1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thực trạng và một số giải pháp nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nayQuản lý kinh tế

19 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 66,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là nền kinh tế thị trường mở mà Việt Nam đang hướng đến. Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Ngoài ra, nó còn có nhiệm vụ tác động vào nhiều hướng nhằm: tạo ra đầu tư, tạo ra tiết kiệm và tạo ra sự ổn định tiền tệ, ổn định giá, ổn định tỷ giá hối đoái. Như vậy, chính sách tiền tệ góp phần vào sự thành công hay thất bại của sự phát triển kinh tế.

Trang 1

VIỆN KINH TẾ

*****

BÀI THU HOẠCH

MÔN: QUẢN LÝ KINH TẾ

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH

TIỀN TỆ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Họ và tên học viên:

Mã số học viên:

Lớp:

Khóa học: 2021-2022

HÀ NỘI-2021

Trang 2

A MỞ ĐẦU……… 1

B NỘI DUNG……….……… 2

1 Khái niệm, đặc điểm, công cụ, cơ chế tác động của chính sách tiền tệ….…2 1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ……….……….2

1.2 Đặc điểm chính sách tiền tệ……… ………….2

1.3 Các công cụ và cơ chế tác động của chính sách tiền tệ……….3

2 Ưu điểm, nhược điểm của chính sách tiền tệ………6

2.1 Ưu điểm……… 6

2.2 Nhược điểm……… ……….……….7

3 Thực trạng vận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam……….7

4 Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ ứng phó với tình hình hiện nay….11 C KẾT LUẬN ……….………….…… 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là nền kinh tế thị trường mở mà Việt Nam đang hướng đến Chính sách tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Ngoài ra, nó còn có nhiệm vụ tác động vào nhiều hướng nhằm: tạo ra đầu tư, tạo ra tiết kiệm và tạo ra sự ổn định tiền tệ, ổn định giá, ổn định tỷ giá hối đoái Như vậy, chính sách tiền tệ góp phần vào sự thành công hay thất bại của sự phát triển kinh tế

Ở Việt Nam, Chính sách tiền tệ và công cụ của nó đang từng bước hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam, việc lựa chọn các công cụ nào và sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn

cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận thực tiễn cao

Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế - công bằng xã hội, vì

vậy học viên lựa chọn nội dung: “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay” làm chủ đề

bài thu hoạch môn Quản lý kinh tế của mình

Trang 4

NỘI DUNG

1 Khái niệm, đặc điểm, công cụ, cơ chế tác động của chính sách tiền tệ 1

1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là tập hợp các quyết định của ngân hàng trung ương

về mức cung ứng tiền tệ nhằm ổn định giá trị đồng nội tệ, tạo việc làm và kích thích tăng trưởng.

Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường, chủ thể của chính sách tiền tệ được giao cho ngân hàng trung ương đảm nhận, không phân cấp cho bất kỳ cơ quan nào khác

Mặc dù về tổng thể, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng đến mọi chủ thể trong nền kinh tế thông qua tác động của lạm phát, lãi suất, nhưng đối tượng chịu tác động trực tiếp và nhiều nhất của chính sách tiền tệ là các tổ chức tín dụng Trong trường hợp chính sách tiền tệ gây khó khăn cho hoạt động tìm kiếm lợi nhuận của các tổ chức tín dụng thì có thể nảy sinh những phản ứng trái chiều của các tổ chức này Để ngân hàng trung ương có thể độc lập trong hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ và tránh áp lực của các tổ chức tín dụng, Chính phủ thường quốc hữu hóa ngân hàng trung ương hoặc giữ quyền

bổ nhiệm các nhân vật chủ chốt trong bộ máy quản lý ngân hàng trung ương Mục tiêu của chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát, hỗ trợ chính sách tài khóa trong khắc phục các dao động của chu kỳ kinh doanh, ổn định thị trường tiền tệ, qua đó tác động vào lãi suất thị trường, khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư, việc làm và sản lượng

1.2 Đặc điểm chính sách tiền tệ

So với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, chính sách tiền tệ có một số

1 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị: Quản lý kinh tế, Nxb.Lý

luận chính trị

Trang 5

điểm đặc thù sau:

Thứ nhất, diện tác động của chính sách tiền tệ khá hẹp, thời gian tác

động ngắn hơn các chính sách kinh tế vĩ mô khác Thực tế cho thấy, chính sách tiền tệ chủ yếu tác động vào lượng tiền trong kênh lưu thông, qua đó tác động đến các biến số của thị trường hàng hóa và dịch vụ, vì thế nó chịu ảnh hường rất lớn từ phản ứng của các tổ chức tín dụng

