1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu chọn mẫu là việc lấy một số phần tử của một tổng thể để nghiên cứu và từ đó, rút ra được kết luận về chính tổng thể đó

21 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chọn mẫu: Chọn mẫu là việc lấy một số phần tử của một tổng thể để nghiên cứu và từ đó, rút ra được kết luận về chính tổng thể đó.. Mẫu Là một tập hợp nhỏ những phần tử lấy ra từ một tổng

Trang 1

1 Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu

1.1 Chọn mẫu:

Chọn mẫu là việc lấy một số phần tử của một tổng thể để nghiên cứu và từ đó, rút

ra được kết luận về chính tổng thể đó

Điều này có nghĩa khi nghiên cứu một tổng thể nào đó, ta không nghiên cứu toàn

bộ tổng thể mà chí nghiên cứu một bộ phận của tổng thể Và cách để người nghiên cứu tìm ra bộ phận đó chính là chọn mẫu

VD: Khi nấu canh, sau khi nêm nếm, ta sẽ thử một muỗng nhỏ để biết nồi canh đó

đã vừa miệng hay chưa

Chọn mẫu hay còn gọi là lấy mẫu là một công việc phải tiến hành một cách khoa

học và mẫu được chọn phải có đủ những tính chất điển hình của tổng thể Việc

lấy mẫu sai sẽ dẫn đến việc ta có những nhận định sai về tổng thể mà ta nghiên cứu, hậu quả sẽ hết sức nguy hại

VD: Nghiên cứu số lượng thịt trung bình người dân TPHCM tiêu thụ trong một tháng nhưng lại đi chọn mẫu là người ăn chay thì sai hoàn toàn.

1.2 Tổng thể

Tổng thể là tập hợp tất cả các đối tượng nghiên cứu mà nhà nghiên cứu cần nghiên cứu để thỏa mãn mục đích và phạm vi nghiên cứu của mình Chính vì vậy việc xác định số lượng và thu thập dữ liệu của tổng thể là một việc khó khả thi

Trang 2

Vd: Nhãn hàng Bobby muốn nghiên cứu chi tiêu trung bình của các hộ gia đình có con nhỏ dành cho tã bỉm hàng tháng trên địa bàn TPHCM Vậy tổng thể sẽ là tất cảcác gia đình có con nhỏ trên địa bàn TPHCM.

Vd: Nhà nghiên cứu xác định đối tượng nghiên cứu là người tiêu dùng tại TpHCM

có độ tuổi từ 18 đến 40 Vậy tổng thể là toàn bộ những người sinh sống tại Tp HCM trong độ tuổi từ 18-40

Các loại tổng thể:

Tổng thể bộc lộ là tổng thể mà trong đó bao gồm các đơn vị mà ta có thể

trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được (VD: Tổng thể các thương hiệu cà phê trên địa bàn TPHCM)

Tổng thể tiềm ẩn khi xác định tổng thể, nhà nghiên cứu có thể gặp trường

hợp các đơn vị tổng thể không thể trực tiếp quan sát hoặc nhận biết được Tổng thể tiềm ẩn thường gặp trong các nghiên cứu về các hiện tượng, hành

vi (VD: Tổng thể những người có thói quen đi ngủ trước 12g)

Tổng thể đồng chất là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau ở một hay

một số đặc điểm, chủ yếu có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu

 Ngược lại là tổng thể không đồng chất nếu các đơn vị trong tổng thể không

giống nhau về những đặc điểm chủ yếu liên quan đến mục đích nghiên cứu

(VD: nhà nghiên cứu muốn nghiên cứu hiệu quả truyền thông của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, vậy tổng thể các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ

Trang 3

ăn uống gọi là đồng chất còn tổng thể tất cả các doanh nghiệp là không đồngchất)

1.3 Mẫu

Là một tập hợp nhỏ những phần tử lấy ra từ một tổng thể lớn, người ta sẽ nghiên cứu những mẫu đó để tìm ta các đặc trưng của mẫu Các đặc trưng mẫu được sử dụng để suy rộng ra các đặc trưng chung của tổng thể do nó làm đại diện

VD: Nhà nghiên cứu chọn 100 liều vaccine trong lô vaccine Sinopharm để làm mẫu kiểm tra chất lượng của tất cả vaccine

VD: Khung chọn mẫu của lô giày thể thao ra mắt trong chiến dịch “Đi để trở về” của thương hiệu Biti’s Hunter: Thấm hút mồ hôi tốt; êm chân; hợp túi tiền của người tiêu dùng; đế giày bền;

