt Nam được báo cáo nêu rõ
Báo cáo chỉ số tự do kinh tế IEF của tổ chức Heritage Foundation chủ yếudựa vào những chính sách và môi trường vĩ mô để đánh giá mức độ can thiệp củachính phủ vào các hoạt động doanh nghiệp và là một chỉ số trung bình của 10 yếu
tố bao quát nhiều chủ điểm khác nhau của nền kinh tế như chính sách thương mại,chính sách tài khóa, tiền tệ, luồng vốn vào – ra, đầu tư
Trang 22và cả những số liệu khảo sát được cung cấp bởi các đối tác là các viện nghiên cứu
về kinh tế, các tổ chức kinh doanh tại địa phương và các công ty đa quốc gia lớntrên thế giới Báo cáo của WEF nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể về nhữngyếu tố đang tác động đến môi trường kinh doanh của mỗi nền kinh tế cũng nhưkhả năng của mỗi quốc gia đạt được sự bền vững trong tăng trưởng và phát triển
Báo cáo chỉ số môi trường kinh doanh BCI của Phòng Thương mại Châu
Âu tại Việt Nam (EuroCham), chỉ số này được hình thành dựa trên mức độ cảmnhận trực tiếp của gần 800 doanh nghiệp Châu Âu là hội viên của EuroChamđang hoạt động trên thị trường Việt Nam Báo cáo thông qua 4 quý trong 1 nămnhằm đánh giá liên tục mức độ cảm về MTKD của các doanh nghiệp, qua đó nắmbắt được các khó khăn trực tiếp mà các DN đang gặp phải, làm căn cứ cho các đềxuất đối với Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện MTKD
Robin Wood (2000) cho rằng MTKD là một tập hợp các yếu tố chính trị,kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic,Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political,Economic) Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớntới hoạt động của DN Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một sốtác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội, công nghệ,kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic,Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội, chính trị-luật pháp, kinh tế, điềukiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: Socio- cultural, Political-legal, Economic,Natural, Technological) Thậm chí, một số nghiên cứu tại Việt Nam còn thu hẹpkhái niệm MTKD hơn nữa khi cho rằng
Trang 23MTKD chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiếtcác hoạt động kinh doanh của DN (VCCI, 2008) Porter (2008) cũng cho rằngMTKD của một quốc gia là kết quả tích lũy của các chính sách nhà nước ở tất cảcác thang bậc hành chính khác nhau
1.2 Vai trò của nhà nước trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh
World Bank (2019), Vai trò của nhà nước trong phát triển doanh nghiệp
tư nhân Việt Nam, nghiên cứu cho rằng nhà nước có vai trò nòng cốt trong thị
trường cạnh tranh, với vai trò là một chủ thể với chức năng điều tiết, khắc phục sựthất bại của thị trường, tạo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, cánhân đồng thời tạo thuận lợi cho việc cung cấp những dịch vụ và cơ sở hạ tầngcông thiết yếu Thành công trong tương lai của Việt Nam trong việc chuyển đổinhanh chóng thành quốc gia có thu nhập cao sẽ phụ thuộc vào việc tạo thuận lợicho phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Vấn đề không phải là nhà nước hay thịtrường tốt hơn mà vấn đề là ở chỗ thiết kế sắp xếp thể chế như thế nào cho tốt nhất
để đảm bảo rằng nhà nước và thị trường bổ sung cho nhau nhằm đạt được các mụctiêu cốt lõi Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng năng lực nhà nước cần nângcao nhằm phục vụ tốt hơn sự phát triển của tất cả các thể chế kinh tế thị trường vàtạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các thị trường nhân tố Và do năng lực củanhà nước (nhân lực và tài lực) là có hạn, cần phải nổ lực hơn nữa để đảm bảo rằngnguồn lực được phân bổ cho các lĩnh vực và các vấn đề được ưu tiên cao nhất.Nghị quyết chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ 12 (2016) đã tái khẳng địnhrằng đổi mới mô hình tăng trưởng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường là hainhiệm vụ chủ chốt cho giai đoạn từ 2016 tới năm 2020 Đề cập đến vai trò tươngđối của nhà nước và thị trường, nghị quyết cho rằng: “Nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiềuthành phần kinh tế với khu vực tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế; thịtrường đóng vai trò lớn trong việc huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực chophát triển; nhà nước đóng vai trò trong định hướng, xây
