VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại khu thí nghiệm của Bộ môn Cây Công nghiệp và Cây thuốc thuộc Khoa Nông Học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, với nền đất phù sa cổ.
- Thành phần lý hóa tính của đất trước thí nghiệm được trình bày tại bảng 3.1 như sau:
Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất trước khi tiến hành nghiệm
Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị pH % 6,30
THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2019 đến tháng 12/2019.
ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
* Giống tham gia thí nghiệm:
Các dòng, giống lạc: Gồm 10 dòng, giống lạc được cung cấp bởi bộ môn Cây công nghiệp và cây thuốc
STT Ký hiệu dòng, giống
1 L27 Giống do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ chọn tạo và chọn lọc
2 Sen Nghệ An Giống bản địa của Nghệ An
3 Eo Nghệ An Giống bản địa của Nghệ An
4 D20 Dòng do Bộ môn Cây công nghiệp tuyển chọn
5 Đỏ Sơn La Giống bản địa Sơn La
6 D22 Dòng do Bộ môn Cây Công Nghiệp chọn tạo
7 Đỏ Bắc Giang Giống bản địa của Bắc Giang
8 L12 Giống do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ chọn tạo và chọn lọc
9 D18 Dòng do Bộ môn Cây Công Nghiệp chọn tạo
10 L14 Giống do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ chọn tạo và chọn lọc
Giống lạc L27, được phát triển từ tổ hợp lai L18 x L16 và công nhận bởi Bộ NN&PTNT theo quyết định số 142/QĐ-TT-CCN vào ngày 22 tháng 4 năm 2016, là một lựa chọn lý tưởng cho các tỉnh phía Bắc Giống này có thời gian sinh trưởng là 95 ngày trong vụ đông và 125 ngày trong vụ xuân, thích nghi với nhiều loại đất và có thể trồng cả vụ xuân và vụ thu đông L27 có khả năng chống chịu tốt, chịu thâm canh, chống đổ hiệu quả và có mức nhiễm bệnh đốm lá trung bình, đặc biệt kháng bệnh héo xanh vi khuẩn tốt hơn giống L14 Năng suất của giống này đạt từ 32 đến 45,4 tạ/ha, tùy thuộc vào từng vụ.
- Phân lân Lâm Thao (Supe lân 16% P2O5 )
- Phân vi sinh Sông Gianh: 1,5 tấn/ha
- Bột từ vỏ trứng được cung cấp bởi công ty Green Techno 21 của Nhật Bản Các thành phần trong bột vỏ trứng được trình bày tại bảng 3.2
Bảng 3.2 Các thành phần trong bột vỏ trứng
Thành phần chính Hàm lượng amino acid có trong 100 g protein Độ ẩm 1,57% Fe 0,017% Arginine 151 mg Alanine 96 mg
N 0,74% Cu 0,0002% Lysine 68 mg Glysin 152 mg
P2O5 0,26% Zn 0,0001% Histidine 96 mg Burorin 118 mg
Tyrosine 52 mg Serine 111 mg Mg-citrate 0,57% Cr ≥ 0,001% Leusine 109 mg Threonine 97 mg Alkalinity 50,18% Ti ≥ 0,01% Isoleusine 62 mg Aspartate 157 mg Mn-citrate 0,01% Protein 2,1% Methionine 42 mg Tryptophan 46 mg
0,002% pH 10,1 Valine 124 mg Cystein 60 mg
Nguồn: Số liệu được phân tích từ công ty Green Techno 21.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng, giống lạc trong điều kiện vụ xuân 2019 tại Gia Lâm- Hà Nội
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của bột vỏ trứng đến sự sinh trưởng và năng suất của giống lạc L27 trong vụ thu đông năm 2019 tại Gia Lâm, Hà Nội Kết quả cho thấy bột vỏ trứng có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của cây lạc, từ đó nâng cao năng suất thu hoạch Việc sử dụng bột vỏ trứng không chỉ cải thiện chất lượng đất mà còn góp phần tăng cường sức khỏe cây trồng, mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp bền vững.
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột từ vỏ trứng đối với sự sinh trưởng và năng suất của giống lạc L27 trong điều kiện vụ thu đông Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng giúp cải thiện kỹ thuật canh tác lạc, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trong mùa vụ này.
2019 tại Gia Lâm- Hà Nội.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng giống lạc trong vụ xuân 2019 tại Gia Lâm, Hà Nội, được thực hiện theo phương pháp thí nghiệm ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần nhắc lại, sử dụng giống lạc L27 làm giống đối chứng, với diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10 m².
