Thiết kế đồ dùng thiết bị dạy học đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin học tập, tạo nhiều khả năng để giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc và thuận lợi trong tất cả
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà giáo dục học Đức Adolph Diesterweg (Đi-xtec-vec) đã khẳng
định: “Người giáo viên bình thường mang chân lý đến cho trò, người giáo viên giỏi biết dạy học trò cách đi tìm chân lý” Câu nói đó còn nguyên giá trị
trong bất cứ cấp học nào Điều đó cũng có nghĩa là để tổ chức và thiết kế giờ học hiệu quả bản thân trình độ chuyên môn là chưa đủ, mà quan trọng hơn là cách thức người giáo viên truyền đạt, hướng dẫn cho học sinh tiếp thu tri thức Hay nói cách khác là phương pháp người giáo viên sử dụng trong dạy học ra sao để có thể phát huy được hết tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học giúp các em có thể nắm được những kiến thức cơ bản ngay tại lớp đồng
thời có thể nâng cao hứng thú, sự say mê tìm tòi nghiên cứu của học sinh
Nghị quyết Trung Ương II khoá III của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ
rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất
là sinh viên đại học ” Tiểu học là bậc học có ý nghĩa nền móng quan trọng,
việc đổi mới giáo dục tiểu học đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông
và hệ thống giáo dục quốc dân Xuất phát từ các lí do:
- Nâng cao chất lượng giáo dục thì việc đổi mới phương pháp dạy học
là biện pháp then chốt Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đặt ra yêu cầu phải đổi mới thiết bị, đồ dùng dạy học
- Thiết bị và đồ dùng day học là những công cụ lao động của giáo viên
và học sinh, là nguồn phương tiện cung cấp kiến thức cho học sinh Thiết kế
đồ dùng thiết bị dạy học đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin học tập, tạo nhiều khả năng để giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc và thuận lợi trong tất cả các môn học Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm nhận thức học sinh tiểu học: Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn Giáo viên sử dụng các thiết bị và đồ dùng dạy học
Trang 2trong quá trình giảng dạy là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, xây dựng cho học sinh biết quan sát một cách có tổ chức có kế hoạch, biết tư duy một cách độc lập linh hoạt, biết tưởng tượng một cách đúng hướng và phong phú
- Mục tiêu của giáo dục là phát triển toàn diện cho học sinh các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết, vì vậy thiết bị, đồ dùng học tập là phương tiện hỗ trợ tích cực giúp giáo viên phát triển đầy đủ ở các em các kỹ năng đó
Từ việc nhận thức, tìm hiểu về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, với mong muốn nâng cao chất lượng giờ học, tiếp cận học sinh theo hướng tiếp
cận năng lực, tôi lựa chọn thực hiện khóa luận: “Thiết kế một số đồ dùng và
sử dụng thiết bị dạy học trong môn Tiếng Việt lớp 2- 3 ở trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Phú Thọ”
2.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp người giáo viên hiểu được các đặc điểm,
cấu tạo, cách thức sử dụng và thiết bị, đồ dùng dạy học
- Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho người giáo viên có thể sử dụng các thiết bị, đồ dùng dạy học để từ đó ứng dụng vào giảng dạy
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Thiết kế các thiết bị, đồ dùng ứng dụng vào các giờ học sẽ tạo ra động
cơ học tập tốt hơn, giúp học sinh tập trung chú ý cao và việc nắm kiến thức mới trở nên dễ dàng sâu sắc hơn
- Chính các đồ dùng, thiết bị dạy học được thiết kế giúp giáo viên cũng như các em học sinh thực hiện các thí nghiệm và rèn luyện các kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
- Thiết kế đồ dùng, thiết bị dạy học đã bổ sung cho nguồn thiết bị dạy học cung cấp đã được sản xuất hàng loạt, phục vụ kịp thời nhu cầu dạy và học hiện nay
Trang 33 Mục tiêu của khóa luận
- Nghiên cứu thiết kế một số đồ dùng dạy học và sử dụng thiết bị dạy học sao cho phù hợp với từng phân môn, từng bài học trong môn Tiếng Việt lớp 2-3
- Nắm được cách thức sử dụng chúng nhằm bổ sung thêm và làm phong phú hệ thống đồ dùng, thiết bị dạy học hiện nay
- Nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh Qua đó nâng cao chất
lượng dạy học môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tìm ra các đặc điểm, cách phân loại, nguyên tắc sử dụng
và thực trạng của vấn đề thiết bị, đồ dùng dạy học hiện nay
- Thiết kế các thiết bị đồ dùng và sử dụng hợp lý các thiết bị dạy học cho môn Tiếng Việt lớp 2 – 3 ở trường Tiểu học
- Chỉ ra được cách thức sử dụng hợp lý và hiệu quả các đồ dùng dạy học đã được thiết kế ra và ứng dụng các thiết bị một cách sáng tạo trong giờ dạy
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thiết bị và đồ dùng dạy học cho môn Tiếng Việt ở một số trường Tiểu học
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Vì thời gian và điều kiện có hạn nên khóa luận chỉ nghiên cứu thiết kế một
số đồ dùng và sử dụng thiết bị dạy học trong môn Tiếng Việt lớp 2 – 3 ở một
số hoạt động: Kể chuyện, luyện từ và câu, tập đọc, tập viết, chính tả ở một số
trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Phú Thọ đó là trường Tiểu học Hùng
Vương – Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ, đông thời cũng kiểm chứng hiệu quả của các đồ dùng thiết kế ra được ở 2 trường là: Trường Tiểu học Văn Lung và Trường Tiểu học Thanh Minh – Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ
Trang 46 Các phương pháp được sử dụng
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa nguồn tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho khóa luận
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra nhằm khảo sát số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập các số liệu, hiện tượng để từ đó phát hiện các vấn đề giải quyết, xác định tính phổ biến, nguyên nhân chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo
Thực hiện dự giờ, điều tra, phỏng vấn, trao đổi với các giáo viên giỏi, có kinh nghiệm dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học về thiết kế đồ dùng, thiết bị dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh
Phương pháp điều tra được thực hiện ở chương 1 của khóa luận
6.2.2 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Đó là phương pháp thu thập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia sẽ giúp cho người nghiên cứu có được những đánh giá cụ thể về công trình nghiên cứu của mình
Thực hiện phương pháp lấy ý kiến chuyên gia bằng cách xin ý kiến giảng viên hướng dẫn, các giảng viên giảng dạy môn Văn ở trường đại học Hùng Vương và một số giáo viên dạy giỏi môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Phương pháp này được thực hiện trong quá trình nghiên cứu và ở giai đoạn cuối cùng khi đã hoàn thiện
6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi
số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục
do người nghiên cứu tác động đến
Trang 5Thiết kế thiết bị, đồ dùng dạy học nhằm kiểm nghiệm tính khả thi để hoàn thiện đề tài của mình
Phương pháp này được thực hiện ở chương 2 và chương 3 của khóa luận
6.2.4 Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát (dự giờ, thăm lớp) nhằm tri giác trực tiếp đối tượng thực nghiệm một cách có hệ thống để thu được những thông tin đầy
đủ về đối tượng thực nghiệm và đối chứng
- Phương pháp quan sát cho phép ta thu thập được tài liệu một cách cụ thể, khách quan về điều kiện tự nhiên của con người do đó có nhiều ưu điểm.Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế như: mất thời gian, tốn công sức
6.2.5 Phương pháp trao đổi, trò chuyện
Sử dụng phương pháp này nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra Qua trao đổi trò chuyện với học sinh, giáo viên và phụ huynh học simh để tìm hiểu thêm về những vấn đề liên quan tới điều tra tâm tư, tình cảm học sinh
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm thiết bị và đồ dùng dạy học
1.1.1.1 Khái niệm thiết bị dạy học
Quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó diễn
ra quá trình tái sản xuất những kinh nghiệm xã hội Cũng như bất kì một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học cũng phải sử dụng những phương tiện lao động nhất định Phương tiện lao động sư phạm rất đa dạng, gồm những phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ Ở đây chúng
ta chỉ nghiên cứu phương tiện dạy học vật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy học và được nói gọn là phương tiện dạy học (thiết bị dạy học), tuy nhiên khi đề cập đến các thiết bị dạy học và cách sử dụng chúng thì phần nào nói đến các thiết bị thực hành Từ cách hiểu về các thiết bị dạy học như vậy, có thể đi tới khái niệm như sau: “Thiết bị dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện
tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học.”