Thứ hai, chính sách tiền tệ có bộ công cụ đa dạng, khá độc lập với nhau,

bổ trợ cho nhau Trong thực tiễn, mức độ phối hợp cùng chiều một cách linh hoạt các công cụ này quyết định kết quả của chính sách tiền tệ

Thứ ba, chính chính sách tiền tệ không chỉ ổn định thị trường tiền tệ

trong nước mà còn liên quan đến tương quan giữa đồng nội tệ và đồng ngoại

tệ thông qua việc điều tiết tỷ giá hối đoái

1.3 Các công cụ và cơ chế tác động của chính sách tiền tệ

Để thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương sử dụng một bộ công cụ đa dạng gồm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, chính sách lãi suất, tỷ giá, hạn mức tín dụng Có thể hình dung khái quát bộ công cụ và cơ chế tác động của chính sách tiền tệ như sau:

Sơ đồ: Cơ chế vận hành của chính sách tiền tệ

Bộ công cụ của chính

sách tiền tệ Đối tượng tác động

của bộ công cụ

Biến của thị

chính sách tiền tệ

1 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

2 Nghiệp vụ thị trường

mở

3 Lãi suất chiết khấu

4 Một số quy chế điều tiết

5 Tỷ giá

-> Lượng tiền cung ứng -> 1 Lãi suất thị

trường

2 Dự trữ cửa tổ chức tín dụng

3 Tỷ giá hối đoái

-> 1 Kiểm soát lạm phát

2 Kích thích tăng trưởng

Trang 6

1.3.1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm trong nguồn tiền mặt huy động

mà ngân hàng trung ương buộc các tổ chức tín dụng phải giữ ở tài khoản dự trữ của họ, số tiền dự trữ này phải hiện diện trong tài khoản tiền gửi của tổ

chức tín dụng mở tại ngân hàng trung ương Nếu dự trữ thực tế của tổ chức tín dụng thấp hơn dự trữ bắt buộc thì tổ chức tín dụng phải đi vay để bù đắp cho đủ

Xét về phía tổ chức tín dụng, dự trữ là điều kiện để họ đảm bảo tính thanh khoản Tùy theo tính toán cũng như quan điểm điều hành của giới quản trị từng tổ chức tín dụng, tỷ lệ dự trữ thực tế có thể cao hay thấp Tuy nhiên, luật các tổ chức tín dụng của nhiều nước quy định các tổ chức tín dụng không được dự trữ ở mức thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy định

1.3.2 Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động điều tiết lượng cung ứng tiền mặt của ngân hàng trung ương thông qua hoán đổi tiền mặt và chứng khoán trên thị trường giao dịch trái phiếu.

Chứng khoán có tính thanh khoản thấp hơn tiền mặt, do đó có khả năng tạo tiền tín dụng thấp hơn tiền mặt Ngân hàng trung ương đã sử dụng tính thanh khoản thấp của chứng khoán để hoán đổi chúng với tiền làm thay đổi lượng cung tiền trong lưu thông, phục vụ mục tiêu mong muốn của chính sách tiền tệ

Trong nghiệp vụ thị trường mở ngân hàng trung ương tham gia mua bán trái phiếu (chủ yếu là trái phiếu chính phủ và trái phiếu của ngân hàng trung ương) trên thị trường tài chính nhằm điều tiết lượng cung tiền, không nhằm mục tiêu kinh doanh Cơ chế tác động về cơ bản là: Nếu ngân hàng trung ương nhận định rằng nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái, cần mở rộng lượng cung tiền, qua đó giảm lãi suất, kích thích tăng trưởng, ngân hàng trung ương sẽ tiến hành mua trái phiếu Khi đó sẽ có một lượng tiền mặt được cung ứng thêm vào kênh lưu thông Ngược lại, khi ngân hàng trung ương

Trang 7

nhận định nền kinh tế đang có nguy cơ lạm phát bùng phát, ngân hàng trung ương sẽ bán trái phiếu thu tiền về kho dự trữ của mình, nhờ đó giảm tiền trong lưu thông, tăng lãi suất, hạ nhiệt tăng trưởng

1.3.3. Lãi suất chiết khấu

Lãi suất chiết khấu là lãỉ suất áp dụng cho khoản tín dụng tái cấp vốn của ngân hàng trung ương cho các tổ chức tín dụng.