Trang 24dựng và hoàn thiện các thể chế kinh tế tạo ra sự cạnh tranh công bằng, minh bạch
và lành mạnh.” Nghị quyết cũng ưu tiên hoàn thiện quy trình chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và “một nền kinh tế thị trườnghiện đại, đầy đủ và tích hợp với quyền sở hữu đa dạng – hoạt động đầy đủ và hiệuquả, theo quy luật kinh tế thị trường – cần phải được phát triển và hoàn thiện”.Nghị quyết nêu bật sự cần thiết cải cách thể chế nhằm tăng cường quản lý nhànước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần lưu ý rằng
“nhiều quy định trong hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, quản lý và quản trịkhông hoàn toàn tuân theo quy tắc của kinh tế thị trường, đặc biệt trong phân bổnguồn lực, quản lý giá hàng hoá và dịch vụ thiết yếu và đảm bảo cạnh tranh côngbằng”
Trong nghiên cứu của Bộ kế hoạch - đầu tư (MPI) và World Bank (WB)(2016) Báo cáo Việt Nam 2035 đã nêu lên những vai trò nhất định của “nhànước” trong mối tương quan với “thị trường” trong tương lai, đó là: một nhà nướcViệt Nam hiệu quả sẽ áp dụng những triết lý thị trường vào việc hoạch định cácchính sách kinh tế Mối quan hệ giữa nhà nước – thị trường sẽ được đặc trưng hóabởi sự phân chia rõ ràng giữa các khu vực công tư Các cơ quan chính quyền thamgia vào điều tiết kinh tế sẽ không tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở bất kỳhình thức nào Vai trò nhà nước trong nền kinh tế sẽ tập trung vào việc tạo sânchơi bình đẳng cho nền kinh tế với việc thực thi các quyền tài sản minh bạch hơn,
an toàn hơn và cạnh tranh công bằng hơn
Nghiên cứu chuyên đề của CIEM (2016) thông qua tìm hiểu kinh nghiệmquốc tế cho thấy nhà nước nên đóng vai trò với trọng tâm hẹp hơn, tập trung vàophát triển hạ tầng kinh tế và các thể chế cần thiết cho nền kinh tế thị trường Có 2
lí do chính để nhà nước đóng vai trò mang tính trọng tâm hơn Thứ nhất, nhànước có năng lực hạn chế (về thể chế, con người và tài chính) để can thiệp có hiệuquả Thứ hai, nhà nước đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thương mại có xuhướng kém hiệu quả hơn đầu tư tư nhân
Trang 25Trần Thị Hằng & Nguyễn Thị Minh Hiền (2019), Quản lý nhà nước trong
nền kinh tế số, nghiên cứu tiếp cận dưới góc nhìn quản lý nhà nước về kinh tế
trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà các phương thức hoạt độngkinh tế trên thế giới và Việt Nam đang có sự thay đổi mạnh mẽ Các đặc trưng củakinh tế thị trường như trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa cá nhân, tổ chức, doanhnghiệp bắt đầu dựa trên ứng dụng công nghệ số Điều này đặt ra một thách thứccho nhà nước, đòi hỏi nhà nước cũng phải đổi mới mô hình và cách thức áp dụngcông nghệ số trong quản lý kinh tế hiện nay
Đặng Xuân Hoan (2019), Đổi mới quản lý nhà nước trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trước sự phát triển của khoa
học và công nghệ, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quá trìnhtoàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ Để vượt lênthách thức, biến những cơ hội thành kết quả phát triển, hoạt động quản lý nhànước cần có những đổi mới để thích ứng Bài viết đánh giá thành tựu của quản lýnhà nước về kinh tế như: giải quyết tốt mối quan hệ nhà nước – xã hội – thịtrường trong các hoạt động quản lý nhà nước, tốc độ tăng trưởng GDP cao, hiệuquả sử dụng vốn đầu tư dần được cải thiện Bên cạnh đó, những hạn chế của quản
lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tagiai đoạn 2011 – 2019 cũng được đề câp như: quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịpyêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; hiệu lực, hiệu quảchưa cao; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm Qua những phân tích trên, nghiên cứucũng đề xuất một số định hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tương lai
World Bank (1997), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi- đánh
giá khía cạnh các doanh nghiệp tư nhân, Báo cáo của ngân hàng thế giới tập
trung bàn về các nội dung: nhà nước nên làm gì? nên làm thế nào và có thể làmthế nào để đạt kết quả tốt hơn trong một thế giới đang thay đổi nhanh