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân 2019 tại khu đất thí nghiệm Khoa Nông Học – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Dải bảo vệ NLI NLII NLIII Đỏ Sơn La L27 (Đ/C) L12
L14 Đỏ Bắc Giang Đỏ Sơn La
Sen Nghệ An Đỏ Sơn La L27 (Đ/C) Đỏ Bắc Giang Sen Nghệ An L 4
D22 Eo Nghệ An Đỏ Bắc Giang
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bột từ vỏ trứng đến sự sinh trưởng và năng suất của giống lạc L27 trong vụ thu đông năm 2019 tại Gia Lâm, Hà Nội Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với ba lần nhắc lại, sử dụng 500 kg vôi bột từ đá làm đối chứng Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 10m², với nền phân bón gồm 30 kg N, 90 kg P2O5, 60 kg K2O và 1000 kg vi sinh Sông Gianh cho mỗi hecta.
Các công thức trong thí nghiệm
CT1: bón 500 kg/ha vôi bột thường (Đ/C)
CT3: Bón 100 kg/ha bột vỏ trứng
CT4: Bón 200 kg/ha bột vỏ trứng
CT5: Bón 300 kg/ha bột vỏ trứng
CT6: Bón 400 kg/ha bột vỏ trứng
CT7: Bón 500 kg/ha bột vỏ trứng
CT8: Bón 600 kg/ha bột vỏ trứng
CT9: Bón 700 kg/ha bột vỏ trứng
CT10: Bón 800 kg/ha bột vỏ trứng
CT11: Bón 900 kg/ha bột vỏ trứng
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ xuân 2019 tại khu đất thí nghiệm Khoa Nông Học – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Dải bảo vệ NLI NLII NLIII
Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến sinh trưởng và năng suất của giống lạc L27 trong vụ thu đông 2019 tại Gia Lâm Kết quả cho thấy việc áp dụng bột vỏ trứng đúng cách không chỉ cải thiện sự phát triển của cây lạc mà còn nâng cao năng suất thu hoạch Nghiên cứu cung cấp những thông tin quý báu cho nông dân trong việc tối ưu hóa quy trình bón phân, từ đó đạt được hiệu quả cao hơn trong sản xuất nông nghiệp.
Hà Nội Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ô chính ô phụ (Split plot) với
Liều lượng bột vỏ trứng là nhân tố chính được bố trí trong ô nhỏ, trong khi thời điểm bón là nhân tố phụ được bố trí trong ô lớn Mỗi ô nhỏ có diện tích 10m² Nền phân bón cho 1 ha bao gồm 30 kg N, 90 kg P2O5, 60 kg K2O và 1000 kg vi sinh Sông Gianh.
Nhân tố 1 là liều lượng bột từ vỏ trứng bao gồm
P1: Bón 500 kg/ha vôi bột thường
P2: Bón 200 kg/ha bột vỏ trứng
P3: Bón 300 kg/ha bột vỏ trứng
P4: Bón 400 kg/ha bột vỏ trứng
P5: Bón 500 kg/ha bột vỏ trứng
Nhân tố 2 là thời điểm bón bao gồm
T1: Bón trước khi gieo hạt
T2 : Bón vào giai đoạn ra hoa rộ
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ thu đông 2019 tại khu đất thí nghiệm Khoa Nông Học – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
QUY TRÌNH KỸ THUẬT ÁP DỤNG
3.6.1 Thời vụ và mật độ
- Thời vụ: Thí nghiệm 1 gieo vào tháng 3 năm 2019
Thí nghiệm 2,3 gieo vào tháng 9 năm 2019
- Mật độ: Thí nghiệm 1 mật độ 30 cây/m 2
Thí nghiệm 2,3 mật độ 35 cây/m 2
- Thí nghiệm 1: 30 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O + 500 kg vôi bột làm từ đá nung + 1000 kg phân vi sinh Sông Gianh cho 1 ha
- Thí nghiệm 2: 30 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O + lượng vôi bột và bột vỏ trứng được thiết kế ở trên + 1000 kg phân vi sinh Sông Gianh cho 1 ha
- Thí nghiệm 3: 30 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O + lượng vôi bột và bột vỏ trứng được thiết kế ở trên + 1000 kg phân vi sinh Sông Gianh cho 1 ha
Thí nghiệm 1: Bón lót toàn bộ phân lân, phân vi sinh Sông Gianh và 50%
Bón phân cho cây cần tuân theo hai giai đoạn chính: Giai đoạn cây 3 lá thật, sử dụng 25% N và 25% K2O, và giai đoạn cây ra hoa, đâm tia, với 25% N, 25% K2O cùng 100% lượng vôi bột Ngoài ra, trong thí nghiệm 2, cần bón lót toàn bộ phân lân, phân vi sinh Sông Gianh và 50% lượng phân bón cần thiết.
