Hiện nay để học sinh làm được một bài văn miêu tả chân thật có cảm xúc là một vấn đề khó đối với giáo viên.. Phương pháp phân tích, tổng hợp ngữ liệu Thông qua hệ thống bài làm của học s
Trang 11.1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Tiểu học, cùng với môn Toán thì môn Tiếng Việt chiếm thời lượng nhiều nhất, gần bằng một nửa tổng thời lượng của các môn học Môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi; thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Ngoài ra, nó còn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Môn Tiếng việt gồm nhiều phân môn khác nhau như Tập đọc, Luyện
từ và câu, Kể chuyện, Chính tả, Tập làm văn Song, khó hơn cả đối với người dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn
Phân môn Tập làm văn là phân môn hội tụ tất cả các kiến thức và kĩ năng của môn Tiếng Việt Dạy Tập làm văn cho học sinh là cả một nghệ thuật Tập làm văn trong chương trình hiện hành đã chú trọng dạy cho học sinh các kĩ năng: kĩ năng phân tích đề, kĩ năng diễn đạt, chọn từ, tạo câu, viết đoạn và liên kết đoạn thành bài, kĩ năng tự kiểm tra và sửa văn bản Đây là một việc khó, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức, có năng lực hướng dẫn và ứng xử linh hoạt Trong chương trình Tiếng Việt cấp Tiểu học thì văn miêu tả là một thể loại văn
có vị trí rất quan trọng Nhiệm vụ cụ thể của phân môn Tập làm văn bao gồm:
- Cung cấp kiến thức và hình thành, phát triển các kĩ năng bộ phận, góp phần hình thành và phát triển năng lực tạo lập, sản sinh ngôn bản
- Cung cấp tri thức về các dạng nghi thức lời nói, rèn kĩ năng nói theo các nghi thức đó
- Rèn kĩ năng nói, viết các ngôn bản thông thường và một số văn bản nghệ thuật như kể chuyện, miêu tả
- Rèn các kĩ năng đặc thù phù hợp với mỗi dạng bài, kiểu bài Tập làm văn (kĩ năng quan sát trong văn tả, kể; kĩ năng xây dựng cốt truyện, chi tiết, tình tiết trong văn kể chuyện )
- Ngoài ra, phân môn Tập làm văn cũng góp phần rèn luyện tư và hình thành nhân cách (lịch sự, khuôn mẫu trong giao tiếp; bồi dưỡng tình cảm đẹp và vốn sống, ) cho học sinh tiểu học
Hiện nay để học sinh làm được một bài văn miêu tả chân thật có cảm xúc là một vấn đề khó đối với giáo viên Trong phân môn Tập làm văn, sách giáo khoa chỉ đưa ra qui trình dạy chung nhất cho mỗi thể loại văn vì vậy để giờ dạy đạt hiệu quả thì chủ yếu vẫn phụ thuộc vào sự sáng tạo của giáo viên Để dạy tốt phân môn Tập làm văn đòi hỏi người giáo viên không chỉ có kiến thức về chuyên môn mà còn phải có kiến thức, có hiểu biết về nhiều lĩnh vực Hầu hết học sinh rất ngại học phân môn Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng Các em gặp khó khăn trong khi làm văn với nhiều lí do như khả năng tìm hiểu
đề chưa tốt, dùng từ không chính xác, vốn từ nghèo nàn, lười quan sát hoặc chưa
Trang 2biết cách quan sát, Nhiều em làm bài sơ sài, không có cảm xúc, nhiều bài văn các em viết như đi vào ngõ cụt không có khả năng để mở rộng vấn đề Việc dạy cho học sinh các kĩ năng tạo lập và sản sinh văn bản trong giờ Tập làm văn ở các lớp 4 còn nhiều hạn chế cần khắc phục
Điều mà tôi quan tâm là làm thế nào để giúp giáo viên dạy lớp 4 dạy tốt thể
loại văn miêu tả Chính vì vậy tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài "Một số giải pháp chỉ đạo giáo viên lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh II, huyện Lang Chánh dạy tốt thể loại văn miêu tả".