2 Lợi ích và hạn chế việc chọn mẫu

Lợi ích

 Tiết kiệm được thời gian và chi phí so với tổng điểu tra

 Làm giảm sai số phi chọn mẫu (sai số do cân, đo, khai báo, ghi chép)

 Tiến hành nhanh gọn, bảo đảm tính kịp thời của số liệu thống kê

 Cho phép thu thập nhiều chỉ tiêu thống kê ,đặc biệt với các chỉ tiêu có nội dung phức tạp, không có điều kiện điều tra ở diện rộng

 Tổng thể nghiên cứu quá rộng, phân bố rải rác, và khó tiếp cận

 Việc kiểm tra hay khảo sát đôi khi làm hủy hoại hay thay đổi mẫu khảo sát,

do đó không thể thử nghiệm toàn bộ mà chỉ thử nghiệm một mẫu nhỏ

Trang 4

Ví dụ: Quá trình điều tra gắn liền với việc phá huỷ sản phẩm như điều tra đánh giá chất lượng đồ đóng hộp, đánh giá chất lượng đạn dược, y tá phải lấy máu của bệnh nhân xét nghiệm Trường hợp trên, nếu điều tra toàn bộ thì sau khi điều tra toàn bộ sản phẩm sản xuất ra hoặc lượng máu trong cơ thể bệnh nhân bị phá huỷ

Hạn chế

Tồn tại "Sai số chọn mẫu“

Bao gồm: Lập báo cao không chính xác, người phỏng vấn chỉ dẫn, hoặc giải thích các hướng dẫn sai; ghi chép không đầy đủ, Lý giải sai các vấn đề cho dùng từ ngữ mập mờ,…

Kết quả cuô nc nghiên cứu không thể tiến hành phân nhỏ theo mọi phạm vi và tiêu thức nghiên cứu như điều tra toàn bộ

Giải thích tấm hình:

Có 2 loại sai số khi nghiên cứu là: sai số lấy mẫu và sai số không lấy mẫu ( sai số ngoài sai số lấy mẫu ) Sai số lấy mẫu liên quan tới sự khác biệt giữa kết quả ta thu được trên mẫu so với trên tổng thể, là liên quan tới tính đại diện của mẫu Nghĩa là

ta chọn mẫu càng đại diện cho tổng thể thì sai số càng nhỏ , ta chọn mẫu càng ít đại diện cho tổng thể thì sai số càng lớn Sai số liên quan tới phương pháp và kinh nghiệm lấy mẫu Nhìn hình nè

Trang 5

Giải thích tấm hình : hình này minh họa 2 loại sai số là sai số lấy mẫu và sai số không lấy mẫu , thì khi ta tăng kích thước lấy mẫu dần lên thì ta thấy có xu hướng sai số lấy mẫu càng giảm , và khi ta lấy kích thước mẫu bằng với tổng thể điều tra thì sai số lấy mẫu lúc này bằng 0 Và nhìn hình thì sai số không lấy có xu hướng tăng thi ta tăng kích thước lấy mẫu Do đó nên lựa chọn kích thước mẫu phù hợp

Trang 6

Chọn mẫu xác suất Chọn mẫu phi xác suất

Ưu điểm  Tính đại diện cao Khái quát hóa cho tổng

thể

 Tính đại diện thấp

Nhược điểm  Tốn kém chi phí và thời

gian  Tiết kiệm thời gian và chi phí

Phạm vi áp dụng  Nghiên cứu mô tả

 Nghiên cứu định lượng

 Nghiên cứu thăm dò

 Nghiên cứu định tính

3.1 Phương pháp chọn mẫu theo xác xuất

Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản

Trong phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, các phần từ đều có xác suất tham gia vào mẫu biết trước và như nhau Để đảm bảo tính ngẫu nhiên, có thể quay

số, hoặc chọn ngẫu nhiên bằng phần mềm máy tính

– Để chọn một mẫu ngẫu nhiên đơn bạn cần:

B1: Lập danh sách toàn bộ những đơn vị trong quần thể từ đó bạn muốn rút ra mộtmẫu

B2: Đánh số thứ tự các cá thể

Trang 7

Vd: Kiểm tra chất lượng sản phẩm trong dây chuyền sản xuất hàng loạt.