N, 50% K20 Bón thúc vào 2 giai đoạn: Giai đoạn cây 3 lá thật với lượng 25% N, 25% K20 Giai đoạn cây ra hoa đâm tia 25% N, 25% K2O và 100% lượng vôi bột theo như đã thiết kế
Thí nghiệm 3: Bón lót toàn bộ phân lân, phân vi sinh Sông Gianh và 50%
Bón vôi bột trước khi trồng cần thực hiện 100% lượng vôi bột theo thiết kế Trong quá trình bón thúc, chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn cây có 3 lá thật bón 25% N và 25% K2O; giai đoạn cây ra hoa đâm tia bón 25% N, 25% K2O và 100% lượng vôi bột theo thiết kế cho giai đoạn này.
3.6.2.2 Chăm sóc và vun xới
- Lần 1: Khi cây có 2 – 3 lá thật, xới nhẹ làm cho đất tơi xốp, diệt cỏ dại, cung cấp O2 cho vi khuẩn nốt sần
- Lần 2: Trước khi lạc ra hoa rộ tiến hành xới xáo, vun cao đến cặp cành cấp 1, tạo điều kiện cọ xát cơ giới cho lạc đâm tia
- Phòng trừ sâu bệnh: Đối với sâu, bệnh: Khi sâu xuất hiện cần phun thuốc kịp thời.
CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI
3.7.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm
3.7.1.1 Thời gian qua các giai đoạn
- Thời gian gieo đến mọc mầm (ngày): Σnixi
Thời gian mọc = —— Σn trong đó: ni: là số cây mọc ngày thứ i xi: là số ngày theo dõi thứ i Σn: tổng số cây mọc
- Thời gian từ gieo đến ra hoa: từ gieo đến khi có 50% số cây ra hoa (ngày)
Thời gian sinh trưởng của cây từ khi mọc đến khi thu hoạch dao động từ 110 đến 130 ngày Khi đạt 80% số quả chín trên mỗi cây, giống cây đã sẵn sàng để thu hoạch Để kiểm tra độ chín, cần nhổ thử 5 cây từ mỗi ô, đếm tổng số quả chắc và tổng số quả già, sau đó tính tỷ lệ phần trăm.
3.7.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng
- Chiều cao cây cuối cùng và chiều dài cành cấp1thứ nhất (cm):
+ Mỗi lần nhắc lại theo dõi 5 cây đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn (bỏ 2 cây đầu rạch, theo dõi 5 cây kế tiếp)
- Đếm tổng số lá trên thân chính: Mỗi lần nhắc lại theo dõi 5 cây đã đánh dấu trước Đếm số lá trên thân chính qua 3 thời kỳ:
+ Thời kỳ cây con (sau khi nảy mầm 20 ngày)
+ Thời kỳ ra hoa (sau khi bắt đầu nở hoa 10 ngày)
Để đếm tổng số cành cấp 1 trên cây, bạn cần theo dõi 5 cây đã được đánh dấu trước Sau đó, tính tổng số cành cấp 1 của cả 5 cây và lấy giá trị trung bình từ kết quả này.
- Diện tích lá: Đo 3 cây/1 ô, cắt toàn bộ lá, đo theo phương pháp cân trực tiếp, tùy thuộc vào từng thí nghiệm xác định ở các thời kỳ:
+ Thời kỳ bắt đầu ra hoa
+ Thời kỳ ra hoa rộ
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 25 ngày
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 45 ngày
- Chỉ số diện tích lá:
LAI (m 2 lá/m 2 đất) = Diện tích lá trung bình 1 cây (m 2 ) x mật độ (cây/m 2 )
- Khả năng tích chất khô: Theo dõi 3 cây/1 ô, sấy và cân khối lượng, tùy thuộc vào từng thí nghiệm xác định ở các thời kỳ:
+ Thời kỳ bắt đầu ra hoa
+ Thời kỳ ra hoa rộ
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 25 ngày
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 45 ngày
3.7.3 Khả năng hình thành nốt sần
Trước khi lấy mẫu, cần tưới nước ẩm 15 phút và nhổ nhẹ nhàng để bảo vệ nốt sần Sau đó, rửa sạch trong chậu nước và tiến hành đếm Xác định số lượng và khối lượng nốt sần của 3 cây/ô, tùy thuộc vào từng thí nghiệm và thời kỳ xác định.