PGS.TSKH Trần Doãn Quế cũng đưa ra khái niệm khá cụ thể về thiết bị dạy học như sau: “Thiết bị dạy học còn gọi là phương tiện dạy học, đồ dùng dạy học, tất cả những phương tiện vật chất cần thiết giúp giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lí có hiệu quả quá trình giáo dục, giáo dưỡng ở các cấp học, các môn học, các lĩnh vực để thực hiện được yêu cầu của chương trình giảng dạy Ngoài ra thiết bị dạy học còn là nguồn tri thức, là phương tiện chứa đựng và truyền tải thông tin, là phương tiện làm tăng giá trị lượng tin tức giúp cho quá trình trao đổi thông tin nhanh, nhiều và hiệu quả hơn.”
Trên đây đều là những khái niệm tương đối đầy đủ về thiết bị dạy học, tuy nhiên ta có thể hiểu hiết bị dạy học một cách đơn giản như sau: “Thiết bị dạy học là một vật thể hoặc tập hợp những đối tượng vật chất mà người giáo viên
sử dụng với tư cách là công cụ lao động, là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, đối với học sinh thì đây là nguồn tri thức, là các
Trang 7phương tiện giúp cho việc lĩnh hội các khái niệm, định luật, thuyết khoa học, hình thành ở học sinh những kỹ năng, kỹ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ các mục đích dạy học và giáo dục.”
Về mặt bản chất, thiết bị dạy hcọ là công cụ lao động dành cho loại hình lao động đặc thù của xã hội, đó là lao động dạy học, là yếu tố quan trọng có vai trò quyết định năng suất, chất lượng lao động của giáo viên và học sinh Thiết bị dạy học còn phản ánh trình độ dạy học và chất lượng đào tạo của nhà trường trong các thời đại Các thời đại giáo dục, các trình độ dạy học không phải chỉ được phân biệt ở nội dung dạy học mà còn ở chỗ dạy – học bằng cái
gì, bằng phương pháp và bằng những thiết bị dạy học nào?
1.1.1.2 Khái niệm đồ dùng dạy học
Khi nói đến việc sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học, người giáo viên nghĩ ngay đến các vật dụng trực quan cụ thể, các vật tư, hoá chất, mẫu vật, mô hình, tranh ảnh Các tài liệu, ấn phẩm, sách giáo khoa, vở bài tập, phiếu bài học … Trong những năm qua, các trường Tiểu học đã được cung cấp khá nhiều trang thiết bị và đồ dùng dạy học, có những thùng đồng bộ để dạy cho
cả cấp học và những bộ va-li để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số lượng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ
Đồ dùng dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên
sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức cho học sinh, đối với học sinh đó là nguồn tri thức phong phú sinh động, là các phương tiện giúp cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo
Vì vậy muốn đào tạo được một học sinh có đầy đủ kiến thức thì phải sử dụng đầy đủ, rõ ràng, chính xác các mẫu vật cũng như đồ dùng dạy học, ở đây việc săn, tìm những đồ dùng dạy học diễn ra bằng một quá trình liên tục và lâu dài, người giáo viên không đủ thời gian để có được đồ dùng đó, việc thực hiện đồ dùng dạy học ở giờ lên lớp còn nhiều hạn chế
1.1.2 Chức năng của thiết bị, đồ dùng dạy học
Sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy- học là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, bằng hành động vật chất, bằng
Trang 8ngôn ngữ bên ngoài để chuyển hóa thành ngôn ngữ bên trong (tư duy) phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học Thiết bị dạy học có nhiều đặc diểm chức năng khác nhau được phát huy tác dụng trong tất cả các môn học, đặc biệt là môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
1.1.2.1 Chức năng minh họa
Nội dung sách Tiếng Việt phản ánh cuộc sống của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước ta và nhiều nơi trên thế giới Sách còn phản ánh cuộc sống hiện nay hoặc cuộc sống của các thời đại đã xa xưa Khi học nội dung này học sinh gặp phải những khái niệm có liên quan đến những sự vật, sự việc xa lạ với cuộc sống thường gặp hàng ngày Không có những hiểu biết nhất định về những sự vật này có thể gây trở ngại cho việc hiểu thấu đáo nội dung thơ văn…
Giáo viên thường dùng lời để giảng giaỉ về các đối tượng đó Trong giờ Tiếng Việt, ngôn ngữ đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về Tiếng Việt, trên cơ sở đó giúp học sinh rèn luyện kĩ năng nghe- nói- đọc- viết…để các em nắm vững và sử dụng thành thạo tiếng
mẹ đẻ trong giao tiếp, trong học tập và rèn luyện tư duy Song nê sử dụng thiết bị dạy học bổ trợ, minh họa thêm cho lời giảng bình, học sinh có thể hình dung được một cách rõ ràng hơn về vấn đề này, từ đó hiểu được đầy đủ hơn nội dung thơ văn… Với thiết bị dạy học minh hoạ cho lời giảng bình học sinh có thể cảm thụ được, có thể hình dung được đầy đủ rõ ràng hơn
Ở đây thiết bị dạy học không những có tác dụng minh họa làm sáng rõ thêm những nội dung giáo viên trình bày bằng lời (ngôn ngữ) mà còn hỗ trợ,
bổ sung thêm những thông tin hình ảnh mà giáo viên không thể trình bày trọn vẹn, rõ ràng bằng ngôn ngữ của mình Mặt khác, sử dụng thiết bị dạy học minh họa còn có tác dụng hợp lí hóa lao động của giáo viên và học sinh;
“Tăng được giờ sống, chống được giờ chết”, có thêm thời gian để giảng giải, rèn luyện các kĩ năng khác tốt hơn
1.1.2.2 Chức năng thông tin
Trang 9Khi dạy Tiếng Việt, ngôn ngữ đóng vai trò chủ yếu trong việc cung cấp nội dung thông tin để học sinh luyện tập thực hành Song nhiều trường hợp thiết bị dạy học không chỉ đóng vai trò minh họa thêm cho lời giảng của giáo viên mà còn là nội dung bài học, là nguồn thông tin trực quan hình tượng không thể thiếu được trong quá trình lên lớp
Ở đây, thiết bị dạy học đóng vai trò chính trong việc cung cấp nội dung thông tin để học sinh luyện tập, thực hành Ngôn ngữ của giáo viên lúc này không nhằm cung cấp nội dung kiến thức mà chủ yếu là gợi mở, dẫn dắt để học sinh quan sát, phân tích…tranh, ảnh, đồ vật…, thực hành các phân môn trong môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
1.1.2.3 Chức năng định hướng
Khi đọc một câu văn, câu thơ, một tác phẩm văn học, nhất thiết người đọc phải làm sao hình dung được đầy đủ về đối tượng, nhân vật…trong đó Muốn vậy người học phải dùng tưởng tượng để “nhìn thấy” rõ ràng toàn bộ thế giới bên trong của tác phẩm với những con người đi đứng, suy nghĩ, hành động…Hình ảnh trong tưởng tượng của người học càng sáng rõ bao nhiêu thì sức cảm thụ văn học càng sâu sắc bấy nhiêu
Khi quan sát tranh minh họa, những kí ức thị giác được in rất sâu đậm và bền chặt trong kí ức của chúng ta Kí ức thị giác lại dễ được gợi ra hơn các kí ức về mùi vị, âm thanh Do vậy hình ảnh minh họa để lại một ấn tượng rất sâu đậm trong tâm trí của chúng ta Từ cái nhìn cụ thể trên hình ảnh minh họa, ta lại tưởng tượng ra những hình ảnh sinh động khác trong đầu mình Hình ảnh minh họa đã kích thích, định hướng, chắp cánh cho hình ảnh tưởng tượng Khi đọc các văn bản, mỗi học sinh đã tạo ra trong trí tưởng tượng những
“bức tranh minh họa” phù hợp với vốn sống riêng của mình Song, vốn sống của học sinh còn nhiều hạn chế, nên những “bức tranh tự minh họa” của học sinh có thể phản ánh đúng hoặc lệch lạc, phiến diện nội dung tác phẩm Nghệ thuật dạy văn là nghệ thuật khêu gợi cho học sinh “nhìn được” bằng mắt một cách đúng đắn nhất về thế giới bên trong của tác phẩm