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Giúp giáo viên tự tìm tòi, nâng cao tay nghề, đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy Tập làm văn nói chung và trong dạy học sinh viết văn miêu tả nói riêng
- Nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt, đặc biệt là cách viết văn miêu tả của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh II, huyện Lang Chánh
- Nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp chỉ đạo giáo viên lớp 4 trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh II, huyện Lang Chánh dạy tốt thể loại văn miêu tả
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc tài liệu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học, kiến thức về văn miêu tả
1.4.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát tinh thần, thái độ, ý thức học tập phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 4 và trong khi đi dự giờ của các giáo viên khối 4
1.4.3 Phương pháp thống kê
Thống kê qua các bài kiểm tra để đánh giá kiến thức và sự tiến bộ về viết văn miêu tả của học sinh
1.4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp ngữ liệu
Thông qua hệ thống bài làm của học sinh, giáo viên phân tích, tìm ra những nguyên nhân học sinh thường mắc trong khi làm văn miêu tả, từ đó tìm
ra những giải pháp để khắc phục những nguyên nhân đó
Trang 32 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lí luận
Dạy Tiếng Việt nhằm phát triển các kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” cho học sinh Phân môn Tập làm văn là một phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt (phân môn thực hành tổng hợp) Tập làm văn vận dụng tất cả những hiểu biết về nhận thức, kĩ năng của môn Tiếng Việt và đòi hỏi học sinh phải phát huy cao độ trí tuệ và cảm xúc để thực hiện các yêu cầu bài học Dạy văn miêu tả là giúp học sinh sản sinh ra những văn bản có cảm xúc chân thực Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy
Miêu tả là thể loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm cho người nghe, người đọc hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người về vật, cảnh vật, sự việc như nó vốn có trong đời sống Một bài văn miêu tả hay không những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện được trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được miêu tả Bởi vi trong thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gủi gắm suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình Các bài văn miêu tả ở Tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yêu mến, thích thú Vì vậy, qua bài làm mình, các em phải gửi gắm tình yêu thương của mình với những gì mình miêu tả.[1]
Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng
về đối tượng mà người viết cảm nhận được thông qua các giác quan trực tiếp của mình Văn miêu tả là thể loại văn mang tính chất nghệ thuật, tính sáng tạo, tính cá thể của người viết Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật, giàu sức gợi cảm, gợi tả và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ.[1] Chúng ta đã biết, tâm lí của học sinh Tiểu học nói chung và của học sinh lớp 4, lớp 5 nói riêng là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ Vì vậy, cần hình thành và rèn luyện cho các em cách quan sát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau Từ đó, các em có cách nghĩ, cách cảm sâu sắc khi miêu tả Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu
Mục tiêu của việc dạy học Tập làm văn ở lớp bốn là: Cung cấp, hướng dẫn cho học sinh biết lập dàn ý cho bài văn, viết được bài văn theo dàn ý đã lập có
đủ 3 phần, lời văn trôi chảy, câu văn bước đầu có cảm xúc; biết nói, viết câu có dùng phép so sánh, nhân hóa; biết kiểm tra, rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt, cách trình bày.[2]
