1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận từ lý luận của triết học mác lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hãy xác định trong giai đoạn quá độ ở việt nam hiện nay cần làm gì để thúc đẩy nhanh sự phát triển

17 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 48,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 TRƯỜNG TIỂU LUẬN TỪ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT HÃY XÁC ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CẦN LÀM GÌ ĐỂ THÚC ĐẨY NHANH SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC Họ và tên Lớp Khóa học HÀ NỘI 2021 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT 2 1 1 Khái niệm 2 1 2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 4 II T.

Trang 1

TIỂU LUẬN

TỪ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT HÃY XÁC ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CẦN LÀM GÌ ĐỂ THÚC ĐẨY NHANH SỰ PHÁT TRIỂN

ĐẤT NƯỚC

Họ và tên:

Lớp:

Khóa học:

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

Trang

I.

LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

2

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất 4

II.

TỪ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT HÃY XÁC ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CẦN LÀM GÌ ĐỂ THÚC ĐẨY NHANH

SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

6

2.1 Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng 6 2.2 Xác định rõ vai trò và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước 6 2.3 Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chếthị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa 8 2.4 Thúc đẩy công nghiệp hoá và hội nhập toàn cầu 9

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội là lịch sử phát triển của những phương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao Mà lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất la hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển của xã hội

Sự vận động, phát triển cùa lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển củ lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Do đó, việc giải quyết mâu thẫu giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất không phải là đơn giản

Việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Từ lý luận của Triết học Mác - Lênin về mối

quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hãy xác định trong giai đoạn quá độ ở Việt Nam hiện nay cần làm gì để thúc đẩy nhanh sự phát triển đất nước” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực

tiễn sâu sắc

Trang 4

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN

HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

1.1 Khái niệm

* Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ở một thời kỳ nhất định Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người và năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức, phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội

Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dung khái niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn Các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuất mới và làm cho năng suất lao động tăng lên gấp bội Năng suất lao động được xem như là tiêu chí quan trọng trọng nhất để đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và suy cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một trật tự xã hội này đối với một trật tự xã hội khác

* Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm xã hội (sản xuất và tái sản xuất xã hội)

Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có quan hệ với tự nhiên, tác động vào giới tự nhiên, mà còn có quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau Hơn nữa, chỉ có trong quan hệ tác động lẫn nhau thì con người mới có sự tác động vào tự nhiên và mới có sản xuất

Trang 5

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan

hệ giữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau

Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau

Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng

có tác động trở lại quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan

hệ ý chí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinh tế

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

* Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải vật chất (tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại

và phát triển của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Trang 6

Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao

Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

* Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội)

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là,

nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” [1,

Trang 7

tr.310] của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa

là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế

* Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất không hoàn toàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan

hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa

và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật

xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

Trang 8

II TỪ LÝ LUẬN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN

HỆ SẢN XUẤT HÃY XÁC ĐỊNH TRONG GIAI ĐOẠN QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CẦN LÀM GÌ ĐỂ THÚC ĐẨY NHANH SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

2.1 Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng

Thắng lợi của đường lối đổi mới, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu khách quan, là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam Trong điều kiện nước ta, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp nhuần nhuyễn tính giai cấp và tính dân tộc, trong việc hoạch định đường lối, chính sách và trong tổ chức chỉ đạo thực hiện, tập hợp trong đội ngũ của mình hàng triệu người con ưu tú của giai cấp công nhân và của dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, thực hiện “Đảngvới Dân một ý chí”, “Đảng ta là đạo đức là văn minh”, là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo nhân dân ta đi tới mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội [2, tr.259]

2.2 Xác định rõ vai trò và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền Trong đó có một nội dung cơ bản là phải phân định rõ ràng giữa Nhà nước và nền kinh tế theo hướng: cái gì của nền kinh tế, của thị trường thì trả lại cho thị trường; cái gì thuộc chức năng và trách nhiệm của Nhà nước phải nắm cho chắc và làm cho tốt; cơ sở để thực hiện được điều đó là phải xây dựng hệ thống pháp luật, thể chế, nhất là bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của

hệ thống này, xét cả hai mặt trên, quá trình chuyển đổi kinh tế của Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua tuy đạt được một số thành tựu, song diễn ra rất chậm chạp, kết quả còn hạn chế

Trang 9

Một sự thật đã đang và tiếp tục diễn ra, nền kinh tế thị trường với bản chất đa dạng nó sẽ thúc đẩy xã hội phát triển đa dạng hơn, phong phú hơn Khu vực kinh tế tư nhân, cần được mở đường phát triển, cơ chế cạnh tranh thị trường lành mạnh sẽ khuyến khích tất cả những ai có tài năng và tinh thần dám chịu rủi ro, mạo hiểm để tạo nên sự nghiệp kinh doanh trong một môi trường kinh doanh mới với mức độ cạnh tranh mang tầm khu vực và toàn cầu Tính đa dạng của quy mô và của loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động nghề nghiệp của dân cư sẽ ngày càng phát triển Lúc đó Nhà nước cần phải chuyển vai trò của mình từ một Nhà nước kiểm soát, “cho phép” sang một Nhà nước “hỗ trợ, giám sát” [3, tr.120]