Trang 10Vấn đề được đặt ra ở đây là giáo viên cần phải sử dụng hình ảnh minh họa như thế nào để khắc phục được tình trạng sai lệch này Tranh minh họa có tác dụng định hướng bằng hình ảnh thị giác, giúp cho học sinh thấy rõ hơn diện mạo, hình dáng, cử chỉ hành động cũng như môi trường hoạt động của nhân vật, điều chỉnh cho “bức tranh tự minh họa” trong tưởng tượng của mỗi em đúng hướng hơn, phong phú hơn, phù hợp với nội dung tác phẩm, khắc phục được tình trạng hiện đại hóa, địa phương hóa các nhân vật, sự vật…theo sự hiểu biết hạn chế của mình
1.1.2.4 Chức năng bồi dưỡng
* Bồi dưỡng vốn sống
Học sinh đã có một hiểu biết nhất định về tự nhiên, xã hội, song vốn sống còn nhiều hạn chế Qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ hiểu biết thêm nhiều mặt của cuộc sống hiện nay (về xã hội xa xưa, về nhân dân, về Bác Hồ kính yêu…)
Bằng thiết bị dạy học như tranh, ảnh, phim…có thể tạo ra điều kiện để học sinh tham quan trực tiếp các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, tạo điều kiện để các em vươn xa tầm nhìn Ở đây, thiết bị dạy học thực sự đã góp phần bồi dưỡng vốn sống cho học sinh bằng những hình tượng sinh động phong phú
* Bồi dưỡng mĩ cảm
Bồi dưỡng mĩ cảm là bồi dưỡng cho học sinh những khả năng và nhu cầu nhìn thấy, hiểu rõ và đánh giá đúng được cái đẹp trong mọi biểu hiện của sự vật, hiện tượng, đông thời vận dụng được cái đẹp đó vào cuộc sống Bồi dưỡng mĩ cảm bằng nghệ thuật tạo hình “tranh, ảnh, phim…” là khai thác mặt mạnh của loại hình nghệ thuật này làm cho tình cảm của trẻ phát triển tốt đẹp hơn, trí tuệ trở nên phong phú, thông minh hơn
Ở bậc tiểu học, qua nội dung các bài thơ văn, học sinh rung cảm với cái đẹp của thiên nhiên đất nước, cái đẹp của cuộc sống mới, con người mới, đồng thời bước đầu hiểu được cái đẹp của ngôn ngữ và văn học dân tộc Song,
để đạt được yêu cầu này, chỉ khai thác nội dung thơ, không sử dụng thiết bị
Trang 11dạy học tương ứng bổ trợ, học sinh cũng không thể có được những rung cảm sâu sắc Thiết bị dạy học “tranh, ảnh, băng hình…) là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh như được trực tiếp đến thăm quan, giúp cho việc bồi dưỡng mĩ cảm qua học tập thơ văn hiệu quả hơn
Khi sử dụng những tác phẩm nghệ thuật tạo hình (tranh, ảnh, băng ghi hình ) cần chú ý khai thác cái đẹp về cả nội dung và hình thức Thiết bị dạy học đã thực sự góp phần giúp học sinh hiểu sâu hơn nội dung thơ văn, đồng thời vun đắp trong tâm hồn các em những tình cảm lành mạnh, trong sáng và nâng dần lên nhận thức lí trí, thúc đẩy các em hành động theo những tình cảm cao đẹp
Việc sử dụng băng, đĩa ghi âm còn đem đến cho học sinh nguồn khoái cảm thẩm mĩ qua sức hấp dẫn của hệ thống âm thanh (lời nói, tiếng động, âm nhạc…) Thực tiễn giáo dục đã chỉ ra rằng, nhiều bài văn, bài thơ nếu học sinh chỉ tự đọc, và một số trường hợp do giáo viên đọc mẫu… các em chưa thấy hết được vẻ đẹp của ngôn ngữ xây dựng nên hình tượng tác phẩm Khi học sinh được trực tiếp nghe ngâm thơ, kể chuyện, đọc diễn cảm… qua băng, đĩa ghi âm, máy thu thanh… với giọng ngâm thánh thót, trầm bổng, với giọng
kể thủ thỉ, khoan thai, khi sôi nổi, căm giận… của nghệ sĩ có tài cộng với hòa
âm bổ trợ xúc cảm thẩm mĩ của các em tăng lên rất nhiều Qua đó, chúng ta bồi dưỡng cho học sinh, năng lực thẩm mỹ, khả năng đọc diễn cảm, kể chuyện hấp dẫn, sinh động… cảm thụ được cái hay cái đẹp của đời sống văn chương
* Bồi dưỡng trí tuệ
Bộ môn Tiếng Việt có nhiệm vụ bồi dưỡng trí tuệ cho học sinh Dạy văn
là dạy suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo Nói một cách khác, trong quá trình dạy - học Tiếng Việt, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh óc quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng, phân tích, tổng hợp… Đó là những năng lực trí tuệ cần được hướng dẫn, phát triển kịp thời, mạnh mẽ và đúng hướng nhằm phục vụ cho quá trình học tập trước mắt cũng như vận dụng trong cuộc sống sau này
Trang 12Khi sử dụng thiết bị dạy học, giáo viên thường gợi mở, dẫn dắt, hướng dẫn học sinh phương pháp quan sát, phân tích, so sánh… rút ra kết luận nhất định
để luyện tập, thực hành Tiếng Việt
* Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm
Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ và khả năng thuận lợi trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh Qua các bài văn hay có giá trị về nội dung và nghệ thuật giáo dục cho học sinh tình cảm đạo đức mới, yêu cái đẹp trong thiên nhiên, xã hội, cái đẹp trong ngôn ngữ và văn học Đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn chúng ta: “Trong một bài văn chúng ta có thể dạy cái hay, cái đẹp của văn đồng thời có thể dạy bao nhiêu cái hay, cái đẹp khác ở trong đó về tâm hồn, về tư tưởng, về lẽ sống…” (Trích trong Tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 28)
Nội dung giáo dục tư tưởng, tình cảm ở môn Tiếng Việt được sắp xếp theo những chủ đề lớn, nhằm giáo dục học sinh lòng yêu nhân dân lao động, yêu dân tộc, yêu Bác Hồ… nguyện phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi, trở thành con người mới xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh
Sử dụng thiết bị dạy học trong dạy - học Tiếng Việt, học sinh được quan sát những hình ảnh về cảnh đẹp đất nước, về truyền thống lao động, về truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất của nhân dân ta Những hình ảnh này tạo điều kiện tốt để học sinh thụ cảm được cái hay, cái đẹp trong bài học, từ đó tiếp thu các tư tưởng, tình cảm trong sáng toát ra từ tác phẩm văn học, cũng như từ nghệ thuật tạo hình Thiết bị dạy học đã tạo điều kiện tốt để giáo viên gắn nhà trường với đời sống xã hội, góp phần bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng một cách nhẹ nhàng, sinh động
1.1.3 Phân loại các thiết bị, đồ dùng dạy học
1.1.3.1 Căn cứ vào vai trò của đồ dùng và thiết bị dạy học trong quá trình dạy học, ta có thể phân loại như sau: Thiết bị dạy học truyền thống và thiết bị dạy học không truyền thống
- Thiết bị dạy học truyền thống: tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, dụng cụ thí nghiệm
Trang 13- Thiết bị dạy học không truyền thống: các phim khoa học, băng đĩa, máy chiếu các phần mềm dạy học
1.1.3.2 Căn cứ vào đặc trưng của từng thiết bị dạy học có thể phân loại như sau:
- Các vật (mô hình, tranh ảnh thô sơ và gần gũi với học sinh)
- Các thiết bị dạy học hiện đại: máy chiếu, các phương tiện nghe nhìn, các phần mềm dạy học, internet
1.1.3.3 Dựa vào tính chất của thiết bị dạy học Tiến sĩ Vũ Văn Dụ phân chia thiết bị dạy học thành 3 loại như sau: Phương tiện dạy học trực quan, dụng cụ thí nghiệm, phương tiện kỹ thuật dạy học
- Phương tiện dạy học trực quan: vật thật, vật thay thế, mô hình, tranh ảnh v v
- Dụng cụ thí nghiệm: để thực hiện được các thí nghiệm trong chương trình, có các dụng cụ thí nghiệm chuyên biệt chỉ dùng cho một thí nghiệm, có dụng cụ có thể dùng cho nhiều bài học khác nhau như: đèn cồn, cốc, bình, ống thủy tinh trong suốt với kích thước khác nhau
- Phương tiện kỹ thuật dạy học: máy chiếu đa phương tiện, máy chiếu vật thể, máy projecter, màn ảnh, đầu đĩa catset, video, các phần mềm dạy học (phần mềm Microsoft power point để thiết kế các thí nghiệm ảo, các thí nghiệm mô phỏng bài học trong sách giáo khoa)