Trang 26chóng Nghiên cứu chia ra làm 4 phần: (1) Tư duy là về một nhà nước: tập trungthay đổi cách nhìn nhận về vai trò của nhà nước trong thời kì mới, nhấn mạnh vaitrò “điều hướng” nền kinh tế thay vì “chỉ đạo” như trước đây (2) Làm cho vai tròcủa nhà nước tương xứng với năng lực: chỉ ra những hạn chế của nhà nước trongquá trình phân bổ nguồn lực, nhấn mạnh vai trò “nuôi dưỡng thị trường” của nhànước bằng cách tự do hóa, điều tiết và đưa nhà nước đến gần người dân hơn (3)Làm sống lại năng lực thể chế: nhấn mạnh vai trò của thể chế trong việc quản lý nềnkinh tế của nhà nước và (4) nêu lên những thách thức mới cho nhà nước trong vậnhành nền kinh tế trong tương lai
Mishra, Deepak (2011), Báo cáo Phát triển Việt Nam 2012: Kinh tế Thị
trường khi Việt Nam trở thành Quốc gia có Thu nhập Trung bình, Washington,
D.C.: Ngân hàng Thế giới Nghiên cứu cho rằng, các nền kinh tế thị trườngnguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn có thể hoạt động mộtcách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước Tuy nhiên, vì nềnkinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệpcủa Nhà nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nềnkinh tế Trong các nền kinh tế thị trường đã phát triển, Nhà nước có 3 chức năngkinh tế rõ rệt là: can thiệp, quản lý và điều hoà phúc lợi Mặc dù còn có nhữnghạn chế nhất định, song sự điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt độngcủa nền kinh tế thị trường Theo đó, thị trường tự do với đúng nghĩa của nó khôngthể tồn tại, ngoại trừ trong các lý thuyết kinh tế Tuy nhiên, khi khẳng định sự cầnthiết phải có sự can thiệp của Nhà nước thì cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng từ cáiđược - cái mất của sự can thiệp ấy Cách giải quyết không phải là bỏ mặc thịtrường, mà phải là nâng cao hiệu quả của sự can thiệp đó Nhà nước có một vaitrò chính đáng và thường xuyên trong các nền kinh tế hiện đại Vai trò đó của Nhànước đặc biệt thể hiện rõ rệt ở việc xác định "các quy tắc trò chơi" để can thiệpvào những khu vực cần có sự lựa chọn, thể hiện nhưng khuyết tật của thị trường,
để đảm bảo tính chỉnh thể của nền kinh tế và để cung cấp những dịch vụ phúc lợi
Trang 27NCIF (2016) Vai trò của Nhà nước trong Đầu tư và Cung cấp Dịch vụ
công Nền tảng về Vai trò của Nhà nước trong Phát triển Nền kinh tế Việt Nam.
Tài liệu tập trung phân tích ở góc độ vai trò của nhà nước trong cung cấp dịch vụcông, trong đó nổi bật với việc: nhà nước cần thiết lập môi trường thể chế chocung cấp dịch vụ công dựa trên các nhu cầu khách quan của xã hội Nhà nướcđóng vai trò như nhà đầu tư và nhà cung cấp dịch vụ công trực tiếp chủ yếu thôngqua các đơn vị dịch vụ công (PSUs) Nghiên cứu của NCIF nhấn mạnh rằng tháchthức chính của nhà nước trong việc cải thiện mức độ và chất lượng cung cấp dịch
vụ công là đổi mới thể chế và cơ cấu thể chế Cơ chế và chính sách nhà nước cầnphải được xây dựng lại để phản ánh nhất quán bản chất “công” (mức độ cần thiết)của dịch vụ công với một định nghĩa rõ ràng về chức năng của Nhà nước trongmỗi giai đoạn của việc lập kế hoạch, cung cấp và giám sát dịch vụ công Hệ thốngphân bổ nguồn lực và loại hình hỗ trợ cho cung cấp dịch vụ công cần phải tậptrung vào kết quả (đầu ra) Vai trò của xã hội trong cung cấp dịch vụ công cầnphải được định nghĩa rõ ràng và được khuyến khích, chủ yếu tập trung vào vai tròtương ứng của chính phủ và xã hội trong đánh giá và theo dõi mức độ và chấtlượng dịch vụ công
1.3 Thực tiễn cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam thời gian qua
Hakkala và Kokko (2007) nhận thấy mặc dù những cải cách kinh tế trongthời gian qua ở Việt Nam đã dần tạo được môi trường kinh doanh công bằng hơn,những quy định và chính sách đang dần trở nên thân thiện và thuận lợi hơn chokhu vực tư nhân, nhưng những cản trở lớn nhất đối với các doanh nghiệp tư nhân(DNTN) vẫn nằm ở những ưu đãi đối khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN)trong khả năng tiếp cận thị trường, vốn, đất đai,… tạo hiệu ứng lấn át các DNTN.Qua đó, nhóm tác giả cho rằng, việc tạo lập được môi trường kinh doanh bìnhđẳng giữa các DNTN và DNNN là vô cùng quan trọng, tuy nhiên ngay cả khinhững biện pháp mạnh và triệt để được thực hiện thì các doanh nghiệp khu vực tưnhân, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng khó có thể cạnh tranh đượctrong những ngành thâm dụng vốn và kĩ năng
Trang 28công nghệ, vốn vẫn do các DNNN, doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm ưuthế Vì thế chính phủ cũng cần có những biện pháp khác để nâng cao được nănglực cạnh tranh của các DNTN Tenev và các đồng nghiệp (2003) cho rằng sự cạnhtranh không công bằng được coi là điều kiện khắc nghiệt nhất mà các DNTN phảitrải qua Có đến 42% doanh nghiệp ở khu vực này phàn nàn những ưu đãi dànhcho các DNNN là những cản trở chính cho quá trình sản xuất kinh doanh
