Ngoài ra còn rất nhiều điều ước quốc tế về quyền con người hoặc liên quan đến quyền con người được kí kết trong khuôn khổ các tổ chức chuyên môn thuộc hệ thống Liên hợp quốc hoặc các tổ
Trang 1Ths NguyÔn ThÞ Kim Ng©n *
ới 192 quốc gia thành viên, Liên hợp
quốc là một trong những tổ chức quốc
tế đa phương toàn cầu lớn nhất hiện nay
Hợp tác quốc tế trong khuôn khổ Liên hợp
quốc được triển khai toàn diện trên các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trong
đó có hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền
con người Cơ sở pháp lí để xác định nội
dung các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về
quyền con người của các quốc gia thành viên
Liên hợp quốc bao gồm: Hiến chương Liên
hợp quốc, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con người, các điều ước quốc tế về quyền con
người mà các quốc gia thành viên Liên hợp
quốc đã kí kết hoặc gia nhập và các cam kết
mang tính tự nguyện của các thành viên
Hiến chương Liên hợp quốc là văn kiện
pháp lí nền tảng để triển khai các quan hệ hợp
tác trong khuôn khổ Liên hợp quốc, trong đó
có các quan hệ hợp tác trong lĩnh vực quyền
con người Khoản 3 Điều 1 Hiến chương Liên
hợp quốc đã khẳng định mục tiêu hoạt động
của Liên hợp quốc là: “thực hiện sự hợp tác
quốc tế… trong việc khuyến khích phát triển
và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền
tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không
phân biệt chủng tộc, nam, nữ, ngôn ngữ hoặc
tôn giáo”.(1) Ngoài việc xác định rõ mục tiêu
như trên, Hiến chương Liên hợp quốc còn
xem xét các quyền và tự do cơ bản của con
người theo nhiều góc độ và tương ứng với từng góc độ đó có các cơ chế khác nhau để đảm bảo cho việc phát triển và bảo vệ quyền con người ở các quốc gia thành viên
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948, chỉ ba năm sau khi Liên hợp quốc thành lập Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người là văn kiện quốc tế đầu tiên tập trung đề cập các quyền
và tự do cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự và chính trị; kinh tế, văn hoá
và xã hội Mặc dù về tính chất không phải là điều ước quốc tế nhưng Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người có ý nghĩa rất lớn:
“là mục tiêu chung cho tất cả các dân tộc và
các quốc gia phấn đấu đạt tới”.(2) Hiện nay, rất nhiều quy định trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người đã được coi là tập quán quốc tế và có hiệu lực ràng buộc đối với các quốc gia, trước hết là các quốc gia thành viên Liên hợp quốc
- Các điều ước quốc tế về quyền con người mà các quốc gia thành viên Liên hợp quốc kí kết hoặc tham gia là cơ sở pháp lí quan trọng và đầy đủ nhất để xác định nội dung các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về
V
* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2quyền con người của các quốc gia Cho đến
nay, đã có 24 công ước quốc tế về quyền con
người được kí kết Ngoài ra còn rất nhiều
điều ước quốc tế về quyền con người hoặc
liên quan đến quyền con người được kí kết
trong khuôn khổ các tổ chức chuyên môn
thuộc hệ thống Liên hợp quốc hoặc các tổ
chức quốc tế khác.(3) Trong số đó phải kể đến
các công ước quốc tế có sự tham gia rộng rãi
của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc
như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966;
Công ước quốc tế về xoá bỏ tất cả các hình
thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công
ước quốc tế về xoá bỏ tất cả các hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979; Công
ước về quyền trẻ em năm 1989…
Ngoài các cơ sở pháp lí nêu trên, nội
dung các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về
quyền con người của các quốc gia thành viên
Liên hợp quốc còn được xác định dựa trên
các cam kết mang tính tự nguyện của các
quốc gia như cam kết khi ứng cử làm thành