Đây là cách phân loại hợp lí và khoa học phù hợp với các tính chất đặc trưng của thiết bị dạy học Thiết bị dạy học ngày nay được sản suất đồng bộ, cung cấp rộng rãi theo tiêu chuẩn kỹ thuật xác định của thế giới và trong nước Là các thiết bị dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu của bộ Giáo dục & Đào tạoquy định Ngoài ra còn có đồ dùng dạy học trực quan do giáo viên và học sinh tự làm, sưu tầm Đáng lưu ý, phương tiệ dạy học kỹ thuật là loại thiết bị dạy học có tính hiện đại và khả năng sư phạm cao thường được sử dụng trên các lớp học và được trang bị một cách phổ biến ở các trường học Nhờ có phương tiện kỹ thuật dạy học mà một lượng thông tin lớn của bài học được hình ảnh, mô hình hóa, mang lại cho môn học một không
Trang 14gian học tập có tính mục đích và hiệu quả cao Chính ưu thế về mặt sư phạm này mà phương tiện kỹ thuật có tác động lớn trong việc giúp giáo viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường
1.1.4 Tầm quan trọng của việc sử dụng thiết bị và đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học
* Vị trí của thiết bị dạy học trong dạy học
Quá trình dạy học diễn ra với sáu yếu cơ bản là: Mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, giáo viên, học sinh và thiết bị dạy học Thiết bị dạy học là một thành tố không thể thiếu của hệ thống dạy học, nó tồn tại, vận động và có mối liên hệ mật thiết với các yếu tố khác trong hệ thống
* Vai trò của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một trong các điều kiện quyết định sự thành công của cải cách giáo dục, vì sự thành công của cải cách giáo dục phụ thuộc vào ba điều kiện cơ bản sau:
- Chương trình và sách giáo khoa mới
- Bồi dưỡng giáo viên
- Đổi mới về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học chẳng những là phương tiện minh họa cho lời giảng của giáo viên mà còn là phương tiện giúp giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, là phương tiện phát triển tư duy Thiết bị dạy học giúp học sinh dễ dàng nhận ra những đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng, nhưng thiết bị dạy học còn có khả năng giúp học sinh thấy được những thuộc tính bên trong, thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Thiết bị dạy học đã thực sự góp phần phát triển tư duy của học sinh Thiết bị dạy học thực
sự đã là điều kiện cần và đủ giúp giáo viên thiết kế hoạt động học tập cho hoạc sinh, để học sinh có cơ hội tự mình phát hiện ra kiến thức giúp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập, chủ động nhận thức của người học Sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học có tác dụng là giảm sự phụ thuộc cuả học sinh vào lời giảng của giáo viên, dó đó
Trang 15góp phần đổi mới phương pháp học một cách có hiệu quả Đối với quá trình dạy học, thiết bị dạy học là phương tiện dạy học rất quan trọng thiện ở ba mặt:
- Phương tiện minh họa kiến thức
- Phương tiện nâng cao năng lực tư duy
- Phương tiện nâng cao năng lực thực hành
+ Thiết bị dạy học là phương tiện minh họa kiến thức
Tất cả mục tiêu dạy học ở Tiểu học nói chung và mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng đều có thể dễ dàng thực hiện thông qua các công cụ trực quan (Thiết bị dạy học) Thiết bị dạy học với việc trực quan hóa thông tin thuận lợi hơn hẳn so với dạy học bằng phương pháp thuyết trình giảng giải: chứa nhiều thông tin và tổ chức thuận lợi các thông tin trong cùng một số lượng chỗ, làm đơn giản các khái niệm, làm sáng tỏ các dựa trên ngôn ngữ trừu tượng Đặc biệt các kết quả nghiên cứu cho thấy tranh, ảnh trực quan
và việc sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học sẽ làm tăng sự nhớ trong học tập – đây một trong những mục tiêu hàng đầu của giáo dục
+ Thiết bị dạy học là phương tiện nâng cao năng lực tư duy
Những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thừng xuyên tư duy giữa hiện tượng hoặc đối tượng nghiên cứu khi cung cấp cho tư duy tài liệu thông tin cần thiết Phươnng tiện trực quan là trợ thủ không thể thay thế được cảu người giáo viên ở giai đoạn hình thành tư duy trừu tượng cho học sinh Ở giai đoạn này, những ình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là thành phần và là tiền đề bắt buộc của tư duy Tư duy dù đạt đến mức độ cao như thế nào nhưng
ít nhiều cũng cần đến trực quan cảm tính, cần đến hình ảnh Các tài liệu trực quan, thiết bị dạy học chẳng những cung cấp cho học sinh những kiến thức chính xác mà còn giúp cho học sinh Tiểu học kiểm chứng lại tính đúng đắn của những kiến thức lý thuyết Đứng trước vật thật hay hình ảnh của chúng học sinh sẽ học tập hứng thú cao hơn, tăng cường sức chú ý đối với các hiện tượng để rút ra các kết luận đúng đắn
+ Thiết bị dạy học là phương tiện nâng cao năng lực thực hành
Trang 16Mục tiêu của giáo dục đào tạo là tạo ra được những con người nắm vững
cá kiến thức khoa học, giỏi thực hành có bàn tay khéo léo để thực hiện những điều mà bộ óc suy nghĩ Khi hoạt động với công cụ, học sinh sẽ lôi kéo các vật vào hình thức tác động tương hỗ Điều đó làm lộ rõ những mối liên hệ nội tại giữa các vật, làm xuất hiện những bức trang chân thực về thế giới Trong quá trình thí nghiệm, thực hành, quan sát trực quan, các kiến thức lý thuyết
mà học sinh tiếp thu trên lớp thường ở dạng tĩnh cô lập với kiến thức khác sẽ tác động tương hỗ với nhau làm cho chúng trở nên động, làm lộ rõ bản chất
và khả năng của chúng Nhờ vậy, học sinh tiểu học sẽ thấy rõ vị trí vai trò của mỗi kiến thức trong hoạt động thực tiễn (qua thực hành), qua thực hành hứng thú thực hành của học sinh sẽ được kích thích Khi tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học sinh luôn luôn đước đặt trước tình huống mới buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi, phát triển trí sáng tạo Qua thực hành, đức tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỷ thuật được rèn luyện, ý chí và tình yêu lao động sẽ được nảy nở Đó là những phẩm chất cần thiết đối với người lao động và phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt động thực hành đa dạng
* Yêu cầu khi sử dụng thiết bị dạy học
Các phương tiện trực quan, thiết bị dạy học nếu được chuẩn bị, sử dụng khéo léo sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp được
2 hệ thống tín hiệu, tạo điều kiện cho người học dễ hiểu, nhớ lâu, gây hứng thú học tập, phát triển năng lực quan sát, bồi dưỡng sựu say mê, óc tò mò tìm tòi phát hiện những tri thức mới Vì thế mà khi tiến hành sử dụng các thiết bị dạy học trong bài dạy cần giúp học sinh nắm vững, vận dụng tốt nhất những tri thức cơ bản và biến chúng thành những phương tiện để tiếp tục lĩnh hội tri thức ở mức độ cao hơn Các thiết bị dạy học cần được chuẩn bị cẩn thận, đẩm bảo các yêu cầu sau:
- Thiết bị dạy học phải gắn với nội dung sách giáo khoa
Trang 17Thiết bị dạy học nhằm mục đích minh họa kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành luyện tập mà bài học yêu cầu Vì vậy thiết bị dạy học phải thống nhất, phù hợp với nội dung sách khoa
- Sử dụng thiết bị dạy học phải đúng mục đích
Mỗi thiết bị dạy học có chức năng riêng nên phải được nghiên cứu sử dụng đúng mục đích và phù hợp với quá trình dạy học Các thiết bị dạy học là chỗ dựa trực quan để phát triển tư duy, để dạy các nội dung kiên thức trừu tượng, khái quát Sách giáo khoa ở đầu cấp kênh hình nhiều giảm, càng về cuối cấp càng giảm dần