Rand và Tarp (2007) đánh giá cao điều kiện thị trường lao động linh hoạt,
và coi là một trong những điểm mạnh của môi trường kinh doanh tại Việt Nam.Một trong những tiêu chí để đánh giá là những quy định liên quan đến việc tuyểndụng và sa thải nhân công Theo các tác giả, những quy định này được coi là đơngiản, không phức tạp, bởi tỷ lệ lao động tạm thời trên lao động dài hạn thấp (trungbình 7.2%), ám chỉ rằng những chi phí thuê mướn và sa thải lao động không quálớn, nên không khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động ngắn hạn.Trong khi đó, theo đánh giá của Báo cáo Môi trường kinh doanh của WB, chỉ tiêutuyển dụng và sa thải lao động của Việt Nam đứng ở vị trí rất khiêm tốn so vớicác nước, cũng như so với các chỉ tiêu khác của Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề laođộng nổi trội nhất trong các nghiên cứu chủ yếu liên quan đến khả năng tiếp cậnlao động có kỹ năng và trình độ Đây có lẽ là hạn chế lớn nhất của lao động ViệtNam Báo cáo của VNCI (2006) cho thấy lao động và nguồn nhân lực chất lượngcao hai năm liền là một trong ba khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp phải đốimặt Theo báo cáo chỉ số cạnh tranh toàn cầu GCI 2008-2009, trong cuộc khảo sát
ý kiến các chuyên gia, thiếu lao động có trình độ là một trong ba yếu kém nhấtcủa Việt Nam, và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh nghiệp
Theo Phan Đức Hiếu (2018) hạn chế nổi bật nhất trong việc cải thiện môitrường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay chính là vẫn loay hoay với bàitoán cải cách điều kiện kinh doanh Muốn cắt giảm giấy tờ phải là cấp bộ, cảicách thủ tục hành chính thì từ cấp địa phương Sự không tương thích giữa
Trang 29các bộ ngành là mấu chốt dẫn đến việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanhchưa được hiệu quả Nguyễn Đình Huệ (2018) cải thiện môi trường kinh doanhthông qua cắt giảm thủ tục đăng ký kinh doanh, giấy phép con trên tinh thần tựnguyện, chủ động trong mỗi bộ, ngành tuy nhiên tính tự giác chưa cao là mộttrong những nguyên nhân gây cản trở các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệpxuất nhập khẩu Bên cạnh đó, trong cải cách hành chính thì vấn đề một cửa cònmang tính hình thức, rất ít cơ quan hành chính chịu giảm giấy tờ và công đoạn xử
lý hồ sơ
Trần Thọ Đạt (2018) cho rằng các mô hình tăng trưởng tân cổ điển và tăngtrưởng nội sinh được cho là thất bại trong việc giải thích sự khác biệt về tăngtrưởng kinh tế giữa các quốc gia dựa trên tích lũy vốn hay tiến bộ công nghệ, vàkinh tế học thể chế ra đời rồi phát triển nhằm giải thích nguồn gốc của tăngtrưởng bằng cách đưa vào yếu tố thể chế để xem xét ảnh hưởng của chúng đếntăng trưởng kinh tế và chất lượng của môi trường kinh doanh Theo tác giả, thểchế kinh tế chậm đổi mới được xác định là một trong số các nguyên nhân hàngđầu dẫn đến tốc độ tăng trưởng của Việt Nam có xu hướng giảm so với các giaiđoạn trước đây và chúng ta đang thiếu những động lực quan trọng và đủ mạnh đểđưa nền kinh tế có thể vượt qua được vùng trũng tăng trưởng một cách bền vững.Việc nhận diện được các rào cản về thể chế kinh tế đối với sự phát triển môitrường kinh doanh của Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và các giải pháp
để nhanh chóng khắc phục những rào cản đó, tạo điều kiện cho nền kinh tế pháttriển nhanh, bền vững trong giai đoạn sắp tới là đòi hỏi cấp thiết hiện nay
Báo cáo “Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam c nhìn t
doanh nghiệp” (đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 02 năm 2020 và Nghị
quyết 35 năm 2016 của Chính phủ) được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (VCCI) xây dựng trong khuôn khổ Dự án T ng cường tiếng n i của doanh
nghiệp trong việc giám sát và thực hiện tái cơ cấu kinh tế (thuộc Chương trình
Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam
Trang 30Aus4Reform, do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia - DFAT tài trợ) Báocáo phản ánh, phân tích các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm thực thi Nghịquyết 02 và Nghị quyết 35 và tác động của chúng lên hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, cũng như môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.Nhìn chung, các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanhnghiệp vẫn được tiếp tục thực hiện, bất chấp bối cảnh dịch bệnh Covid- 19 và giai