viên Hội đồng nhân quyền hoặc các cơ quan
khác của Liên hợp quốc
Thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc
tế nói chung, các nghĩa vụ và cam kết quốc tế
về quyền con người nói riêng là trách nhiệm
đặt ra đối vối các quốc gia thành viên Liên
hợp quốc Khoản 2 Điều 2 Hiến chương Liên
hợp quốc đã xác định: "Để đảm bảo cho các
thành viên Liên hợp quốc được hưởng những
quyền và lợi ích do tư cách thành viên mang
lại, tất cả các thành viên Liên hợp quốc phải
thiện chí thực hiện các nghĩa vụ do Hiến
chương đặt ra".(4) Đây cũng chính là sự thể
hiện nội dung nguyên tắc Pacta sunt servanda (nguyên tắc tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế) – một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Việc thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ và cam kết quốc tế về quyền con người của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc được đảm bảo bởi:
* Ý thức tự nguyện thực hiện của các
quốc gia thành viên Liên hợp quốc: Khi kí kết các điều ước quốc tế, trong đó xác lập những nghĩa vụ và cam kết về quyền con người, các quốc gia luôn nhằm hướng tới những lợi ích nhất định Đó chính là sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của quốc gia, lợi ích của cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ quốc gia
và lợi ích của các cá nhân công dân cần được quốc gia bảo vệ Những lợi ích này được các quốc gia cố gắng thể hiện ở mức cao nhất trong các điều ước quốc tế do các quốc gia thoả thuận xây dựng nên Thông qua các điều ước quốc tế, lợi ích của quốc gia kết hợp với lợi ích của cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ quốc gia và lợi ích của cá nhân công dân không chỉ được đảm bảo ở bình diện mỗi quốc gia mà cả trên bình diện quốc tế Chính
vì vậy, xuất phát từ lợi ích của chính mình, sau đó là lợi ích của các chủ thể khác và của
cả cộng đồng quốc tế, các quốc gia thành viên
sẽ thực thi các điều ước quốc tế về quyền con người một cách nghiêm túc, triệt để
Ngoài ra, ý thức pháp luật của quốc gia được thể hiện qua nhận thức và thái độ của quốc gia đối với các quy định của luật quốc
tế Trải qua quá trình thực hiện chủ quyền quốc gia, xuất phát từ yêu cầu phải tuân thủ các quy tắc trong quan hệ quốc tế, ý thức pháp luật của các quốc gia ngày càng được nâng
Trang 3cao Do vậy, các quốc gia ngày càng xử sự một
cách tự giác theo yêu cầu của các quy phạm
pháp luật quốc tế Nói cách khác, việc thực
hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế, trong
đó có các nghĩa vụ và cam kết về quyền con
người của quốc gia càng đầy đủ và triệt để
Các quốc gia thành viên Liên hợp quốc
sẽ tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ và cam
kết quốc tế về quyền con người thông qua
những hoạt động cụ thể như:
- Ban hành, sửa đổi, bổ sung pháp luật
quốc gia nhằm mục đích tạo ra sự tương
thích giữa hệ thống các quy phạm pháp luật
trong nước với các nghĩa vụ và cam kết quốc
tế của quốc gia về quyền con người Đây
thực chất là quá trình đưa các nghĩa vụ và
cam kết quốc tế về quyền con người vào
khuôn khổ pháp luật trong nước, qua đó tạo
cơ sở pháp lí cho việc thực hiện nghĩa vụ
thành viên các điều ước quốc tế về quyền
con người của các quốc gia
- Xây dựng các thiết chế hành pháp và tư
pháp hiệu quả để đảm bảo thực hiện các
nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con
người của các quốc gia Các thiết chế này bao
gồm: các thiết chế hoạt động với tư cách là cơ
quan của chính phủ và các thiết chế là uỷ ban
quốc gia về quyền con người đóng vai trò là
cơ quan tư vấn trong việc thực hiện các nghĩa
vụ và cam kết quốc tế về quyền con người
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, các thiết chế này có trách nhiệm trong
việc đề ra kế hoạch cụ thể và các biện pháp
đảm bảo khả thi các nghĩa vụ và cam kết
quốc tế về quyền con người của quốc gia
- Triển khai tuyên truyền, giáo dục hiểu