- Các thiết bị dạy học phải sử dụng đúng lúc, đúng chỗ
Nghĩa là thiết bị dạy học phải được đưa ra lúc học sinh cần nhất, được đặt
ở ví trí thích hợp nhất, lúc mà nội dung bài học và phương pháp dạy học cần đến, học sinh tiếp nhận được thông tin bằng các giác quan khác nhau với trạng thái tâm lí phù hợp
- Sử dụng thiết bị dạy học phải đúng mức độ, cường độ
Sử dụng đúng mức độ, cường độ thiết bị dạy học để tạo được hứng thú học tập chó học sinh, giúp các em hoạt động một cách chủ động, sáng tạo và tích cực Cần chuyển dần, chuyển kịp thời các dạng trực quan từ cụ thể sang trừu tượng hơn Cần tránh sử dụng thiết bị dạy học quá lâu, nhiều một loạt trong thiết bị trong một tiết học Nếu sử dụng thiết bị dạy không đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ sẽ hạn chế khả năng phát triển tư duy của học sinh, học sinh ngại suy nghĩ, làm việc máy móc
- Phải kết hợp sử dụng các thiết bị dạy học được trang bị với việc khai thác cơ
Trang 18những gây hứng thú cho việc dạy, việc học mà còn tạo dựng được mối quan
hệ hợp tác trong học tập
Ngoài những yêu cầu trên, khi sử dụng thiết bị dạy học cần phải lưu ý: + Thiết bị dạy học phải phù hợp với khả năng lĩnh hội tri thức của học sinh, đảm bảo tính khoa học, phản ánh chính xác bản chất của các sự vật, đảm bảo
sự quan sát của tập thể lớp, dễ sử dụng, không chiếm mất nhiều thời gian khi
sử dụng
+ Đảm bảo tính thẩm mĩ, sử dụng đến đâu thì đưa ra đến đó, dùng xong phải cất đi để không làm phân tán sự chú ý vào bài học của học sinh Phải chú ý thiết lập hệ thống câu hỏi định hướng sự quan sát của học sinh
+ Mỗi thiết bị có điểm mạnh, điểm yếu, để sử dụng một cách có hiệu quả thiết
bị dạy học đòi hỏi giáo viên phải hiểu rõ cấu tạo, nguyên lý hoạt động, tác dụng của mỗi thiết bị dạy học Căn cứ vào mục đích, nội dung bài học, lựa chọn, sử dụng và phối hợp các thiết bị dạy học một cách hợp lí sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh
1.1.5 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
Là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển (khả năng hiện thực
Có hoạt động học là hoạt động chủ đạo Trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo
Học sinh tiểu học là phạm trù tương
Trang 19Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
Đặc điểm quá trình tri giác của học sinh Tiểu học: Tri giác của học sinh
tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn Tri giác về thời gian và không gian cũng như ước lượng về thời gian và không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế
Đặc điểm chú ý của học sinh: Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn
yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Đến cuối bậc Tiểu học thì các em đã có thể duy trì chú ý có chủ định ngay cả khi chỉ có động cơ xa (như các em chú ý vào công việc khó khăn nhưng không hứng thú
vì biết chờ đợi kết quả trong tương lai)
Chú ý không chủ định của học sinh tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các
em, không có sự nỗ lực của ý chí Chú ý có chủ định phát triển cùng với sự phát triển động cơ học tập, cùng với sự trưởng thành
Đặc điểm trí nhớ của học sinh: Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan –
hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ – lôgíc, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các em tương đối chiếm ưu thế Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời
Đặc điểm quá trình tưởng tượng của học sinh: Tưởng tượng là một trong
những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh tiểu học Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em tuổi mẫu giáo lớn Nó được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Tuy nhiên tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít
có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn
Đặc điểm tư duy của học sinh: Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy
cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể
Trang 20Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, khả năng tư duy trừu tượng kém Phần lớn các em tư duy phải dựa trên mô hình, vật thật, tranh ảnh Do vậy trong giờ học việc sử dụng đồ dùng là không thể thiếu được Đồ dùng dạy học không chỉ là mô hình, tranh ảnh, vật thật, mà có thể là những trang phiếu học tập, được sử dụng dưới nhiều hình thức như : Trao đổi nhóm, hoặc mỗi học sinh một phiếu trong các giờ học: Kiểm tra, ôn tập ở tất cả các môn học Là phương tiện chuyển tải thông tin và nó còn là nội dung của quá trình truyền thu tri thức giáo dục tư cách, rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh Nó điều khiển mọi hoạt động nhận thức của học sinh từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng Nó tác động to lớn trong việc phát huy trí sáng tạo, kích thích hứng thú trong việc dạy và học của thầy và trò Đặc biệt sử dụng đồ dùng dạy học hợp lý bao giờ cũng cho những kết quả đúng về tính khoa học
sư phạm và tính mĩ thuật
Có nhà giáo dục trẻ cho rằng: “Trẻ không sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán” Học sinh tiểu học cảm thấy mệt mỏi và chán học khi chỉ nhìn thấy mãi một hình ảnh của giáo viên Lúc đó học sinh mong muốn được nhìn thấy một cái gì khác ngoài giáo viên để tạo ra một cảm giác thoải mái khi có cái mới để thu nhận kiến thức, thường cái mới đó là đồ dùng dạy học – Trong đó nếu nội dung đồ dùng dạy học phù hợp với nhận thức của học sinh thì sẽ nâng cao hiệu quả giờ dạy của giáo viên lên rất nhiều Sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp , linh hoạt trong quá trình dạy học có tác dụng làm giảm sự phụ thuộc của học sinh vào lời giảng của giáo viên do đó góp phần đổi mới phương pháp học một cách có hiệu quả
Chính vì thế mà luật giáo dục đã quy định rất rõ về tiêu chuẩn trường, lớp Thiết bị dạy học ở trường tiểu học như sau: “ Thiết bị giáo dục trang bị cho nhà trường phải thiết thực Trước mắt cần tập trung trang bị những thiết bị tối thiểu , cần thiết phục vụ yêu cầu đồng bộ giữa thiết bị chứng minh của giáo viên và thiết bị thực hành của học sinh, cần kết hợp trang thiết bị truyền thông đơn giản và thiết bị hiện đại (phương tiện nghe, nhìn, phòng học tiếng, vi tính ) từng bước hiện đại hoá nhà trường tiểu học theo sự phát triển của xã hội và
Trang 21kinh tế đất nước, khuyến khích giáo viên và học sinh làm đồ dùng dạy học bằng nguyên liệu địa phương giá thành thấp ”
Thực tế hiện nay việc sử dụng đồ dùng dạy học ở các khối lớp cũng tương đối phong phú, ở tất cả các môn học Bên cạnh những đồ dùng phục vụ giảng dạy trong các giờ lên lớp như mô hình tranh ảnh, tranh tĩnh, tranh động, đèn chiếu còn có những nội dung của bài được sử dụng theo phiếu gây sự hứng thú học tập cho các em: Nhưng so với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay thì việc sử dụng phiếu và nội dung soạn phiếu vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho các hình thức học Chính vì vậy đồ dùng dạy học phải được đưa ra đúng lúc và phù hợp với nhận thức của học sinh, phải đảm bảo được tính chất học tập, ôn luyện, củng cố các tri thức, kĩ năng kĩ xảo là hết sức cần thiết trong các giờ học căng thẳng nhằm :
- Tạo cho trẻ thay đổi hình thức hoạt động trên lớp (Thông qua hình thức trao đổi phiếu theo nhóm)
- Tạo ra sự vui vẻ thoải mái