đoạn này trùng với thời điểm chuyển giao nhiệm kỳ ĩnh vực thành lập doanh
nghiệp và tiếp cận điện n ng vẫn được đánh giá cao nhất (lần lượt là 72,5% và
65,9% doanh nghiệp đánh giá có sự chuyển biến tốt hoặc rất tốt), và xếp cuốicùng là lĩnh vực phá sản (44,4% doanh nghiệp đánh giá tốt hoặc rất tốt) Tuynhiên, tốc độ cải thiện dường như chậm lại so với các năm trước, và xu hướngthay đổi của các lĩnh vực tương đối trái ngược: các lĩnh vực có điểm số thấp (phásản, bảo vệ nhà đầu tư và xuất nhập khẩu) tăng điểm, trong khi các lĩnh vực cóđiểm cao (thành lập doanh nghiệp, tiếp cận điện năng) lại giảm điểm Đáng chú ý,cùng liên quan đến tài chính doanh nghiệp, trong khi tiếp cận tín dụng năm 2020được cảm nhận khó khăn hơn so với năm 2019, thì thủ tục thuế lại trở nên dễdàng hơn nhiều Xét theo địa phương, các chỉ số vẫn thể hiện tích cực hơn so vớinăm 2019, nhưng tốc độ cải thiện đã chậm lại
1.4 Các yêu cầu về môi trường kinh doanh trong hội nhập quốc tế
Theo USAID (2020), hội nhập quốc tế đặt ra nhiều yêu cầu mới đòi hỏi môitrường kinh doanh không chỉ là “trạng thái” mà là một “động thái” thay đổi liêntục để thích ứng trong tình hình mới Theo đó, trong hội nhập quốc tế, môi trườngkinh doanh cần đảm bảo các tiêu chí sao cho năng lực cạnh tranh của khu vực tưnhân nội địa được tăng cường, cần có những đổi mới sáng tạo nhằm giúp ViệtNam chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức và trở thành trung tâm công nghệ củakhu vực vào năm 2045 Cùng với đó, những cải thiện về MTKD không chỉ dừnglại ở các tiêu chí của sự phát triển nhất thời mà kết hợp với các lợi thế từ hội nhậpquốc tế hướng đến phát triển bền vững hơn trong tương lai
Trang 31Nguyễn Thanh (2019), khi xu hướng phát triển bền vững, sáng tạo đang nổilên với sức hấp dẫn, lôi cuốn và lan tỏa khắp thế giới và Cách mạng công nghiệplần thứ tư đang diễn ra; tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế cũng cần thay đổi.Ngày nay, chủ động cải thiện MTKD đã trở thành một hướng đi mới thiết thực màquốc gia nào cũng thấy cần thiết để đáp ứng nhu cầu và mục tiêu trước mắt, cũngnhư lâu dài Đích hướng đến cuối cùng là xây dựng một nền kinh tế độc lập, tựchủ, có cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và bảo đảm độ an toàn cần thiết, đó là nềnkinh tế phát triển bền vững và có năng lực cạnh tranh cao; cơ cấu xuất, nhập khẩucân đối; đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong một số ngành kinh tế, nhất là nhữngngành kinh tế quan trọng, chiếm một tỷ lệ không thể chi phối được nền kinh tế;hạn chế hoặc không cho phép đầu tư nước ngoài vào những ngành nhạy cảm Do
đó, trong hội nhập quốc tế, muốn làm chủ “cuộc chơi” bản thân các quốc gia phải
“chủ động” trong quá trình thiết lập môi trường đầu tư
Những tác giả có nghiên cứu về môi trường kinh doanh ở Việt Nam,chuyên sâu về môi trường kinh doanh như Nguyễn Đình Cung (2008) - về việcthực hiện luật đầu tư và luật doanh nghiệp từ góc độ cải cách thể chế; Tenev vàcác đồng nghiệp (2003) - về hoạt động không chính thức và sự bất bình đẳng trongmôi trường kinh doanh; Tuấn và các đồng nghiệp (2004) – về đánh giá tác động củachính sách đến hoạt động sản xuất kinh doanh của những doanh nghiệp vừa và nhỏ,Hansen và các đồng nghiêp (2006) – về định lượng những hỗ trợ trực tiếp của chínhphủ trong quá trình thành lập doanh nghiệp và tương tác với khu vực nhà nước ảnhhưởng thế nào đến hiệu quả sản xuất
Trang 32Tiểu kết chương 1
Các công trình nghiên cứu đi theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau với mụcđích là tìm ra các nhân tố tạo lập MTKD cũng như vai trò của MTKD trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Các nghiên cứu này đã cung cấp những luận
cứ khoa học đa dạng cho việc nghiên cứu về MTKD ở vùng ĐNB Các nhân tốMTKD được tìm thấy trong các nghiên cứu là rất đa dạng và có sự khác biệt về
số lượng cũng như chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố này (tích cực hoặctiêu cực)