biết cần thiết các kiến thức khoa học và pháp
lí về quyền con người trong cộng đồng Việc giáo dục kiến thức về quyền con người cho cộng đồng là một trong những hoạt động góp phần vào việc ngăn ngừa, hạn chế những hành vi vi phạm quyền con người; đồng thời tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi tổ chức xã hội tham gia vào triển khai thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người của các quốc gia
* Sự giám sát của các thiết chế quốc tế
về quyền con người:
Hiện nay, hệ thống thiết chế giám sát việc thực hiện nghĩa vụ và cam kết quốc tế
về quyền con người của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc bao gồm: các thiết chế được thành lập trên cơ sở các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc (Charter based bodies) và các thiết chế được thành lập trên
cơ sở các công ước quốc tế về quyền con người (Treaty based bodies)
- Các thiết chế giám sát được thành lập trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc bao gồm các cơ quan của Liên hợp quốc như Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh
tế-xã hội, Văn phòng cao uỷ về nhân quyền, Hội
đồng nhân quyền… Mỗi cơ quan sẽ giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc
tế về quyền con người từ góc độ chức năng và lĩnh vực chuyên môn của mình phù hợp với quy định của Hiến chương Liên hợp quốc
- Các thiết chế giám sát được thành lập trên cơ sở các công ước quốc tế về quyền con người sẽ tiến hành các hoạt động hỗ trợ cộng đồng quốc tế thực hiện sự kiểm soát cần thiết đối với việc thực thi nghĩa vụ thành viên của mỗi quốc gia Hiện nay, đã có 8 uỷ ban được thành lập trên cơ sở các công ước quốc tế về quyền con người Đó là Uỷ ban
Trang 4quyền con người (CCPR), Uỷ ban về quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá (CESCR), Uỷ ban
về xoá bỏ phân biệt chủng tộc (CERD), Uỷ
ban về xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW), Uỷ ban chống tra tấn (CAT), Uỷ
ban về quyền của trẻ em (CRC), Uỷ ban về
người lao động di trú (CMW), Uỷ ban về
quyền của người khuyết tật (CRPD)
Bên cạnh các thiết chế giám sát của Liên
hợp quốc, nếu các quốc gia thành viên Liên
hợp quốc tham gia các điều ước quốc tế khu
vực về quyền con người thì các quốc gia còn
phải chịu sự giám sát của các thiết chế được
thành lập trên cơ sở các điều ước quốc tế đó
như thiết chế giám sát của Công ước nhân
quyền châu Âu năm 1950, Công ước nhân
quyền châu Mỹ năm 1969, Hiến chương
châu Phi về quyền con người và quyền dân
tộc năm 1981…
Nhìn chung tất cả các các thiết chế quốc
tế nêu trên đều thực hiện các chức năng:
- Giám sát, đánh giá, điều tra việc thực
hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền
con người của các quốc gia thành viên;
- Áp dụng các biện pháp có tính chất
cưỡng chế đối với các quốc gia vi phạm
những nghĩa vụ và cam kết về bảo vệ và phát
triển quyền con người;
- Đẩy mạnh việc giáo dục, hợp tác khu vực
và quốc tế trong lĩnh vực quyền con người
* Trách nhiệm pháp lí quốc tế đối với
quốc gia khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ và
cam kết quốc tế về quyền con người
Hành vi vi phạm nghĩa vụ và cam kết
quốc tế về quyền con người là căn cứ quan
trọng để xác lập trách nhiệm pháp lí quốc tế
đối với quốc gia đã có hành vi vi phạm
Trách nhiệm pháp lí quốc tế ở đây được hiểu
là sự cưỡng chế trong luật quốc tế để buộc chủ thể đã thực hiện hành vi trái pháp luật quốc tế phải loại bỏ thiệt hại đã gây ra, phải thực hiện một hoặc một số yêu cầu của chủ thể bị thiệt hại kể cả việc phải gánh chịu những biện pháp trừng phạt do chủ thể bị thiệt hại hoặc các chủ thể khác áp dụng trên
cơ sở pháp luật quốc tế.(5)
Do đặc thù của các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người, hành vi vi phạm của một quốc gia không gây ra thiệt hại trực tiếp đối với các quốc gia khác Tuy nhiên, hành vi đó lại ảnh hưởng tới các quyền và lợi ích cơ bản của con người - đối tượng được bảo vệ bởi luật quốc tế về quyền con người