Đi cùng với tăng, giảm quy mô lượng tiền mặt thông qua khoản vay tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu có tác động điều chỉnh giá của lượng tiền mà các

tổ chức tín dụng huy động được từ ngân hàng trung ương, thông qua đó tác động thu hẹp hay mở rộng lượng cung tiền tín dụng của các tổ chức tín dụng cũng như tác động đến lãi suất cho vay của họ

Cơ chế tác động chính của lãi suất chiết khấu là lãi suất thưởng (thấp hơn lãi suất thị trường) hoặc lãi suất phạt (cao hơn lãi suất thị trường) Khi khuyến khích ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng, ngân hàng trung ương

sẽ áp dụng lãi suất thưởng Khi hạn chế cung tiền tín dụng, ngân hàng trung ương áp dụng lãi suất phạt

1.3.4. Một số quy chế điều tiết

Khi lãi suất chiết khấu ít tác dụng, ngân hàng trung ương có thể sử dụng công cụ mạnh hơn là các quy chế kiểm soát lãi suất huy động và cho vay của tổ chức tín dụng Các quy chế kiểm soát lãi suất khá đa dạng như lãi suất trần, lãi suất sàn, lãi suất cơ bản, lãi suất cơ sở Nhìn chung, các quy chế này chỉ áp dụng trong tình trạng nguy cấp (lạm phát quá cao hoặc suy thoái nặng)

Ở các nước phát triển, lãi suất của trái phiếu chính phủ thường đóng vai trò lãi suất cơ sở điều tiết lãi suất thị trường Tuy nhiên, trong các hoàn cảnh cụ thể,

để đối phó với chu kỳ kinh doanh, các ngân hàng trung ương có thể trở lại chính sách lãi suất khung hoặc lãi suất cơ bản

Ngoài ra, trong tình huống biến động mạnh, ngân hàng trung ương có

thể sử dụng công cụ bổ sung là hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là tốc độ được phép tăng tín dụng quy định cho các nhóm tổ chức tín dụng khác nhau

Trang 8

(tính theo thời gian, thường là một năm) hoặc tỷ lệ phần trăm trong tổng vốn

dự án mà một tổ chức tín dụng được phép cho vay Hạn mức tín dụng thường

được sử dụng để hạn chế mức cung tiền nhằm bảo đảm an toàn vốn và giảm lượng cung tiền khi nền kinh tế gặp nguy cơ lạm phát cao

1.3.5.Chính sách tỷ giá hối đoái

Chính sách tỷ giá hối đoái là quan điểm và cách thức can thiệp của ngân hàng trung ương vào thị trường ngoại hối nhằm điều tiết giá trị đồng nội tệ phục vụ các mục tiêu mà ngân hàng trung ương theo đuổi.

Tỷ giá hối đoái được đo bằng tỷ lệ đổi 1 đồng nội tệ bằng một số ngoại

tệ hoặc một đồng ngoại tệ bằng một số nội tệ trên thị trường ngoại hối liên ngân hàng:

Số ngoại tệ Số nội tệ

e = -—— hoặc d

= -1 đơn vị nội tệ = -1 đơn vị ngoại tệ

Tỷ giá hối đoái tác động đến luồng ngoại tệ ra hoặc vào nền kinh tế quốc gia, qua đó tác động đến giá cả đồng nội tệ và ảnh hưởng đến cung, cầu, giá cả trên thị trường hàng hóa, dịch vụ Nếu e tăng lên tức đồng nội tệ tăng giá, người nhập khẩu và người giữ đồng nội tệ sẽ có lợi, do đó sẽ khuyến khích dòng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước và khuyến khích nhập khẩu Ngược lại, nếu e giảm xuống, đồng nội tệ mất giá, người giữ ngoại tệ và xuất khẩu sẽ có lợi nên khuyến khích dòng vốn ra và xuất khẩu Tùy thuộc vào mục tiêu theo đuổi của quốc gia trong từng thời kỳ, ngân hàng trung ương có thể điều tiết tỷ giá hối đoái thông qua dự trữ ngoại tệ

2 Ưu điểm, nhược điểm của chính sách tiền tệ

2.1 Ưu điểm

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chính sách tiền tệ có ưu điểm là tính linh hoạt, thích ứng cao với sự biến động của thị trường Chính vì thế,

chính sách tiền tệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát lạm phát,

ổn định giá trị đồng nội tệ Sự ổn định của thị trường tiền tệ không những tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kích thích tăng trưởng, tạo việc

Trang 9

làm, thu nhập, mà còn giảm thiểu các chi phí phát sinh về quản lý khác.