Mặt khác, sự phát triển ở bất cứ quốc gia nào cũng đòi hỏi phải có sự ổn định nhất định Tính đa dạng và tính năng động của kinh tế thị trường cũng như của xã hội đòi hỏi phải có một khung pháp luật đầy đủ, rõ ràng và hiệu quả Nghĩa là phải có một “luật chơi” bình đẳng cho tất cả mọi thành viên xã hội Một mặt, cần tạo ra sự tự do tối đa cho hoạt động kinh tế thị trường và các hoạt động nghề nghiệp; mặt khác, phải bảo đảm tất cả các hoạt động ấy tuân theo một khung khổ pháp lý thống nhất, bình đẳng và hiệu lực chung, tức tạo ra sự tự do cho mỗi người trong sự tôn trọng tự do của tất cả mọi người trong khuôn khổ luật pháp Điều đó có nghĩa là, cần chuyển Nhà nước sang Nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền không chỉ có ý nghĩa kinh tế là giải phóng mọi lực lượng sản xuất, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển và tăng trưởng kinh tế, mà nó còn có ý nghĩa chính trị to lớn ổn định chính trị, ổn định xã hội, nhờ khả năng thích ứng linh hoạt và tự điều chỉnh lẫn nhau của các thành viên xã hội trong một khung khổ pháp luật có hiệu lực

Song việc ban hành các quy định pháp luật tạo “luật chơi” cho kinh tế thị trường là rất cần thiết, nhưng chưa đủ để cho nền kinh tế phát triển Một bằng chứng hiển nhiên là, trong thế giới đang phát triển với gần 200 quốc gia hiện nay có nền kinh tế thị trường, nhưng số các nước vượt qua được ngưỡng

“đang phát triển” trở thành nước phát triển thật ít ỏi Điều kiện để cho một nền kinh tế phát triển, một thị trường vận hành tốt là các quy định pháp luật

Trang 10

phải có hiệu lực, Nhà nước phải hiệu quả, trong sạch, có được sự tin cậy của khu vực kinh doanh nói riêng và của toàn xã hội nói chung Theo đó cần phải

có một bộ máy hành chính Nhà nước có hiệu quả Việc xây dựng bộ máy hành chính Nhà nước là một quá trình lịch sử, có sự tiếp thu của quá khứ, có sự học hỏi từ bên ngoài và có sự sáng tạo mới đòi hỏi phải tốn công sức của nhiều thế hệ Tương tự, xây dựng khung khổ pháp luật là một quá trình lâu dài, không thể có ngay “qua một đêm” “đầy đủ” các quy định pháp luật Vấn đề là nội dung của quy định pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu cả về phía người thực hiện

và người thuộc đối tượng điều tiết của luật; cần bắt đầu từ những quy định đơn giản, quy mô hẹp dần tiến tới những quy định phức tạp tổng hợp hơn với phạm

vi điều chỉnh lớn hơn; bắt đầu từ những vấn đề nhỏ đến những vấn đề lớn hơn; bắt đầu từ những việc dễ đến những việc phức tạp hơn [4, tr.83]

Trong quá trình hoàn thiện khung khổ pháp luật và bộ máy hành chính Nhà nước đó, điều quan trọng là tạo được sự tin cậy của dân và các nhà đầu tư một cách bền vững, tạo ra một sự hợp tác và mối quan hệ tốt đẹp giữa Nhà nước và nhân dân với tư cách là một mối quan hệ xã hội cơ bản bảo đảm cho sự phát triển

2.3 Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trưòng định hướng xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ đặc điểm trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ ở nước ta còn ở trình độ thấp và phát triển không đồng đều giữa các ngành, vùng, các thành phần Đây chính là đòi hỏi của quy luật kinh

tế khách quan

Xuất phát từ yêu cầu của việc giải phóng và khai thác mọi tiềm năng của toàn bộ nền kinh tế, nhằm phát triển nhanh và có hiệu quả nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đồng thời nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội Vì chúng ta phải khai thác mọi tiềm năng của toàn bộ nền kinh tế, kinh tế nhà nước còn yếu, xuất phát thấp, cốt thực hiện thành công sự nghiệp quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do vậy, ngoài kinh tế nhà nước, trong các lực lượng xã hội còn rất nhiều tiềm năng, để huy

Ngày đăng: 22/06/2022, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w