Do đó, quốc gia có hành vi vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lí quốc tế, trong đó có cả các biện pháp trừng phạt quốc tế Các biện pháp này có thể được duy trì và thực thi bởi cộng đồng quốc tế, tổ chức quốc tế liên chính phủ, một quốc gia hay một nhóm quốc gia Phù hợp với Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất trong số các cơ quan chính của Liên hợp quốc có thể ra quyết định về các biện pháp trừng phạt đối với quốc gia thành viên Liên hợp quốc có hành vi vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ và cam kết quốc
tế về quyền con người Các biện pháp này được áp dụng khi hành vi vi phạm dẫn đến tình huống đe dọa hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành vi xâm lược (Điều 39 Hiến chương Liên hợp quốc) Các biện pháp trừng phạt này bao gồm: cắt đứt toàn bộ hay từng phần quan hệ kinh tế, đường sắt, đường biển, đường hàng không, bưu chính, điện tín, vô
Trang 5tuyến điện và các phương tiện giao thông
khác, kể cả việc cắt đứt quan hệ ngoại giao
(Điều 41 Hiến chương Liên hợp quốc); hoặc
tiến hành các hoạt động can thiệp quân sự
(Điều 42 Hiến chương Liên hợp quốc)
Trên thực tế, từ trước tới nay, Hội đồng
bảo an Liên hợp quốc đã áp dụng biện pháp
trừng phạt với nhiều hình thức và thời hạn
khác nhau đối với Nam Phi, Irắc, các khu
vực trước đây của Nam Tư, Xômali, Libăng,
Libêria, Haiti, Ăngôla, Ruanda, Xuđăng…
do có hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền
con người, đi ngược lại các nghĩa vụ và cam
kết quốc tế về quyền con người của chính
các quốc gia đó Bên cạnh việc áp dụng các
biện pháp trừng phạt đối với quốc gia, Hội
đồng bảo an Liên hợp quốc còn thành lập
các toà án xét xử tội phạm chiến tranh để
xem xét các hành vi vi phạm quyền con người
của các cá nhân (thường là cựu nguyên thủ
quốc gia, người đứng đầu chính phủ, tướng
lĩnh quân đội… của các quốc gia vi phạm)
như Toà án xét xử tội phạm chiến tranh ở
Ruanda, Toà án xét xử tội phạm chiến tranh
ở Nam Tư cũ, Toà án về Sierra Leon, Toà án
đặc biệt về Lebanon…
Trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về
quyền con người khu vực, các biện pháp
trừng phạt cũng được các thiết chế giám sát
nhân quyền khu vực áp dụng đối với quốc gia
có hành vi vi phạm nghiêm trọng các nghĩa
vụ và cam kết quốc tế về quyền con người
được ghi nhận trong các điều ước khu vực
Bên cạnh việc phải gánh chịu trách
nhiệm pháp lí quốc tế, quốc gia có hành vi vi
phạm điều ước quốc tế về quyền con người
còn có thể phải chịu những hậu quả bất lợi
khác như uy tín của quốc gia trong quan hệ
quốc tế bị giảm sút khi bị lên án vì những vi phạm nhân quyền Đồng thời, quốc gia cũng
có thể bị mất nguồn viện trợ, nguồn vốn đầu
tư nước ngoài hoặc bị ảnh hưởng về mặt ngoại giao, bởi trên thực tế các tổ chức quốc tế liên chính phủ như Tổ chức văn hoá khoa học giáo dục Liên hợp quốc, Tổ chức y tế thế giới, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế… và các quốc gia khác cũng có thể xét đến những vi phạm các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người trước khi quyết định tài trợ hoặc đầu tư vốn vào quốc gia
* Sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ trong thực tiễn triển khai thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người của quốc gia
Các tổ chức liên chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, bao gồm cả các
tổ chức quốc tế trong và ngoài hệ thống Liên hợp quốc đóng vai trò nhất định trong việc điều phối quan hệ hợp tác về bảo vệ, phát triển quyền con người cũng như trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động nêu trên ở phạm vi từng quốc gia và trên quy mô toàn cầu Bên cạnh các tổ chức liên chính phủ, thực tiễn quan hệ quốc tế không phủ nhận những đóng góp của các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền như Tổ chức