Chính sách tiền tệ được tổ chức và thực hiện một cách tập trung dựa trên thông tin thị trường và phán đoán của ngân hàng trung ương (ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước) nên khá nhạy bén và có tác động nhanh hơn chính sách tài khóa Do không bị phân tán bởi các trung tâm quyết định có lợi

ích khác nhau như chính sách tài khóa nên ngân hàng trung ương có thể ra quyết định khá nhanh và bắt nhịp với biến động thị trường nhạy bén hơn chính sách tài khóa, chính sách thương mại, chính sách đầu tư

Chính sách tiền tệ có nhỉều công cụ nhằm thực hiện một mục tiêu, nhất

là mục tiêu kiềm chế lạm phát So với chính sách tài khóa, tác động của chính

sách tiền tệ tới lạm phát nhanh hơn, hiệu quả cao hơn

2.2 Nhược điểm

Chính sách tiền tệ cũng có một số nhược điểm nhất định Nhược điểm lớn nhất của chính sách tiền tệ là không có đủ sức mạnh để điều tiết nền kinh

tế trong dài hạn Bởi vì các quyết định đầu tư và tiêu dùng của người sản xuất

và người tiêu dùng không chỉ phụ thuộc vào tình trạng lạm phát, mà còn phụ thuộc vào kỳ vọng thu nhập trong tương lai cũng như các rào cản ra, vào thị trường Khi còn tin rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng tốt, người sản xuất còn đầu tư, người tiêu dùng còn mở rộng tiêu dùng bất chấp chính sách tiền tệ của nhà nước Khi đó chính sách giảm cung tiền tín dụng rất khó thực hiện Khi mất niềm tin vào khả năng tăng trưởng của nền kinh tế thì việc mở rộng lượng cung tiền nhiều khi không đủ lực để kích cầu tiêu dùng và đầu tư, do đó các tổ chức tín dụng khó giải ngân

Chính sách tiền tệ cũng có độ trễ nhất định, nhất là đối với mục tiêu kích thích tiêu dùng, đầu tư do tác động của chính sách tiền tệ đến người sản xuất và tiêu dùng được truyền dẫn qua thị trường tài chính Nếu thị trường tài chính chưa phát triển hoặc gặp các cú sốc thì tác động truyền dẫn sẽ suy giảm Ngoài ra, chính sách tiền tệ chỉ có tác động tích cực khi ngân hàng trung ưong

dự báo đúng Tuy nhiên, hiện nay cơ sở dự báo để hoạch định chính sách tiền

tệ thường không đầy đủ, thông tin dự báo không kịp thời dẫn đến các chính

Trang 10

sách tiền tệ thường chậm hoặc không chính xác.

3 Thực trạng vận dụng chính sách tiền tệ ở Việt Nam

Đặc trưng của chính sách tiền tệ ở Việt Nam là đa mục tiêu Từ năm

2000 trở lại đây, Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần vận dụng chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát và kích thích tăng trưởng

Trong các năm 2001-2006, để đổi phó với tình trạng suy thoái kinh tế

do cuộc khủng hoảng 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, trong đó đã sử dụng hầu hết các công cụ của chính sách tiền tệ, nhất là chính sách lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở, phối hợp với chính sảch tài khóa mở rộng Nhờ sự phối hợp của chính sách tiền tệ nới lỏng với chính sách tài khóa mở rộng, Việt Nam đã nhanh chóng thoát khỏi ảnh hưởng của khủng hoảng, lấy lại đà tăng trưởng cao, lạm phát vừa phải

Để đối phó với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 2007-2008, Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần áp dụng thành công chính sách tiền tệ Cụ thể: Năm 2008, để đối phó với xu hướng lạm phát gia tăng (năm 2007 là 12,63%, năm 2008 là 19,89%), Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất, giảm hạn mức tín dụng, phát hành trái phiếu thu tiền

về dự trữ của Ngân hàng Nhà nước Nhờ đó tỷ lệ lạm phát năm 2009 hạ xuống mức 6,52% Chính sách kích cầu cuối năm 2009 và trong năm 2010 của Chính phủ làm cho lạm phát trong năm 2011 có xu hướng tăng, đạt mức 18,3% Năm 2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp chính sách tiền tệ thắt chặt với chính sách tài khóa thắt chặt để kéo tốc độ lạm phát năm xuống còn 6,81% Từ năm 2013, chính sách tiền tệ nới lỏng thận trọng (giảm lãi suất, mở rộng hạn mức tín dụng) đã góp phàn đưa nền kinh tế Việt Nam đi vào giai đoạn phục hồi và tăng trưởng Hai năm 2018-2019, lạm phát ở Việt Nam được duy trì ở mức thấp, dưới 4% đi đôi với tốc độ tăng trưởng được cải thiện, năm sau cao hơn năm trước

Trong chiến lược 10 năm 2021-2030, quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô

Ngày đăng: 24/09/2022, 13:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w