Để bài văn miêu tả giàu cảm xúc và có “hồn”, có “nét riêng” thì giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên về thế giới các sự vật, một tấm lòng nhân hậu và luôn hướng tới cái thiện
Ngoài ra chúng ta cũng cần biết rằng văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm
mĩ Những nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú trong khi miêu tả thể
Trang 4hiện nét riêng biệt của mỗi người Như vậy văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, sáng tạo của mỗi người nhưng cũng không có nghĩa là cho phép người viết
“bịa” một cách tùy ý mà phải tả chân thật, tránh giả dối, sáo rỗng
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Cách đây hơn một năm, trường Tiểu học thị trấn Lang Chánh II thuộc xã Quang Hiến (nay sáp nhập xã Quang Hiến vào Thị Trấn), học sinh có tới hơn 90% số các em là con dân tộc thiểu số, nhiều em có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến vốn từ trong giao tiếp, khả năng diễn đạt hạn chế và các em còn rụt rè khi muốn trao đổi một vấn đề Nhiều em chưa được gia đình quan tâm đến việc học tập Vì vậy, việc dạy của thầy cô có tác động rất lớn đến kết quả học tập của các em Tôi đã tiến hành trao đổi, dự giờ giáo viên, tiến hành khảo sát học sinh nhằm tìm hiểu thực trạng dạy học thể loại văn miêu
tả Từ đó xác định nguyên nhân của thực trạng dạy và học thể loại văn miêu tả
2.2.1 Thực trạng
* Giáo viên:
Trong năm học 2021- 2022, nhà trường có 03 giáo viên dạy khối 4, tay nghề chuyên môn khá vững vàng Giáo viên đều nắm vững quy trình chung khi dạy Tập làm văn đặc biệt là văn miêu tả
Tuy nhiên, mỗi lần dự giờ để góp ý, giáo viên không muốn mình dạy tiết Tập làm văn, họ ngại và tôi còn nhận thấy giờ dạy Tập làm văn thường diễn ra nặng nề, chưa phát huy tốt khả năng sáng tạo của học sinh Giáo viên đều cho phân môn Tập làm văn là phân môn khó dạy Trong giờ học, giáo viên chưa gây hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên chưa có sự chuẩn bị kĩ các nội dung dạy học Tập làm văn trước khi lên lớp Có nhiều giáo viên, vốn từ hạn chế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc dạy Tập làm văn Trong quá trình dạy học, giáo viên chưa khắc sâu kiến thức ở mỗi thể loại văn, chưa giúp học sinh hiểu được đặc trưng của bài văn miêu tả Một phần hạn chế lớn của giáo viên đó là: chưa rèn cho học sinh kĩ năng phân tích đề, chưa chú ý rèn cho học sinh viết được những câu văn gợi tả, gợi cảm và những em hoàn thành bài chậm giáo viên chưa
có đủ kiên trì để hiểu và lắng nghe học sinh nêu kết quả Chính đó cũng là lí do
để học sinh bị ngày càng ngại học phân môn Tập làm văn
* Học sinh:
Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh khối 4 vào thời điểm cuối học kì 1 năm học 2021 - 2022 với đề bài như sau:
Đề bài: Em hãy tả lại chiếc cặp của em
Kết quả làm bài của học sinh thu được
Lớp Tổng số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Qua kết quả khảo sát trên, tôi nhận thấy số học sinh đạt mức Chưa hoàn thành còn cao, nhiều học sinh còn chưa phân biệt được thế nào là văn miêu tả, bài làm sắp xếp ý lộn xộn, bài làm còn mang nặng tính kể, liệt kê, diễn đạt vụng về, lủng củng,
Trang 5một số học sinh còn phụ thuộc khá nhiều vào văn mẫu, vì vậy cách cảm, cách nghĩ của học sinh không phong phú mà đi theo lối mòn khuôn sáo, tẻ nhạt Học sinh ở trường tôi chủ yếu là con em gia đình nông nghiệp, sách vở tham khảo không nhiều, trí tưởng tượng, khả năng quan sát, vốn từ của học sinh còn hạn chế Khi học văn miêu tả các