ân xá quốc tế (Amnesty International – AI),
Uỷ ban chữ thập đỏ quốc tế (International Committee of the Red Cross – ICRC)… trong đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ
và cam kết quốc tế về quyền con người của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc
Cơ sở pháp lí để thiết lập mối quan hệ giữa Liên hợp quốc và các tổ chức phi chính phủ là Điều 71 Hiến chương Liên hợp quốc:
Trang 6“Hội đồng kinh tế-xã hội có thẩm quyền thi
hành những biện pháp thích hợp để tham
khảo ý kiến của các tổ chức phi chính phủ có
liên quan đến những vấn đề thuộc thẩm
thẩm quyền đó là “đưa ra những khuyến
nghị, nhằm đảm bảo sự tôn trọng thật sự
nhân quyền và những quyền tự do cơ bản
chương Liên hợp quốc).(7)
Với tính chất là các tổ chức tự nguyện,
không bao gồm đại diện của các quốc gia
trong lĩnh vực quyền con người, hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ chủ yếu bao
gồm tư vấn, giáo dục, hoà giải, tham gia các
hành động của chính phủ và trong chừng
mực nhất định thực hiện các hoạt động có
tác dụng thúc đẩy hoặc kiềm chế các hành
động của chính phủ
Mặc dù các quốc gia không đưa ra thông
cáo chính thức thừa nhận rằng các tổ chức
phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nhân
quyền đã thúc đẩy đưa tới những hành động
của chính phủ nhưng thực tiễn quan hệ quốc
tế cho thấy việc thực hiện các nghĩa vụ và
cam kết quốc tế về quyền con người của các
quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong
một số trường hợp, được triển khai theo
chiều hướng tích cực dưới sự theo dõi và
ủng hộ của các tổ chức phi chính phủ cụ thể
như những lệnh ân xá được ban hành, tù
nhân được phóng thích, các bản án được
giảm nhẹ và những vi phạm quyền con
người cũng bớt đi
Ngoài ra, những thông tin, bình luận từ
các tổ chức phi chính phủ trong một số
trường hợp còn được các thiết chế giám sát
nhân quyền khu vực và toàn cầu sử dụng trong quá trình xem xét báo cáo tình hình thực hiện các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người của các quốc gia thành viên như trong Cơ chế kiểm điểm định kì của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc hoặc trong
cơ chế báo cáo của các công ước quốc tế về quyền con người
Tóm lại, bảo vệ và phát triển các quyền
và tự do cơ bản của con người không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các chuẩn mực pháp lí hoặc đưa ra các cam kết quốc tế về quyền con người Điều quan trọng hơn cả là quốc gia thành viên Liên hợp quốc nói riêng, cũng như cộng đồng quốc tế nói chung phải tích cực thực hiện những biện pháp hữu hiệu
để hiện thực hoá các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của mình, có như vậy các quyền và
tự do cơ bản của con người mới được bảo vệ
và phát triển trên thực tế./
(1).Xem: Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản
pháp luật Việt Nam có liên quan , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 9
(2).Xem: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Các văn kiện
quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1998, tr 63
(3).Xem: Bộ ngoại giao, Vấn đề nhân quyền, 2007, nguồn: http://www.mofa.gov.vn/vi/ctc_quocte/ptklk/
nr040819162124/ns040906134805/view
(4).Xem: Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản
pháp luật Việt Nam có liên quan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 9
(5).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật
quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008, tr 471
(6).Xem: Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản
pháp luật Việt Nam có liên quan , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 28
(7).Xem: Các văn bản công pháp quốc tế và văn bản
pháp luật Việt Nam có liên quan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 26