- Tạo ra một không khí đoàn kết thông hiểu lẫn nhau Nếu biết kết hợp khéo léo các bước hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học với nội dung bài giảng thì bao giờ học sinh cũng tiếp thu nhanh hơn, hiểu bài giảng nhanh hơn, nhất là những nội dung ở bài trắc nghiệm: Đúng – Sai Biết rằng sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ học là một nghệ thuật, là cần thiết Song nhiều giáo viên đã không thực hiện được, hoặc thực hiện không thành công mang tính hình thức chính vì vậy hiệu quả giờ dạy không cao
Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
Tính cách: Những nét tính cách của các em mới được hình thành, chưa ổn
định nên có thể thay đổi dưới tác động giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội
“ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”
(Hồ Chí Minh)
Trang 22Những ảnh hưởng của hoạt động thần kinh cấp cao biểu lộ khá rõ trong hành
vi của học sinh tiểu học như: tính nhút nhát, tính cô độc (xa lánh mọi người)
có thể là sự biểu hiện trực tiếp của thần kinh yếu, tính nóng nẩy, không bình tĩnh có thể là sự biểu hiện của quá trình ức chế thần kinh yếu
Ở lứa tuổi này dễ nhận ra tính xung động trong hành vi của các em (khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới ảnh hưởng của kích thích bên trong và bên ngoài) Do vậy mà hành vi của học sinh tiểu học dễ có tính tự phát, dễ vi phạm nội quy và thường bị xem là “vô kỉ luật”
Nguyên nhân của hiện tượng này là sự điều chỉnh của ý chí đối với hành vi của trẻ em lứa tuổi tiểu học còn yếu, các em chưa biết đề ra mục đích hoạt động và theo đuổi mục đích đó đến cùng
Tính cách của học sinh tiểu học có nhược điểm thường bất thường, bướng bỉnh Đó là hình thức độc đáo phản ứng lại những yêu cầu của người lớn, những yêu cầu mà các em xem là cứng nhắc, để bảo vệ cái mình “muốn” thay cho cái mình “cần phải”
Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như tính hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha Hồn nhiên trong quan hệ với mọi người, với thầy, cô, với người lớn, với bạn bè Hồn nhiên nên trẻ em rất
cả tin, tin vào thầy cô, tin vào sách, tin vào người lớn và tin vào khả năng của bản thân Niềm tin của hoc sinh tiểu học còn cảm tính, chưa có lí trí soi sáng dẫn dắt Giáo viên nên tận dụng đặc tính này để giáo dục học sinh của mình, nhưng cần luôn nhớ rằng mọi điều đưa đến cho các em cần phải đúng, phải chính xác, vì nếu không thì khi trẻ đã có niềm tin vào điều gì đó, khi niềm tin được định hình, khắc sâu thì rất khó thay đổi cho dù điều đó là sai trái
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tính bắt chước của các em vẫn còn đậm nét Các em bắt chước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người được các
em coi như “thần tượng”, kể cả những nhân vật trong truyện, trong phim ảnh Tính bắt chước của trẻ lợi hại như “con dao” hai lưỡi, cũng có thể tích cực, cũng có thể “lợi bất cập hại” Chính vì vậy mà giáo viên cần hiểu biết thấu đáo và biết tận dụng tính bắt chước của trẻ để giáo dục các em có hiệu quả
Trang 23Học sinh tiểu học thích hoạt động và thích làm việc gì đó phù hợp với mình, nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với lao động: lao động tự phục vụ và trợ giúp người lớn những việc phù hợp tâm sinh lí Hoạt động lao động còn hình thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, sự cần cù, óc tìm tòi sáng tạo, tính tiết kiệm, tình cảm đối với người lao động
Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học:
Nhu cầu nhận thức hình thành và phát triển ở trẻ em từ tuổi thơ, đến lớp mẫu giáo lớn thì nhu cầu này phát triển mạnh, xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức và phương thức thoả mãn nó ở mẫu giáo, nghĩa là phương thức hoạt động vui chơi với tư cách là hoạt động chủ đạo ở mẫu giáo và xuất hiện hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo
Trở thành học sinh lớp một, nhu cầu nhận thức của trẻ em phát triển và thể hiện rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ có liên quan
Đời sống tình cảm của học sinh Tiểu học
Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí, trong nhân cách mỗi người Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ em Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trình nhận thức: quá trình tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Các em đang ưa thích đối tượng này, nhưng nếu có đối tượng khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó và lãng quên đối tượng cũ
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Giới thiệu về trường Tiểu học Hùng Vương
Trong những năm gần đây với sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương đã tạo điều kiện giúp đỡ trường về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất,
Trang 24nâng cao đảm bảo các điều kiện dạy và học, ngoài ra các hoạt động khác của nhà trường cũng được nâng cấp
Nhà trường có hai dãy nhà, tổng số phòng học hiện có là 20 phòng học đảm bảo 100% học sinh có chỗ ngồi
Làm tốt công tác tham mưu với chính quyền địa phương, tăng cường cơ sở vật chất cho giảng dạy Số phòng học đảm bảo 1 lớp/ 1 phòng học Các phòng chức năng đã đầy đủ
Trang thiết bị dạy học đảm bảo yêu cầu tối thiểu cho giảng dạy Thư viện
có đủ sách giáo khoa, sách tham khảo cho giáo viên và học sinh sử dụng Có đầy đủ thiết bị phục vụ thí nghiệm quan sát và thực hành trong các giờ Trường có xây thư viện tiên tiến và trong mỗi lớp học có một tủ sách thư viện
Trường chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Điều kiện sử dụng thiết bị về máy tính rất linh hoạt nên việc giáo viên tiếp cận với giảng dạy bằng giáo án điện tử rất tốt, học sinh thi giải toán trên mạng
Trong trường hiện nay có tổng số cán bộ là 30 cán bộ công nhân viên, không có giáo viên thiếu, 100% giaó viên có trình độ đạt chuẩn, không có giáo viên hợp đồng
Nhìn chung nhà trường có một đội ngũ giáo viên giỏi, tay nghề chuyên môn cao, thực hiện tốt nội quy, quy chế dân chủ, công khai về quyền lợi và nghĩa vụ của giáo viên Mọi thành viên trong nhà trường đều được tham gia bàn bạc về kế hoạch hoạt động và cùng nhau xây dựng chỉ tiêu, phương hướng phát triển
Làm tốt công tác kiểm tra đánh giá, phát hiện kịp thời những thiếu sót để
có biện pháp nhằm khắc phục, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tổ chuyên môn
Hàng năm nhà trường tở chức thăm lớp dự giờ để kiểm tra toàn diện chất lượng học sinh
Trang 25Nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng cho giáo viên, 100% giáo viên soạn bài bằng máy tính và nối mạng internet để khai thác kiến thức trên mạng phục
vụ tốt cho giảng dạy
1.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học cho môn Tiếng Việt lớp 2 – 3 ở trường Tiểu học Hùng Vương
* Khảo sát
Đối tượng khảo sát
22 giáo viên các khối lớp thuộc trường Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
216 học sinh lớp 2 -3 trường Tiểu học Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Nội dung khảo sát
Tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh lớp 2 và lớp 3 thuộc trường Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Mặt khác, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Quan sát, trò chuyện, lấy ý kiến chuyên gia
Nội dung phiếu thăm dò ý kiến (phụ lục)
* Thống kê
Phiếu thăm dò ý kiến
Tổng số phiếu phát ra: 238