em thường chán học, không hình dung được sẽ tả đối tượng như thế nào tả cái gì trước, có những học sinh dù đã nắm được cách làm bài nhưng chỉ viết đươc câu văn ở mức độ đơn giản nhất không có tính gợi tả, gợi cảm Cách dùng từ để diễn tả suy nghĩ của bản thân còn bị hạn chế và thậm chí còn không có Thông thường các em thường bắt chước theo cô, theo bạn Vì thế mà kết quả bài văn miêu tả thường thấp Bài văn ít cảm xúc, nghèo hình ảnh Đặc biệt các em chưa biết dùng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa, chưa biết kết hợp, vận dụng kiến thức phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu vào viết văn Nhiều học sinh bỏ qua khâu đọc đề và xác định yêu cầu
đề nên thường tả không đúng trọng tâm, bài làm thiếu nét riêng
* Nguyên nhân của thực trạng trên
Theo tôi thực trạng của việc dạy và học phần văn miêu tả lớp 4 xuất phát từ những nguyên nhân sau:
+ Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài + Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả
+ Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu
tả khi quan sát
+ Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch lạc, chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnh vật, về một con người cụ thể nào đó
+ Sự kiên trì của giáo viên còn thiếu để lắng nghe những bài văn chưa đạt yêu cầu, việc sửa câu từ cho học sinh còn hời hợt vì số lượng bài Chưa hoàn thành còn nhiều
Đứng trước thực trạng dạy và học như trên yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mới phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả một cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn Để đạt được mục tiêu trên thì cần người giáo viên phải tiến hành giải quyết các vấn đề chính sau:
+ Giúp học sinh nắm vững đặc điểm cơ bản của văn miêu tả
+ Giúp học sinh rèn kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả
+ Cung cấp, khuyến khích học sinh tích lũy vốn từ ngữ khi học, đọc, viết các bài văn, thơ về tả cảnh, tả người Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh,
về người
+ Hướng dẫn học sinh dùng từ, đặt câu, biết dùng các hình ảnh có sử dụng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, viết đoạn và hoàn chỉnh bài văn Chấm và chữa bài cho học sinh phải chu đáo, cẩn thận
+ Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một cách nhịp nhàng và linh động thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều
+ Có kiểm tra, đánh giá việc dạy học thể loại văn miêu tả
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Giải pháp 1: Giúp học sinh nắm vững đặc điểm cơ bản của văn miêu tả.
Trang 6Giáo viên cần giúp học sinh hiểu được văn miêu tả gồm những chi tiết lôi cuốn với năm giác quan: thị giác, vị giác, xúc giác, khứu giác và thính giác là một thể loại văn mà trong đó người viết dùng từ ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình ảnh của đối tượng miêu tả với những đặc điểm nổi bật cả về hình thức bên ngoài lẫn những phẩm chất bên trong nhằm giúp người tiếp nhận có những hiểu biết và rung cảm về đối tượng đó
Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng
về đối tượng mà người viết thu lượm được thông qua các giác quan của mình Bài văn miêu tả là thể loại văn mang tính chất nghệ thuật, tính sáng tạo, tính cá thể của người viết Từ ngữ trong văn miêu tả mang tính nghệ thuật, giàu sức gợi
tả, gợi cảm và là từ ngữ của những biện pháp tu từ Tả là mô phỏng, tô vẽ lại là
so sánh ví von là nhân hóa bằng hình ảnh chứ không phải là kể lể
Chỉ đạo giáo viên dạy học văn miêu tả phải tuân theo một quy trình: Dạy học sinh quan sát, tìm ý, lập dàn bài, viết bài và trả bài Trong chương trình và sách giáo khoa không có tiết dạy riêng về quan sát, lập dàn bài, làm miệng mà những nội dung này thường được lồng vào trong tiết luyện tập Để dạy tốt loại bài này thì quy trình trên được đặt vào hệ thống chung, giáo viên cần tránh sự nóng vội, tham lam, nhồi nhét Làm tốt những khâu trên sẽ góp phần giúp học sinh nắm chắc đặc điểm cơ bản và hình thành các kĩ năng làm bài văn miêu tả
Giải pháp 2: Chỉ đạo giáo viên giúp học sinh rèn kĩ năng tìm hiểu đề văn miêu tả.