Các nghiên cứu hiện nay phần lớn đều đưa ra các nhận định và đánh giáchung cho môi trường kinh doanh của toàn bộ Việt Nam mà chưa đi vào cụ thểnhững đặc điểm khác biệt và môi trường kinh doanh mang tính chất vùng miềntrong lãnh thổ Việt Nam Các nghiên cứu nước ngoài thường so sánh xếp hạngcác yếu tố về MTKD, vẫn còn khiêm tốn trong việc đi sâu hiểu nguyên nhân đểđưa ra các giải pháp Các nghiên cứu trong nước thì thường tiếp cận sâu nhưngchỉ là một hoặc một vài yếu tố của MTKD chưa tiếp cận một cách toàn diện Hơnnữa các nghiên cứu này thường tập trung nghiên cứu ở cấp độ quốc gia, ít nghiêncứu tập trung ở cấp độ tỉnh hoặc vùng PCI của VCCI có nghiên cứu từng tỉnh,nhưng lại cũng chỉ xếp hạng và so sánh và chỉ ra các tỉnh làm tốt, chưa tốt, chứkhông đi sâu vào các tỉnh hoặc vùng để tìm hiểu rõ nguyên nhân và giải pháp cảithiện MTKD cho mỗi vùng/tỉnh
Đây chính là khoảng trống tạo động lực thúc đẩy tác giả thực hiện nghiêncứu này với mong muốn góp phần nhỏ công sức của mình giải quyết vấn đề cảithiện MTKD ở vùng ĐNB trong thời gian tới
Trang 332.1.1 Khái niệm và đặc điểm môi trường kinh doanh
Theo cách hiểu rộng nhất, MTKD là tập hợp những điều kiện bên trong vàbên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất và kinhdoanh của các doanh nghiệp (DN) Đây cũng là quan điểm của Jauch và Glueck(1988), theo đó có những tầng mức MTKD khác nhau Tầng mức môi trường nộitại bao gồm một số yếu tố bên trong mà DN có thể kiểm soát được như vốn, laođộng, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng Tầng mức môitrường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả cácdoanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và baoquát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục,thương mại, công nghiệp,…), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đếnquốc gia) Đây là tầng mức môi trường mà DN không thể kiểm soát được mà chỉ
có thể phản hồi hoặc tương tác lại Các DN sẽ điều chỉnh những thành tố môitrường nội tại để nắm bắt được những cơ hội cũng như để đối mặt với nhữngthách thức từ môi trường bên ngoài
Robin Wood (2000) cho rằng MTKD là một tập hợp các yếu tố chính trị,kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic,Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political,Economic) Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớntới hoạt động của DN Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một sốtác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội, công nghệ,kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic,Environmental, Political) hoặc văn hóa-xã hội,
Trang 34chính trị-luật pháp, kinh tế, điều kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: cultural, Political-legal, Economic, Natural, Technological) Thậm chí, một sốnghiên cứu tại Việt Nam còn thu hẹp khái niệm MTKD hơn nữa khi cho rằngMTKD chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiếtcác hoạt động kinh doanh của DN (VCCI, 2008) Porter (2008) cũng cho rằngMTKD của một quốc gia là kết quả tích lũy của các chính sách nhà nước ở tất cảcác thang bậc hành chính khác nhau
Socio-Theo World Bank (2005), môi trường kinh doanh là tập hợp các yếu tố đặctrưng nhằm tạo ra các cơ hội và các khuyến khích để cho các doanh nghiệp tiếnhành các hoạt động đầu tư, mở rộng quy mô doanh nghiệp và tăng trưởng Cácthành tố của môi trường kinh doanh bao gồm: môi trường thể chế chính thức, thểchế phi chính thức (mạng lưới doanh nghiệp), môi trường cơ sở hạ tầng (cứng vàmềm) và môi trường ngành Do đó, theo WB, muốn hỗ trợ các doanh nghiệp pháttriển, cần quan tâm đến MTKD thông qua các yếu tố cấu thành nó
Theo Mai Ngọc Cường (1996), MTKD là tổng hợp nhiều yếu tố, điều kiện
mà doanh nghịêp sử dụng để tiến hành toàn bộ quá trình kinh doanh Đó là tổng
thể những điều kiện, những yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nhằmđảm bảo cho doanh nghiệp họat động có hiệu quả Môi trường bên trong bao gồmtoàn bộ những quan hệ kinh tế, tổ chức, kĩ thuật nhằm đảm bảo cho DN kết hợpmột cách hợp lý các yếu tố sản xuất đầu vào để tạo ra sản phẩm, theo nguyên tắcchi phí tối thiểu có sản phẩm tối đa Môi trường bên ngoài là tổng hợp các quan
hệ kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, khoa học kĩ thuật, tài nguyên; hình thànhmột cách khách quan, tác động đến hoạt động kinh doanh của DN Cách tiếp cậnnày có ưu điểm là giúp xác định rõ các yếu tố và điều kịên của MTKD Tuy nhiênhạn chế là không thấy được tính phức tạp và thường xuyên biến động của MTKD.Bởi các yếu tố này luôn có sự thay đổi, biến động và tác động qua lại lẫn nhau, từ