Tổng số phiếu thu vào: 238, đạt tỉ lệ 100%
Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của đồ dùng thiết bị dạy học trong giờ Tiếng Việt, chúng tôi đã khảo sát, tiến hành tổng hợp và có được bảng thống kê sau:
Trang 26Bảng 1.1: Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của đồ dùng dạy
học trong giờ Tiếng Việt
có giáo viên nghĩ rằng việc sử dụng đồ dùng, thiết bị vào dạy học là không cần thiết và số giáo viên cho là bình thường rất thấp chỉ có 1 người (4,54%) Bên cạnh đó có 7 giáo viên (31,82%) cho là rất cần thiết Rõ ràng số lượng câu trả lời của giáo viên tương ứng nêu trên, ta có thể kết luận: Việc sử dụng việc sử dụng đồ dùng, thiết bị vào dạy học môn Tiếng Việt được đa số giáo viên cho là cần thiết
Có thể minh họa kết quả trên trong biểu đồ sau
Trang 27Biểu đồ 1.1 Biểu đồ nhận thức của giáo viên về sự cần thiết của đồ dùng
dạy học trong giờ Tiếng Việt
Rất Cần Thiết, 31.82
Không Cần Thiết, 0 Cần thiết, 63.64
Bình Thường, 4.54
Rất Cần Thiết Không Cần Thiết Cần thiết Bình Thường
Bảng 1.2 Cảm nhận của học sinh khi giáo viên thiết kế và sử dụng đồ
dùng dạy học trong giảng dạy Tiếng Việt
Trang 28Cũng với nội dung này, giáo viên đánh giá thái độ của học sinh trong giờ Tiếng Việt khi giáo viên thiết kế đồ dùng và sử dụng thiết bị dạy học và quá trình giảng dạy, được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3 Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học sinh khi giáo viên thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học trong giảng dạy Tiếng Việt
Từ bảng số liệu 1.2 và 1.3 ta có biểu đồ đánh giá mức độ hứng thú của học sinh khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học vào giờ Tiếng Việt như sau:
Trang 29Biểu đồ 1.2 Biểu đồ đánh giá mức hứng thú của học sinh khi giáo viên
sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ Tiếng Việt
0 10
thường
Không hứng thú
Giáo viên Học sinh
Đồ dùng thiết bị dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là phương tiện
hỗ trợ giảng dạy không thể thiếu của người giáo viên khi đứng lớp Khi khảo
sát về tác dụng của đồ dùng dạy học, chúng tôi đã có được bảng số liệu sau: Bảng 1.4 Nhận thức về tác dụng của đồ dùng, thiết bị dạy học trong giờ
Không khí lớp học thoải mái 12 54,54 48 22,22
2
Học sinh tiếp thu nhanh nội
Học sinh tiếp thu một phần nội
Học sinh tiếp thu chậm, rất ít nội
Trang 30Cùng trả lời 2 câu hỏi có nôi dung như nhau về tác dụng của đồ dùng thiết
bị dạy học khi ứng dụng vào trong giờ Tiếng Việt, ý kiến của giáo viên và học sinh có nhiều điểm tương đồng Với câu hỏi: “Theo thầy (cô) không khí lớp học như thế nào khi giáo viên thiết kế và sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học?”,
có 14 giáo viên (63,63%) cho rằng lớp học sinh động và sôi nổi; 12 giáo viên (54,54%) nghĩ rằng không khí lớp học sẽ thoải mái hơn khi giáo viên thiết kế
và sử dụng đồ dùng dạy học; 0 giáo viên nào nghĩ rằng lớp học sẽ buồn chán khi giáo viên thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học, có 4 giáo viên (18,18%) trả lời là ý kiến khác Còn với học sinh cùng câu hỏi này có đến 168 học sinh (77,78%) cho rằng lớp học sinh động và sôi nổi; 48 học sinh (22,22%) nghĩ rằng sẽ thoải mái hơn khi giáo viên sử dụng trò chơi học tập; 0 học sinh nào nghĩ rằng lớp học sẽ buồn chán khi giáo viên tổ chức trò chơi học tập và cũng
0 học sinh nào có ý kiến khác Từ kết quả khảo sát, ta thấy: Đa số các giáo viên và học sinh đều cho rằng lớp học sẽ sinh động và sôi nổi hơn khi giáo viên được học môn Tiếng Việt thông qua việc thiết kế đồ dùng và sử dụng thiết bị học tập của thầy (cô)
Trong tổng số 22 giáo viên tham gia khảo sát có đến 20 giáo viên (90,91%) cho rằng học thông qua việc thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học sẽ giúp học sinh tiếp thu nhanh nội dung bài học; không có giáo viên nào cho là tiếp thu chậm, rất ít nội dung bài; cũng như không có giáo viên nào nghĩ rằng
sẽ không tiếp thu được nội dung bài học nếu học thông qua việc thiết kế và sử dụng đồ dùng dạy học Chỉ có 6 giáo viên (27,27%)cho rằng học sinh tiếp thu được một phần nội dung bài học Còn đối với học sinh trong tổng số 216 học sinh tham gia phỏng vấn có đến 192 học sinh (88,89%) cho rằng học thông qua thiết kế đồ dùng và sử dụng thiết bị học tập của thầy (cô) sẽ giúp tiếp thu nhanh nội dung bài học; không có học sinh nào cho là tiếp thu chậm, rất ít nội dung bài; cũng như không có học sinh nào nghĩ rằng sẽ không tiếp thu được nội dung bài học thông qua việc thiết kế đồ dùng và sử dụng thiết bị học tập Chỉ có 24 học sinh (11,11%) cho rằng tiếp thu được một phần nội dung bài
Trang 31học Thông qua kết quả thu về ta thấy: Nội dung bài học sẽ được học sinh tiếp thu nhanh hơn nếu được học môn Tiếng Việt thông qua việc thiết kế đồ dùng
và sử dụng thiết bị học tập của thầy (cô)
Giáo viên trường Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ ý
thức rất rõ về tác dụng của đồ dùng, thiết bị dạy học Khi nói về lợi ích của đồ dùng có nhiều ý kiến khác nhau, số giáo viên chọn ý kiến “Đồ dùng, thiết bị dạy học giúp học sinh khắc sâu kiến thức” và “Đồ dùng, thiết bị dạy học giúp học sinh dễ tiếp thu bài” khá lớn và xấp xỉ nhau 12 (54,54%)và 11 giáo viên (50%); 1 giáo viên (4,54%) nghĩ rằng trò chơi giúp giáo viên dễ truyền đạt kiến thức hơn Bên cạnh đó còn có 5 trên tổng số 22 giáo viên (27,72%) tham gia khảo sát chọn đáp án “Tất cả các phương án trên Qua kết quả thu được ta
có thể nhận thấy rằng: Đồ dùng, thiết bị dạy học mang lại khá nhiều lợi ích cho học sinh lẫn giáo viên khi được lồng ghép vào các giờ học Đồ dùng dạy học có ý nghĩa to lớn tuy nhiên cường độ sử dụng chưa thường xuyên
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 22 giáo viên, thu thập thông tin và có bảng về mức độ sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên trong giờ dạy Tiếng Việt như sau:
Bảng 1.5 Mức độ sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ Tiếng Việt
Trang 32viên luôn luôn sử dụng và giáo viên chưa từng sử dụng là 0 và chỉ có 4 giáo viên (18,18%) sử dụng nhiều đồ dùng, thiết bị vào dạy học Từ kết quả nêu trên, ta thấy rằng: Đồ dùng và thiết bị dạy học đã được khai thác sử dụng nhưng chưa được giáo viên sử dụng nhiều
Sử dụng đồ dùng hiệu quả là vấn đề đang được ngành giáo dục quan tâm, song để có đồ dùng phù hợp và phát huy được hiệu quả thì vấn đề đặt ra đó
chính là quá trình thiết kế Ở trường Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ,
Tỉnh Phú Thọ, các thầy (cô) đã có ý thức tự thiết kế đồ dùng dạy học để phục
vụ cho hoạt động giảng dạy của mình nhưng còn chưa thường xuyên và liên tục
1.2.3 Đánh giá thực trạng của việc thiết kế đồ dùng dạy học
Tự làm đồ dùng thiết bị dạy học không chỉ là trách nhiệm, mà còn là hạnh phúc của mỗi giáo viên Nhu cầu làm và sử dụng đồ dùng dạy học là tất yếu
và bức thiết hiện nay bởi có sự kết hợp của phương tiện này thì công việc dạy học trên lớp của giáo viên sẽ được giảm nhẹ đi rất nhiều và mang lại hiệu quả lại cao, đồng thời đây cũng là cơ hội để họ cùng với học sinh thể hiện sự sáng tạo trong quá trình truyền thụ và tiếp thu kiến thức
Khảo sát về thực trạng thiết kế đồ dùng dạy học của giáo viên ở trường Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ, chúng tôi có được biểu đồ sau:
Biểu đồ 1.3 Thực trạng thiết kế đồ dùng và sử dụng thiết bị dạy học vào giờ Tiếng Việt
Trang 33Khi được hỏi về mức độ thường xuyên thiết kế đồ dùng và sử dụng thiết bị dạy học của thầy (cô) trong môn Tiếng Việt, có đến 19 giáo viên (86,36%) cho là thỉnh thoảng mới có; có 2 giáo viên (9,09%) được khảo sát trả lời là thường xuyên; 1 giáo viên (4,55%) trả lời là rất thường xuyên và không có giáo ciên nào trả lời là không bao giờ Điều này cho thấy rằng, đồ dùng thiết
bị dạy học đã được chú trọng sử dụng nhưng việc thiết kế chưa thực sự thường xuyên liên tục và đạt hiệu quả như mong muốn
Để đánh giá được một cách chính xác hơn về thực trạng việc thiết kế đồ dùng dạy học của giáo viên, chúng tôi còn tiến hành khảo sát trên học sinh, sau khi thu thập kết quả chúng tôi nhận thấy 100% số học sinh được khảo sát đưa ra ý kiến rằng “Thỉnh thoảng mới có” Như vậy việc tự thiết kế đồ dùng dạy học để phục vụ cho hoạt động dạy và học của giáo viên trường Tiểu học Suppe đã được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, liên tục Đa số giáo viên
đã biết vận dụng đồ dùng, thiết bị dạy học vào tiết dạy của mình hoặc nhưng việc tự thiết kế còn rất hạn chế, có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việc tự thiết kế đồ dùng dạy học của giáo viên, cụ thể là:
+ Đây là công việc mất nhiều thời gian, công sức và cả tiền bạc của giáo viên
mà nếu không có lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm với học trò thì sẽ khó có thể lao tâm khổ tứ vì nó
+ Những khó khăn khách quan khác như: Độ bền của đồ dùng dạy học tự làm chưa cao, khả năng của giáo viên còn hạn chế, chế độ khuyến khích, khen thưởng lại chưa hoàn toàn xứng đáng với tâm lực của giáo viên
Trang 34Tiểu kết chương 1
Để thiết kế được một số đồ dung dạy học và sử dụng chúng một cách hợp
lí phù hợp với nội dung bài học và phát huy được tính tích cực trong dạy học thì tôi tìm hiểu hai nội dung chính của đề tài đó là cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Nắm cơ sở lí luận về khái niệm về đồ dùng, thiết bị dạy học, chức năng của đồ dùng, thiết bị dạy học, nắm được các cách phân loại đồ dùng, thiết bị dạy học dạy học môn Tiếng Việt
Tìm hiểu một vài nét trường Tiểu học Hùng Vương, Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ, đánh giá hiệu quả sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học và thực trạng việc thiết các đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học này Giáo viên đã nhận thức đúng đắn về vai trò tầm quan trọng của đồ dùng dạy học, đã
sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học phục vụ việc giảng dạy của mình, tuy nhiên cường độ sử dụng chưa nhiều, chưa thực sự thường xuyên và phát huy được hết hiệu quả Bên cạnh việc sử dụng, vấn đề thiết kế đồ dùng còn nhiều hạn chế, chưa được phổ biến rộng khắp, liên tục
Trang 35CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
VÀ SỬ DỤNG CÁC THIẾT BỊ HỖ TRỢ TRONG MÔN TIẾNG VIỆT
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 2.1 Khai thác sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạy học trong môn Tiếng Việt lớp 2 -3 ở trường Tiểu học
2.1.1 Phần mềm Violet
2.1.1.1 Giới thiệu phần mềm
Học sinh Tiểu học có những khó khăn trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập như: Đi học đúng giờ, ngồi học ngay ngắn, phải làm các bài tập được giao đúng thời hạn… Tuy nhiên, ở các em ý chí còn thấp, dễ thấy nhàm chán
và nhanh chóng mất sự chú ý Các em chỉ hứng thú với đặc điểm bên ngoài của quá trình học tập Đối với học sinh, tính tích cực bên trong thường nảy sinh từ tác động bên ngoài Vì vậy, làm thế nào để lôi cuốn, thu hút sự chú ý của các em luôn là điều thôi thúc chúng tôi tìm kiếm những giải pháp nhằm giảm bớt những khó khăn và đem đến cho các em niềm hứng thú trong học tập Một trong những giải pháp của chúng tôi là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Phần mềm Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả, phù hợp với học sinh tiểu học Tương tự phần mềm PowerPoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo ra các trang nội dung bài giảng Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn dưới dạng trắc nghiệm Nhằm ứng dụng một cách hiệu quả phương tiện dạy học trên, nhằm thay đổi hình thức dạy học, và giúp các em tiếp cận bài tập dưới dạng trắc nghiệm, trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi muốn trao đổi những hiểu biết của mình cùng đồng nghiệp và hơn hết chúng ta mang đến cho các em niềm hứng thú trong học tập
2.1.1.2 Chức năng của phần mềm Violet
- Cho phép chọn nhiều đối tượng bằng cách dùng chuột khoanh vùng, hoặc bằng cách giữ Shift khi click chọn, sau đó có thể dịch chuyển, xóa, cắt dán
Trang 36thay đổi các thuộc tính, tạo hiệu ứng cho tất cả các đối tượng được chọn cùng một lúc
- Cho phép tạo hiệu ứng biến mất, rất hữu ích khi giáo viên muốn trình chiếu liên tiếp nhiều tư liệu hoặc nội dung kiến thức trên cùng một trang Người dùng có thể chọn hiệu ứng “Ngẫu nhiên” để cho việc trình chiếu thêm sinh động mà không phải mất công lựa chọn nhiều
- Thêm module tạo bài kiểm tra trắc nghiệm: Là một loạt các câu hỏi trắc nghiệm liên tiếp, chủ yếu được sử dụng để đánh giá kiến thức trong các bài giảng E-learning Hệ thống sẽ tính điểm lưu lại điểm và lưu lại quá trình làm bài theo chuẩn SCROM
- Thêm module “ Bài tập xếp chữ lên hình” tương tự như “ Bài tập kéo thả chữ” đã có, tuy nhiên khác biệt ở chỗ là kéo chữ lên các vị trí trên hình ảnh chứ không phải trên một một đoạn văn bản
- Tạo thêm các chức năng công cụ Violet cho Powerpoint, nghĩa là sẽ xuất hiện ngay các chức năng của Violet như trắc nghiệm, ô chữ… ở trong Powerpoint ( trở thành chức năng của Powerpoint)
- Hỗ trợ hầu hết các định dạng video, ảnh, cho phép nhập được các hình vẽ hình học từ phần mềm Geometer Sketchpat vào Violet mà vẫn giữ các chuyển động, tương tác, các nút chức năng, v.v… ngoài việc sử dụng hình vẽ Sketchpat trên bài giảng Violet
- Thực hiện liên kết ngoài của các định dạng: Word, Excel, PowerPoint, GSP 2.1.1.3 Ứng dụng phần mềm Violet vào dạy học Tiếng Việt lớp 2, 3 ở trường Tiểu học
Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo ra các trang nội dung bài giảng: cho phép nhập dữ liệu văn bản, công thức, các file dữ liệu multimedia (hình ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình flash…) sau đó lắp ghép dữ liệu, sắp xếp thứ tự , tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi Các dạng bài úng dụng phần mềm Violet rất đa dạng và phong phú:
- Bài tập trắc nghiệm (có 4 kiểu)
Một đáp án đúng (chỉ cho phép chọn một đáp án đúng)
Trang 37Ví dụ một số câu hỏi trắc nghiệm trong chương trình Tiếng Việt lớp 3 Câu 1: Từ nào sau đây chỉ trẻ em?
Câu 4: Câu nào sau đây không thuộc mẫu câu “Ai làm gì?”
A Sau trận mưa rào, mọi vật đều tươi sáng
B Đàn bọ ngựa mới nở chạy tíu tít
C Thỉnh thoảng, một chú bọ ngựa con trở về thăm ở trứng mẹ
Nhiều đáp án đúng (cho phép lựa chọn nhiều đáp án một lúc)
Ví dụ một số câu hỏi trắc nghiệm nhiều đáp án đúng trong chương trình Tiếng Việt lớp 3
Câu 1: Những từ nào viết sai?
A Loay hoai
B Quay cóp
C Hí hoáy
D Ngọ ngoặy
Đúng – sai (với mối phương án sẽ trả lời là đúng hay sai)
Ví dụ về câu hỏi đúng sai trong chương trình Tiếng Việt lớp 3