Để học sinh viết bài văn miêu tả có chất lượng thì kĩ năng đầu tiên cần rèn cho học sinh đó là tìm hiểu đề Tìm hiểu đề là kĩ năng quan trọng mà học sinh phải tiến hành trong quá trình làm bài Trong quá trình tìm hiểu đề văn miêu tả, giáo viên cần giúp học sinh xác định rõ đối tượng, mục đích miêu tả, trọng tâm miêu tả và đối tượng tiếp nhận (người đọc) bài văn miêu tả
Vậy rèn kĩ năng tìm hiểu đề cụ thể là phải giúp học sinh xác định được:
* Đối tượng miêu tả
Xác định được đối tượng miêu tả nghĩa là học sinh phải trả lời được câu hỏi
“Bài văn yêu cầu miêu tả cái gì, đồ vật gì, cây gì, con gì?” Từ đó học sinh sẽ xác định được chính xác kiểu bài miêu tả Có những đề bài quy định cụ thể đối tượng miêu tả
Ví dụ: Hãy tả lại cái áo của em
Nhưng cũng có nhiều đề bài chú ý tạo cho học sinh nhiều khả năng lựa chọn đối tượng miêu tả
Ví dụ: Tả lại một đồ chơi mà em yêu thích nhất.[3]
Giáo viên cần hướng học sinh lựa chọn những đối tượng miêu tả đã được quan sát kĩ, có tình cảm, ấn tượng sâu sắc
* Mục đích miêu tả:
Giáo viên khi tổ chức hướng dẫn học sinh xác định mục đích miêu tả, cần giúp học sinh trả lời được câu hỏi “Miêu tả để làm gì?” tức là: Miêu tả nhằm mang tới cho người đọc thông tin gì? Miêu tả nhằm thể hiện thái độ, tình cảm
Trang 7như thế nào? Miêu tả nhằm thể hiện mong muốn gì của người viết đối với người đọc?
Ví dụ: Yêu cầu học sinh xác định mục đích miêu tả ở 2 đề bài sau:
Đề bài 1: Em hãy tả lại cô giáo đã dạy em mà để lại cho em nhiều ấn tượng nhất.
Đề bài 2: Ngày đầu tiên đến trường còn rất nhiều bỡ ngỡ, người đã dắt tay
em vào lớp và dạy bảo em chữ cái đầu tiên đó là cô giáo lớp 1 của em Em hãy
tả lại cô giáo lớp 1 yêu quý của em
Cùng một đối tượng miêu tả “cô giáo” nhưng hai đề bài trên đặt ra hai mục đích miêu tả khác nhau
Đề bài 1: Học sinh tả cô giáo đã để lại cho em nhiều ấn tượng, có thể là cô
giáo lớp 1, lớp 2, với mục đích giới thiệu về cô giáo có nhiều việc làm tốt đối với học sinh, có rất nhiều việc làm của cô cho em vui, yêu quý
Đề bài 2: Mục đích là tả lại cô giáo đã dạy em ngày lớp 1, những việc làm
của cô ngay từ buổi đầu gặp đã để lại nhiều ấn tượng cho em, sự rụt rè, bỡ ngỡ,
e ấp của học trò mới đã được cô bên cạnh bảo ban, che chở
* Xác định yêu cầu về trọng tâm miêu tả trong quá trình tìm hiểu đề.
Xác định trọng tâm miêu tả gắn liền với xác định phương hướng làm bài, giúp người làm bài phác họa được những nét chính của đối tượng miêu tả, không sa vào liệt kê, kể lể Có những đề bài rất dễ xác định trọng tâm miêu tả
Ví dụ: Hãy tả lại hình dáng của con mèo nhà em.
Học sinh sẽ xác định được ngay trọng tâm miêu tả là tập trung vào “hình dáng” con mèo Nhưng nhiều đề bài, trọng tâm miêu tả không thể hiện bằng những yếu tố ngôn ngữ cụ thể
Ví dụ: Hãy tả lại một đồ dùng học tập của em [3]
Hoặc: Hãy tả một cây có bóng mát
Trọng tâm miêu tả ở các đề bài này thường là những đặc điểm nổi bật giúp khắc họa đối tượng một cách rõ nét hoặc có thể là những đặc điểm mang dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, gây cho người viết nhiều ấn tượng, nhiều cảm xúc nhất Xác định trọng tâm của bài văn miêu tả là một vấn đề tương đối rộng, trừu tượng Đối với học sinh Tiểu học, do vốn hiểu biết, vốn sống còn hạn chế nên nếu đề bài không nêu rõ trọng tâm cần tả, chắc chắn học sinh sẽ rất lúng túng khi phải xác định trọng tâm trong bài viết của mình Vậy giáo viên cần có những câu hỏi giúp các em xác định đúng trọng tâm miêu tả “Miêu tả những gì? Miêu tả đến đâu? Những điểm nào là quan trọng cần phải tập trung tả, những điểm nào chỉ cần tả sơ qua?”