Ưu điểm: đơn giản, dễ thực hiện, tính đại diện cao; Có thể lồng vào các kĩ thuật chọn mẫu khác

Nhược điểm: Cần phải có khung mẫu; Các cá thể được chọn vào mẫu có thể phân

bố tản mạn trong quần thể, do vậy việc thu thập số liệu tốn kém và mất thời gian

Chọn mẫu theo phương pháp hệ thống

Là chọn mẫu mà mỗi đơn vị mẫu được chọn căn cứ vào từng khoảng cách nhất định từ danh sách đã được sắp xếp sẵn của tổng thể chung

B1: Chuẩn bị danh sách đơn vị lấy mẫu

B2: Tính bước nhảy (khoảng cách) k dựa vào N và n (k= N/n)

B3: Chọn ngẫu nhiên mẫu đầu tiên

B4: Lần lượt lấy các mẫu tiếp theo dựa vào bước nhảy

Trang 8

Vd: Nhà nghiên cứu cần chọn 2000 hộ gia đình tại TpHCM để nghiên cứu về chi tiêu của hộ

Có danh sách theo thứ tự vần của tên chủ hộ, bao gồm 240.000 hộ

Vậy khoảng cách chọn là :

k= 240000/2000 = 120, có nghĩa là cứ cách 120 hộ thì ta chọn một hộ vào mẫu

Ưu điểm: giúp khắc phục được khả năng phân bố không đều ở phương pháp ngẫu nhiên đơn giản

Nhược điểm: nếu khung mẫu được xếp theo chu kỳ và tần số của nó thì mẫu sẽ bị lệch

Chọn mẫu theo phương pháp phân tầng

Là phân chia tổng thể thành các nhóm theo một tiêu thức hay nhiều tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu ( nói đơn giản hơn là chia các cá thể của quần thể thành các nhóm riêng lẽ )

Trong từng nhóm , dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản hay chọn mẫu hệ thống để chọn ra các đơn vị của mẫu

Tỷ lệ mẫu lấy trong từng tổ bằng với tỉ lệ của tổ đó trong tổng thể

Tầng có thể chia theo : khu vực địa lý Bắc Trung Nam, giới tính, tuổi, nghề

nghiệp.,,

Trang 9

Vd: để khảo sát nguy cơ gây bệnh Tiểu đường tại Việt Nam, nhà nghiên cứu có thể phân chia tầng theo người thành thị và người nông thôn

Phương pháp này có tính phân bố cao trong thị trường nghiên cứu, hiệu quả thống

kê cao do các phần tử trong cùng nhóm có tính đồng nhất, ít tốn kém

Chọn mẫu theo phương pháp chọn theo nhóm

Nhà nghiên cứu chia đám đông thành nhiều nhóm Nhưng các phần tử trong cùng nhóm có tính dị biệt cao và khác nhóm thì đồng nhất cao Nghĩa là cùng nhóm dị biệt khác nhóm đồng nhất Sau đó dùng phương pháp hệ thống hoặc ngẫu nhiên đơn giản để chọn ngẫu nhiên một số nhóm

Vd: Chọn mẫu nhóm trong xác định tỉ lệ bao phủ tiêm chủng trẻ dưới 5 tuổi của tỉnh Quảng Bình

Chọn mẫu theo nhóm một bước: tất cả phần tử trong các nhóm sẽ tạo thành phần tửcủa mẫu, kích thước mẫu là tổng phần tử các nhóm đã chọn

Chọn mẫu theo nhóm hai bước: sau khi chọn nhóm chúng ta lại tiến hành chọn phần tử tham gia vào mẫu

Tương tự ta có chọn mẫu theo nhóm 3 bước, 4 bước,

Vd: Chọn 7 vùng sinh thái ở Việt Nam, chọn 1 tỉnh ở mỗi vùng sinh thái, chọn 1 huyện ở 1 tỉnh , chọn 1 xã ở 1 huyện, chọn 1 thôn ở một xã, chọn 200 hộ gia đình

ở mỗi thôn theo cỡ mẫu

Ưu điểm: Chi phí thấp, xác định được đặc điểm của cả cụm và quần thể

Nhược điểm: Sai số lớn hơn so với các phương pháp ngẫu nhiên khác

Trang 10

4.2 Các phương pháp chọn mẫu phi xác suất

Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện

Trong phương pháp chọn mẫu thuận tiện, nhà nghiên cứu có thể chọn những phần

tử nào mà họ tiếp cận được

Vd: Chọn mẫu có kích thước n= 200 từ thị trường TPHCM, cả nam và nữ có độ tuổi từ 18 đến 40, tầng lớp có thụ nhập trung bình Trong phương pháp thuận tiện, bất kỳ người nào đồng ý tham gia khảo sát đều nhận vào mẫu