đó phát sinh nhu cầu điều chỉnh, hoàn thiện
Trang 35Theo Vũ Huy Từ (2008), MTKD là sự vận động tổng hợp, tương tác lẫnnhau giữa các yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp đến họat động kinh doanh của DN.Các yếu tố được hình thành theo 4 nhóm sau đây:
- Các loại thị trường: thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường bất động sản,thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ thông tin, thị trường tiền tệtheo nghĩa rộng (bao gồm thị trường vốn, thị trường chứng khoán, các yếu tố: tỷgiá, lãi suất, )
- Môi trường kinh tế chính trị xã hội thể hiện ở trình độ phát triển kinh tế,
xã hội, các yếu tố thuộc chủ trương đường lối, chính sách của nhà nước, nhữngđặc điểm về truyền thống, văn hóa, tâm lý xã hội
- Môi trường sinh thái: yếu tố này đặc bịêt quan trọng với các DN pháttriển nông nghiệp, công nghiệp chế biến
- Môi trường hành chính kinh tế bao gồm các yếu tố về mô hình tổ chức,họat động của bộ máy và cơ chế quản lý kinh tế xã hội của nhà nước
Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành MTKD của DN,chúng phát sinh vận động theo những quy luật khách quan Cách tiếp cận này chỉchú ý đến các yếu tố bên ngoài, làm giảm vai trò của DN trong MTKD, chưa nhậnthức đủ vai trò của DN trong việc thiết lập MTKD Trên thực tế, DN có vai trò rấtlớn trong vịêc tạo lập MTKD cho mình Điều này thấy rõ ở các quốc gia có nền kinh
tế năng động như EU, Mỹ, Anh, Pháp, cộng đồng DN có tiếng nói rất quan trọngtới các chính sách kinh tế của nhà nước, họ đã trực tiếp tác động đến MTKD và làmột bộ phận của môi trường đó
Mặc dù có nhiều định nghĩa khá đa dạng về MTKD, nhưng chủ điểm chínhcủa MTKD như các thủ tục hành chính và quản lý, hoạt động và chi phí khôngchính thức, các chính sách hỗ trợ/can thiệp của nhà nước, khả năng tiếp cận cácnguồn lực,… vẫn luôn là trung tâm của phần lớn những thảo luận và nghiên cứu
về MTKD của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Nhữngchủ điểm này đã bao chứa những tầng lớp môi trường chính có tác động đến hoạtđộng của các DN trong phạm vi một quốc gia, cũng như
Trang 36+ Các nhân tố cấu thành MTKD vừa tự vận động, lại vừa tác động qua lại vớinhau và tạo thành ngoại lực chính cho sự vận động biến đổi của MTKD.
+ Các nhân tố của MTKD rất đa dạng và phong phú Do đó, việc nghiêncứu nó đòi hỏi nhiều cách tiếp cận và nhiều phương pháp Với các quy mô nghiêncứu, địa bàn nghiên cứu, khía cạnh nghiên cứu khác nhau thì các yếu tố cấu thànhMTKD khác nhau
+ DN không chỉ thụ động chịu các tác động từ MTKD mà chính nó lại sảnsinh ra các tác nhân làm thay đổi MTKD
Từ việc luận giải trên có thể nhận thức rằng: MTKD là tổng hợp các yếu tố
bên trong, bên ngoài doanh nghiệp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình hoạt động kinh doanh.
Cách tiếp cận này cho thấy, MTKD bao gồm tổng thể các nhân tố mangtính khách quan và chủ quan, vận động và tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếphoặc gián tiếp đến họat động kinh doanh của DN Sự tác động này có thể tạo ranhững thuận lợi hoặc khó khăn cho họat động kinh doanh Khác với các tổ chứckhác, họat động của một DN không mang tính độc lập, mỗi một DN như là mộtkhâu, một mắc xích trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định, ranh giới giữa DNvới MTKD rất linh họat theo mô hình hệ thống mở MTKD luôn luôn thay đổi,cho nên các yếu tố, điều kiện tác động đến hoạt động kinh doanh của DN không
cố định một cách tĩnh tại mà thường xuyên vận động, biến đổi Bởi vậy để nângcao hiệu quả họat động của DN, các nhà quản trị phải nhận biết một cách nhạybén và dự báo đúng được sự thay đổi của
Trang 37MTKD, có biện pháp thích hợp để quản lý sự thay đổi đó nhằm tạo MTKD thuậnlợi cho các DN họat động có hiệu quả cao
2.1.2 Một số lý thuyết về môi trường kinh doanh
2.1.2.1 Mô hình nghiên cứu PCI của VCCI