Ví dụ: Đề bài: Em hãy tả lại một cây ăn quả [3].
Giáo viên có thể xây dựng hệ thống câu hỏi giúp học sinh xác định được trọng tâm miêu tả
- Em biết những cây ăn quả nào?
- Cây ăn quả em chọn tả có đặc điểm nào khác với cây bóng mát, cây hoa,
và các loại cây khác
- Em cần tập trung tả điểm nào của cây đó? Khi trả lời các câu hỏi, học sinh
sẽ xác định rõ đối tượng miêu tả (cây ăn quả), xác định rõ đặc điểm cần tập trung miêu tả trong bài viết
- Đặc điểm giúp phân biệt giữa cây ăn quả với các loại cây khác
* Xác định đối tượng tiếp nhận và đối tượng miêu tả của bài văn miêu tả.
Đối tượng tiếp nhận còn gọi là đối tượng giao tiếp là một nhân tố để lại dấu
ấn đậm nét trong bài văn Nhìn chung các đề bài văn dường như ít đề cập đến đối tượng tiếp nhận Vì thế học sinh đều xác nhận, viết bài văn cho thầy (cô) giáo của mình Khi gặp những đề bài mà đối tượng tiếp nhận khác với những đề
Trang 8bài các em thường gặp, chúng ta cần hướng dẫn học sinh xác định đối tượng giao tiếp như thế nào?
Tìm hiểu đề là khâu đầu tiên vô cùng quan trọng mà học sinh cần phải rèn trong quá trình viết bài văn miêu tả Để giúp học sinh tìm hiểu đề cần yêu cầu các em trả lời các câu hỏi?
- Đề bài yêu cầu viết theo kiểu bài văn miêu tả nào? (tả đồ vật, tả cây cối, tả người
- Đối tượng miêu tả là gì?
- Mục đích viết bài văn miêu tả để làm gì?
- Trọng tâm đề bài ở chỗ nào?
- Bài viết tập trung miêu tả những đặc điểm chủ yếu nào của đối tượng, bài viết hướng tới người đọc là ai, từ ngữ xưng hô sẽ được sử dụng trong bài viết là gì?
Việc thực hiện các yêu cầu trên trong quá trình tìm hiểu đề sẽ giúp học sinh
có hiểu biết đầy đủ về văn miêu tả từ đó học sinh sẽ có hứng thú và phát huy cao nhất khả năng sáng tạo trong bài văn
- Cách thực hiện: Giúp học sinh phân tích đề bằng cách:
+ Gạch 1 gạch dưới các từ xác định thể loại bài văn.
+ Gạch 2 gạch dưới từ xác định đối tượng miêu tả.
- VD: Đề bài: Hãy miêu tả ngoại hình của một con vật mà em yêu thích
Với đề bài này cần chú ý cho học sinh:
+ Đề bài thuộc thể loại văn miêu tả con vật
+ Đề bài chỉ yêu cầu miêu tả ngoại hình của một con vật
+ Đặc biệt chú ý chỉ miêu tả một con vật để tránh nhầm lẫn giữa một con
vật và một đàn con vật (Miêu tả một con vịt chứ không phải cả đàn vịt)
+ Đối tượng tiếp nhận không chỉ là thầy cô mà có thể là bạn, cha mẹ, nên học sinh sẽ có những cách xưng hô cho tình cảm và cảm xúc
Giải pháp 3: Chỉ đạo giáo viên làm tốt việc giúp học sinh rèn kĩ năng quan sát, làm giàu vốn từ ngữ, rèn cho học sinh viết câu văn gợi cảm, gợi tả.
* Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý.
Để viết được một bài văn hay, thực sự có hồn, vốn sống là rất quan trọng Một bài văn có sử dụng ngôn ngữ hoa mỹ đến mấy mà thiếu thực tế cũng chỉ là sáo rỗng, khoa trương Để giúp học sinh có vốn sống phong phú, chúng ta phải thường xuyên bồi dưỡng khả năng quan sát cho các em Khi hướng dẫn học sinh quan sát trước hết chúng ta cần giúp các em xác định rõ mục đích quan sát Quan sát cũng cần kết hợp với trí tưởng tượng thì bài văn mới được mở rộng, nâng cao và có chiều sâu Qua quan sát, học sinh mới tìm được những nét riêng, nét tiêu biểu của sự vật được miêu tả
Khi hướng dẫn học sinh quan sát, không chỉ hướng dẫn học sinh quan sát
sự vật bằng mắt mà yêu cầu các em sử dụng kết hợp nhiều giác quan để quan sát: mắt để nhìn ngắm sự vật, tai để lắng nghe mọi âm thanh, mũi để ngửi phân biệt mùi, lưỡi để nếm vị, tay để sờ và cảm nhận sự vật Thông qua việc cảm nhận bằng các giác quan, các em mới có được cảm xúc, tình cảm và giúp cho viêc diễn đạt ý chính xác, đúng bản chất của sự vật
Ví dụ: Khi tả cái áo, cần hướng dẫn học sinh không chỉ quan sát để thấy
màu sắc, của cái cặp mà còn phải sờ để thấy sự mềm mượt của áo, phải nghe xem khi kéo khóa hoặc mở khuy âm thanh như thế nào, phải ngửi xem chiếc áo mới có mùi như thế nào? Rồi ghi lại những điều quan sát được và trình bày trước lớp Việc quan sát, tìm ý phải đi liền với nhau, bồi dưỡng kỹ năng quan
Trang 9sát, sẽ giúp học sinh phát triển được trí tưởng tượng, óc sáng tạo, khả năng tư duy nhạy bén
Nếu không có điều kiện để quan sát trực tiếp thì giáo viên cần khơi gợi để các em nhớ lại những ấn tượng, cảm xúc, nhận xét mà các em đã quan sát được trước đây hoặc xem tranh ảnh cũng là một cách quan sát Để giúp các em quan sát được tốt cần có nhiều giải pháp cụ thể, có thể theo hệ thống câu hỏi thích hợp, rèn luyện thành nếp việc ghi chép các nhận xét ấn tượng, cảm xúc của bản thân Thầy đóng vai trò hướng dẫn, trò tư duy và tự lực làm việc
Cần hướng dẫn học sinh quan sát tổng thể đối tượng, chú ý ở cả trạng thái động và tĩnh, quan sát bằng tất cả các giác quan, thính giác, thị giác, xúc giác, Nếu là tả cảnh cần quan sát tỉ mỉ từng bộ phận của cảnh theo trình tự hợp lí Quan sát từ ngoài vào trong, từ bộ phận chủ yếu đến bộ phận thứ yếu, hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian (sáng, trưa, chiều) Nếu tả theo trình tự không gian: Tức là quan sát từ xa đến gần, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, Trình tự này thường được vận dụng khi miêu tả loài vật, cảnh vật, cây cối,
Ví dụ: Cây hồi thẳng cao, tròn xoe, cành hồi giòn, dễ gãy hơn cả cành khế.