Chọn mẫu theo phương pháp phán đoán

Cách lấy mẫu tùy theo phán đoán phụ thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm của nhà nghiên cứu Chỉ áp dụng khi các đặc tính của phần tử được chọn khá rõ ràng.Vd: một phần tử nào đó thuộc thị trường nghiên cứu (thị trường TPHCM, cả nam

và nữ có độ tuổi từ 18 đến 40, thu nhập trung bình) Nếu phần tử đó được nhà nghiên cứu đoán rằng có thể đại diện cho đám đông thì sẽ được mời tham gia vào mẫu

Vd: Nhân viên phỏng vấn được yêu cầu đến các trung tâm thương mại chọn các phụ nữ ăn mặc sang trọng để phỏng vấn Như vậy phỏng vấn viên không có tiêu chuẩn cụ thể “thế nào là sang trọng” mà hoàn toàn dựa vào phán đoán để chọn ra người cần phỏng vấn

Chọn mẫu theo phương pháp phát triển mầm ( tích lũy nhanh )

Trang 11

Chọn ngẫu nhiên một số phần tử cho mẫu, sau đó thông qua các phần tử ban đầu hỏi ý kiển những người này để họ giới thiệu những phần tử khác cho mẫu.

Vd: nghiên cứu thị trường dụng cụ chơi golf tại TP.HCM, nhà nghiên cứu chọn một số người biết chơi golf (chọn mầm) và thông qua những người này tìm những người chơi golf khác (phát triển mầm) tham gia vào mẫu

Áp dụng cho nghiên cứu đặc biệt, mẫu khó tìm hoặc khó tiếp xác định

Chọn mẫu theo phương pháp định mức ( theo lớp )

Dựa vào các đặc tính kiểm soát xác định trong đám đông để chọn số phần cho mẫu sao cho chúng có cùng tỉ lệ của đám đông theo các thuộc tính kiểm soát này

Vd: Cần phỏng vấn 800 người có tuổi trên 18 tại 1 thành phố Phân tổ theo giới tính và tuổi như sau: chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 18 đến 40, chọn 400 người (200 nam và 200 nữ) có tuổi từ 40 trở lên

Xin chào tất cả mọi người , mình là Ni Na và mình sẽ cùng các bạn đi vào tìm hiểu mục

4 Quy trình chọn mẫu

Thì như đã nói ở trên Chọn mẫu là quá trình chọn lựa một bộ phận tương đối nhỏ

từ một tổng thể , mang tính cách đại diện cho tổng thể nghiên cứu bao gồm 5 bước:

- Bước 1 : Xác định tổng thể nghiên cứu ( N )

- Bước 2 : Xác định khung chọn mẫu

- Bước 3 : Xác định kích thước mẫu ( n )

- Bước 4 : Lựa chọn phương pháp lấy mẫu : xác suất hoặc phi xác suất

Trang 12

- Bước 5 : Viết ra các chỉ dẫn để nhận ra và chọn các phần tử của mẫu

Xác định tổng thể nghiên cứu là khâu đầu tiên trong quá trình chọn mẫu

số cửa hàng của một khu vực, số sinh viên đại học của một trường.)

Vd: Ta cần nghiên cứu về thu nhập của những người làm việc trong ngành giáo dục Vậy tất cả những người làm việc trong ngành giáo dục được coi là tổng thể.Hay là Phân tích các yếu tố tác động đến việc lựa chọn ( mua) sản phẩm bột giặt OMO của khách hàng trên thị trường TP.HCM.

Sau khi xác định tổng thể nghiên cứu thì công việc tiếp theo là xác định khung mẫu

4.2 Xác định khung chọn mẫu

Các khung chọn mẫu có sẵn thường thấy là: Thông tin khách hàng có sẵn số điệnthoại, địa chỉ, độ tuổi, địa chỉ nhà,…có được từ các câu lạc bộ, ngân hàng, sự kiện ,hoạt động mà khách hàng từng tham gia

Trang 13

Vd: Ta muốn chọn một mẫu gồm 100 hộ gia đình có thu nhập từ 20 triệu VNĐtrong phường Linh Xuân, ta phải xin UBND phường cung cấp danh sách các hộtrong địa bàn phường, danh sách đó chính là khung chọn mẫu.