VCCI nghiên cứu về môi trường kinh doanh thông qua chỉ số PCI Chỉ sốNăng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (Provincial Competitiveness Index) là chỉ sốđánh giá cảm nhận của các doanh nghiệp trên cả nước về chất lượng điều hànhkinh tế và môi trường kinh doanh tại từng địa phương Từ năm 2005 tới nay, báocáo chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được VCCI phối hợp với USAID tiếnhành điều tra, nghiên cứu và công bố thường niên tới rộng rãi cộng đồng doanhnghiệp, nhà đầu tư, cơ quan chính phủ, các tổ chức quốc tế và các cơ quan báo chítrong và ngoài nước Chỉ số PCI hiện được coi là công cụ đánh giá khách quan,hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách và giới doanh nhân tại Việt Nam.Nhiều địa phương trên cả nước ngày càng quan tâm hơn tới việc cải thiện nănglực cạnh tranh và sử dụng PCI như phương hướng cải thiện chất lượng điều hànhkinh tế cũng như thúc đẩy các cải cách về môi trường kinh doanh một cách lànhmạnh, hiệu quả
PCI được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 gồm 8 chỉ số thànhphần, mỗi chỉ số thành phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa cáctỉnh, thành phố của Việt Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố ở Việt Nam đượcxếp hạng và đánh giá Lần thứ hai vào năm 2006, hai lĩnh vực quan trọng củaMTKD bao gồm: thiết chế pháp lý và đào tạo lao động được đưa vào xây dựngchỉ số PCI
Từ năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa vàobảng xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường thêm
Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời sựphát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp lýViệt Nam Sau khi loại bỏ chỉ số “ưu đãi doanh nghiệp nhà nước”, hiện nay,
Trang 38Môi trường
Tính minh bạch
Đào tạo lao động Chi phí thời gian
Tính năng động Tiếp cận đất đai
Cạnh tranh bình đẳng Chi phí gia nhập thị trường
Nghiên cứu GEM cũng là một sáng kiến để cung cấp các chỉ số dự báo pháttriển kinh tế GEM đo lường sự nhận thức của các cá nhân đối với hoạt động kinhdoanh, nỗ lực của họ khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh và động lực của
họ khi tham gia vào các hoạt động này Những thông tin này được thu thập quaviệc khảo sát người trưởng thành sẽ được bổ sung bởi các đánh giá về môi trườngkinh doanh của các chuyên gia trong nước Nhờ việc sử dụng hai nguồn dữ liệuquan trọng trên, GEM giúp nghiên cứu tác động của thể chế đến các hoạt độngkinh doanh cũng như là mối quan hệ giữa sự phát triển kinh doanh và sự pháttriển kinh tế của quốc gia
Trên thực tế, trước khi GEM xuất hiện, chưa có một nghiên cứu hay sángkiến nào giúp so sánh sự phát triển kinh doanh giữa các quốc gia Mặc dù đã cómột số dự án cố gắng cung cấp các chỉ số giúp so sánh sự phát triển kinh doanhgiữa các quốc gia như cơ sở dữ liệu COMPENDIA của OECD, tuy nhiên nhữngchỉ số này hoặc là chỉ phản ánh sự phát triển kinh doanh thông qua 1 tiêu chí(trong khi các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng kinh doanh là tổng thể của rấtnhiếu yếu tố), hoặc chỉ so sánh dữ liệu chủ yếu giữa các quốc gia phát triển Sự rađời của GEM đã giúp cung cấp một cơ sở dữ liệu tổng
Trang 39hợp về tình hình phát triển kinh doanh tại mỗi quốc gia và có thể so sánh được vớicác nước trong khu vực cũng như trên thế giới Dù hiện nay cũng đã xuất hiệnmột vài nghiên cứu tương tự như GEM giúp cung cấp chỉ số so sánh mức độ pháttriển kinh doanh ở các nước, trong đó phải kể đến ba nghiên cứu nổi tiếng là:
Chương trình chỉ số kinh doanh (Entrepreneurship Indicators Programme - EIP)
của OECD/Kauffman, Dữ liệu khảo sát doanh nghiệp (Enterprise Data/Survey)
của World Bank và Khảo sát kinh doanh (Survey on entrepreneurship) của
Eurobarometer Theo cách tiếp cận của nghiên cứu GEM, môi trường kinh doanhhiểu một cách toàn diện và đầy đủ, là kết quả đồng thời của hai yếu tố: hoạt độngkinh doanh hiện tại và đặc điểm của doanh nhân Hai yếu tố này có mối quan hệtương hỗ lẫn nhau, do đó khi nghiên cứu môi trường kinh doanh cần phải xem xétđồng thời bản thân hoạt động kinh doanh và các cá nhân là chủ và là người quản lýhoạt động kinh doanh đó Đây cũng là phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu củaGEM thể hiện trong Hình 2.2
Hình 2.2 Mô hình tiếp cận nghiên cứu MTKD của GEM
Nguồn: Amoros và Bosma (2014)
Trang 40vi mô (thuế, lao động, cấp phép kinh doanh), thất bại thị trường, bảo đảm thực thihợp đồng và bộ máy hành chính.
Như vậy, nếu so sánh với chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh của VCCI
ở Việt Nam, các tiêu chí này gần như giống với các tiêu chí PCI Đây là cơ sở đểtác giả hình thành các nhóm nhân tố tạo thành môi trường kinh doanh trongnghiên cứu này
5 Mô hình chẩn đoán tăng trưởng HRV được viết tắt theo tên 3 nhà kinh tế học sáng lập ra, bao gồm Ricardo Hausmann, Dani Rodrik và Andres Velasco.