Quả hồi phơi mình xòe trên mặt lá đầu cành [5]
Tác giả đã quan sát kĩ và tả rất tinh tế về cây hồi theo trình tự từ dưới lên trên và dùng cách nói nhân hóa “phơi mình”
- Quan sát từ ngoài vào trong
Ví dụ: Chiếc cặp có dạng hình chữ nhật, bên ngoài được may bằng một lớp
nilon màu xanh dương, mềm nhưng không thấm nước Quai cặp mềm và vừa với tay xách của em, ngoài ra còn có quai để đeo ở vai cho tiện Mở cặp ra, một mùi vải lụa mới mềm mượt, thơm là lạ Cặp có nhiều ngăn, mỗi ngăn đều có những tác dụng riêng của nó
- Quan sát từ xa đến gần
Ví dụ: Xa xa từ vệt rừng đen, chim cất cánh tua tủa bay lên, giống hệt đàn
kiến từ trong lòng đất chui ra, bò li ti đen ngòm trên da trời Càng đến gần những đàn chim bay đen kín trời
- Quan sát theo diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, từ mùa này sang mùa khác Cái gì có trước thì miêu tả trước, cái gì xảy ra sau thì miêu tả sau Trình tự này thường được vận dụng trong bài văn tả cảnh vật, hiện tượng thiên nhiên,
- Quan sát để tả theo trình tự tâm lí
Tức là thấy đặc điểm gì nổi bật, cuốn hút gây cảm xúc mạnh cho bản thân thì tập trung quan sát trước, tả trước, các bộ phận khác quan sát sau, miêu tả sau Trình tự này thường được áp dụng khi tả đồ vật, cây cối, khi tả chỉ cần tả những đặc điểm nào nổi bật, không nhất thiết phải tả đầy đủ như nhau:
Ví dụ: Sầu riêng là loại trái quý của Miền Nam, hương vị của nó hết sức
đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa Hoa nở vào cuối năm [3]
Khi quan sát cần phân biệt những đặc điểm riêng so với đối tượng khác cùng loại Trong quá trình hướng dẫn học sinh quan sát, giáo viên cần phải khéo léo để các em huy động vốn sống, khả năng tưởng tượng và cảm xúc để giúp cho việc quan sát của học sinh được tốt hơn
Trang 10Như vậy giáo viên cần giúp các em hiểu được muốn làm bài văn miêu tả trước hết các em phải biết cần có cái gì để viết, để tả Vì vậy phải quan sát để tìm ra cái mới, cái riêng về hương vị, màu sắc, tính chất của sự vật
Ngoài ra, trong quan sát, giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát sự vật
ở nhiều thời điểm, hoàn cảnh, trạng thái, hoạt động khác nhau
Ví dụ: Khi tả con chó, ta cần quan sát con mèo ở các thời điểm, hoạt động: ngủ,
ăn, khi nó sủa để thấy được sự khác nhau từ ánh mắt, bước đi, cách vẫy đuôi
Hình 1: Học sinh lớp 4B trường Tiểu học Thị Trấn Lang Chánh II đang quan sát
cây che bóng mát ở sân trường
* Làm giàu vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểu biết cho học sinh
Muốn có một bài văn hay, có “hồn”, có chất văn thì các em phải có vốn từ ngữ phong phú và phái biết cách lựa chọn từ ngữ để miêu tả cho phù hợp Chính
vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy Tập đọc, Luyện
từ và câu và cả trong khi dạy các môn học khác hay trong sinh hoạt ngoài giờ lên lớp Giáo viên cần hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo các chủ đề, chủ điểm, khi có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay để khi làm văn
có thể sử dụng một cách dễ dàng
Muốn bồi dưỡng tình cảm trong sáng và cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết cho học sinh, cần dạy tốt các phân môn của môn TiếngViệt Tập đọc rèn khả năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn khả năng viết cho học sinh còn kể chuyện vừa rèn kĩ năng nói vừa bồi dưỡng tình cảm như giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, bồi duỡng chân, thiện, mĩ cho học sinh Mặt khác học sinh còn học được cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện, mỗi bài Tập đọc Như vậy các phân môn Tiếng Việt tuy mỗi phân môn
có nội dung và phương pháp riêng nhưng chúng luôn bổ sung cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học phân môn khác và phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp
Biện pháp đầu tiên giúp học sinh tích luỹ vốn từ ngữ là thông qua các bài văn hay của các nhà văn
Ví dụ: Bài: Những cánh bướm bên bờ sông [6]