Tuy nhiên, khi một thị trường mà ở đó, dữ liệu thứ cấp về dân số chưa hoàn chỉnhnhư tại Việt Nam thì việc xác định khung mẫu rất khó khăn và tốn kém

Trong thực tế, khung chọn mẫu không phải lúc nào cũng có sẵn

Vd: Nghiên cứu những người quan tâm đến giày trượt tuyết , khung đối tượng nàykhông có sẵn do đó người ta phải xác định khuôn khổ chung, sau đó sàng lọc dầncăn cứ vào (giới tính, tuổi tác, kích cỡ chân, màu sắc, ) rồi dần lọc ra được chínhxác các đối tượng cần nghiên cứu Công việc này tốn kém rất nhiều thời gian vàchi phí

4.3 Xác định kích thước mẫu ( n )

Là xác định số lượng đơn vị điều tra trong tổng thể mẫu để tiến hành thu thập sốliệu

Việc xác định qui mô mẫu theo lý thuyết là vô cùng phức tạp Trên thực tế

nhà nghiên cứu áp dụng nhiều cách xác định mang tính khả thi hơn như xác định

cỡ mẫu theo kinh nghiệm điều tra thực tế.

Việc xác định cỡ mẫu phụ thuộc vào:

Trang 14

 Mục tiêu nghiên cứu

 Yêu cầu của dữ liệu phân tích

 Hạn chế về thời gian

 Hạn chế về chi phí

 Cỡ mẫu tương quan với mẫu lớn của tổng thể

 Cỡ mẫu khi chọn mẫu phi xác suất

Z - Chi phí cần thiết cho tất cả các khâu điều tra tính cho một đơn vị điều tra

Các bước xác định cỡ mẫu khi ước lượng tham số trên tổng thể:

Bước 1 :Xác định sai số cho phép hay còn gọi là dung sai E

Xác định sai số e cho phép:

Trang 15

 Phụ thuộc vào độ nhạy của kết quả, quyết định đối với biến ước lượng đangkhảo sát

 Thường từ: 10 - 20% của đơn vị đo nhỏ nhất

Vd: Điều tra mức tiêu thụ trung bình về bia, ta muốn rằng ước lượng về mức tiêuthụ trung bình về bia của mẫu nằm trong khỏang trên dưới 5% hay 0,05 so với trị

số trung bình thật của tổng thể nghiên cứu, khi đó: E = ± 0,05

Vd: KFC định mở một cửa hàng tại một vùng dân cư mới Quyết định có mở haykhông phụ thuộc vào thu nhập trung bình của người dân sống trong khu vực đó.Giả sử nếu thu nhập trung bình từ 10triệu/tháng trở lên thì mở Vấn đề đặt ra là xácđịnh thu nhập trung bình của người dân với một sai số cho cho phép cho trước (vd:

1 triệu VNĐ )

Bước 2: Xác định độ tin cậy và giá trị Z

 Mức tin cậy thường được chọn là 99%, 95% và 90%

 Trong thực tế thường chọn 95% z = 1.96

Trang 16

Bước 3: Ước tính độ lệch chuẩn

TH1: Biến liên tục ( Ước tính độ lệch chuẩn )

Sử dụng công thức theo quy tắc 3σ xichma

Trang 17

Bước 4: Sử dụng công thức thống kê

Vd: Mấy cái form khảo sát mà các bạn hay điền trên facebook thì phần trả lời cóhoàn toàn không đồng ý cho tới hoàn toàn đồng ý thì đó là thang đo dạng liên tụchay là biến liên tục

Vd: iến giới tính thì không trả lời theo dạng hoàn toàn đồng ý hay không đồng ýB

được mà phải là hoặc nam hoặc nữ , thì đó là biến tỷ lệ

Trường hợp giá trị tham số của tổng thể là một số tuyệt đối ( biến liên tục )

Vd: Hãy xác định số hộ (cỡ mẫu) để điều tra thu nhập 1 năm của hộ nông dân trênđịa bàn tỉnh “Y” có 200.000 hộ gia đình (N = 200.000), với xác xuất tin cậy là0,9875 (tức là Z = 2,5), phạm vi sai số chọn mẫu (ε) không vượt quá 2,52 triệuđồng/năm trong điều kiện có phương sai về thu nhập của hộ: S^2=61,52

= 60,55

Ngày đăng: 12/08/2022, 19:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w