+ Thời kỳ bắt đầu ra hoa
+ Thời kỳ ra hoa rộ
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 25 ngày
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 45 ngày
Để xác định chỉ số diệp lục, sử dụng máy đo SPAD để theo dõi 5 cây trong mỗi ô, đo trên 1 lá ở vị trí thứ 3 từ đỉnh xuống, và thực hiện đo trên 4 lá chét để lấy giá trị trung bình Việc này sẽ được thực hiện tùy thuộc vào từng thí nghiệm và thời kỳ cụ thể.
+ Thời kỳ bắt đầu ra hoa
+ Thời kỳ ra hoa rộ
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 25 ngày
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 45 ngày
Hiệu suất huỳnh quang diệp lục được đo bằng máy đo hiệu suất huỳnh quang diệp lục, và kết quả này có thể thay đổi tùy thuộc vào từng thí nghiệm và thời kỳ nghiên cứu cụ thể.
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 25 ngày
+ Thời kỳ sau ra hoa rộ 45 ngày
3.7.5 Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh (QCVN01- 57: 2011/ BNN & PTNN)
+ Theo dõi thường xuyên các loại sâu bệnh hại xuất hiện trên ruộng lạc + Tiến hành đánh giá mức độ gây hại của từng loại sâu bệnh
+ Điều tra mức độ hại (chỉ số bệnh): Dựa theo thang điểm phân cấp của Viện nghiên cứu Quốc tế các cây trồng cạn
- Bệnh đốm nâu: Điều tra 10 cây/1 ô theo quy tắc đường chéo 5 điểm vào thời điểm trước thu hoạch:
+ Rất nhẹ - cấp 1 : < 1% diện tích bị hại
+ Nhẹ – cấp 3 : từ 1- 5% diện tích bị hại
+ Trung bình – cấp 5 : > 5- 25% diện tích bị hại
+ Nặng – cấp 7 : > 25- 50% diện tích bị hại
+ Rất nặng - cấp 9 : > 50% diện tích bị hại
- Bệnh rỉ sắt: Điều tra và ước lượng diện tích bị bệnh của 10 cây/1 ô theo quy tắc đường chéo 5 điểm vào thời điểm trước thu hoạch:
+ Rất nhẹ - cấp 1: < 1% diện tích bị hại
+ Nhẹ - cấp 3 : từ 1- 5% diện tích bị hại
+ Trung bình - cấp 5 : > 5- 25% diện tích bị hại
+ Nặng - cấp 7 : > 25- 50% diện tích bị hại
+ Rất nặng - cấp 9 : > 50% diện tích bị hại
- Mức độ nhiễm một số sâu hại tính theo tỉ lệ % và phân cấp hại Các đối tượng hại chính: sâu cuốn lá, sâu khoang
3.7.6 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Để theo dõi động thái ra hoa, cần đếm số hoa nở trên mỗi cây mỗi ngày, đồng thời theo dõi 5 cây trong 1 ô Quá trình này phải được thực hiện liên tục từ khi cây bắt đầu ra hoa cho đến khi kết thúc giai đoạn ra hoa.
-Tổng số quả trên cây
- Tổng số quả chắc trên cây và tính ra tỷ lệ quả chắc/ cây (%)
- Khối lượng 100 quả (g), khối lượng 100 hạt (g)
- Tỷ lệ nhân: Cân khối lượng 100 quả khô, bóc vỏ cân khối lượng hạt tính ra tỉ lệ nhân
Năng suất cá thể (g/cây): Cân khối lượng quả chắc, khô của 5 cây lấy khối lượng cân được chia cho 5
Năng suất cá thể (gam/cây) = ——————
Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể x mật độ x 10000 m 2
Năng suất thực thu (tạ/ha): Dựa trên năng suất quả khô thu được trên thực tế
3.7.7 Phương pháp phân tích canxi
Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8246: 2009, tổng số kim loại trong đất được phân tích bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa, nhằm đánh giá chất lượng đất.
Cây trồng được phân tích tổng số canxi và magie theo tiêu chuẩn TCVN 9015-2:2011, sử dụng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử Để đánh giá hàm lượng canxi trong đất, mẫu đất được thu thập trước khi trồng lạc và 15 ngày trước khi thu hoạch.
Cây lạc trước khi thu hoạch 15 ngày được thu thập để phân tích hàm lượng canxi trong cây.
PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) bằng phần mềm IRISTAT 5.0 và Excel.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG LẠC TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN 2019 TRÊN ĐẤT GIA LÂM- HÀ NỘI
4.1.1 Đặc điểm và phát triển của các dòng, giống lạc
Cây lạc, giống như các loại cây trồng khác, trải qua nhiều giai đoạn sinh trưởng và phát triển khác nhau, mỗi giai đoạn có thời gian cụ thể tùy thuộc vào đặc điểm di truyền và điều kiện môi trường Việc nghiên cứu quy luật sinh trưởng của từng dòng, giống cây lạc sẽ hỗ trợ trong việc lựa chọn giống phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau.
4.1.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống lạc
Bảng 4.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống lạc
Thời gian gieo đến mọc (ngày)
Thời gian từ gieo đến phân cành (ngày)
Thời gian ra hoa (ngày)
Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)
Chất lượng hạt giống đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sức nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm của cây trồng Vì vậy, nghiên cứu về khả năng nảy mầm của các dòng, giống là cần thiết để đánh giá chất lượng hạt giống Giống có tỷ lệ mọc mầm cao và khả năng mọc mầm khỏe mạnh thường biểu hiện chất lượng hạt giống tốt Khi tỷ lệ nảy mầm cao, chi phí về giống sẽ giảm, mật độ cây trồng được đảm bảo và hiệu quả kinh tế sản xuất sẽ tăng lên.
Sự nảy mầm của hạt là giai đoạn đầu tiên đánh dấu sự sống của hạt giống, khởi đầu cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lạc Giai đoạn này diễn ra khi hạt chuyển từ trạng thái tiềm sinh sang trạng thái sống, bắt đầu bằng việc hút nước để kích hoạt các enzyme Sức hút nước, lượng nước hút và thời gian hút nước phụ thuộc vào sức sống của hạt giống, độ ẩm của hạt, cũng như độ ẩm và nhiệt độ của môi trường.
Thời gian mọc mầm của lạc từ khi gieo đến khi đạt 50% có thể kéo dài từ 5-7 ngày trong điều kiện thuận lợi, nhưng nếu gặp điều kiện bất thuận, thời gian này có thể lên tới 15-20 ngày Thời kỳ này ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ cây và năng suất sau này Kết quả theo dõi thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống tham gia thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.1.
Kết quả ở bảng 4.1 cho thấy:
Thời gian từ khi gieo đến khi mọc mầm của tất cả các dòng giống tham gia thí nghiệm dao động từ 6 đến 8 ngày, trong đó giống đối chứng L27 có thời gian mọc mầm là 7 ngày.
Thời gian mọc mầm của các dòng giống trong thí nghiệm tương đối dài, chủ yếu do điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi trong giai đoạn gieo Thời tiết lạnh và khô hạn trong thời gian gieo hạt đã ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình nảy mầm của hạt.
Tỷ lệ mọc mầm của các dòng giống biến động từ 81,25% đến 92,50%, trong đó dòng D20 đạt tỷ lệ nảy mầm cao nhất là 92,50%, tiếp theo là dòng D18 với 91,75% Giống Eo Nghệ An có tỷ lệ nảy mầm thấp nhất là 81,25%, trong khi giống đối chứng L27 đạt 90,50% Các giống Sen Nghệ An và Đỏ Bắc Giang cũng có tỷ lệ nảy mầm tốt, lần lượt là 91,25% Nhìn chung, tất cả các dòng giống tham gia thí nghiệm đều có chất lượng hạt giống tốt với tỷ lệ mọc mầm khá cao và sự chênh lệch giữa các dòng giống không đáng kể.
Thời gian từ khi gieo đến phân cành của các dòng, giống lạc trong thí nghiệm dao động từ 15 đến 17 ngày Dòng D18 có thời gian phân cành sớm nhất là 15 ngày, trong khi các dòng D20, D22 và L12 có thời gian phân cành muộn hơn, kéo dài 17 ngày Giống đối chứng L27 có thời gian phân cành là 16 ngày, tương đương với các dòng, giống còn lại.
Mỗi giống cây có thời gian sinh trưởng khác nhau, điều này ảnh hưởng đến việc bố trí thời vụ và cơ cấu cây trồng Thời gian sinh trưởng của các giống trong thí nghiệm dao động từ 125 đến 132 ngày Giống Eo Nghệ An và giống đối chứng L27 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 125 ngày, trong khi giống Sen Nghệ An và D22 có thời gian sinh trưởng dài nhất là 132 ngày Các giống D20, L12 và L14 có thời gian sinh trưởng là 127 ngày, trong khi những giống khác có thời gian sinh trưởng tương đương nhau là 130 ngày.
Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện vụ xuân, với thời gian từ khi gieo hạt đến khi ra hoa của các dòng giống dài dao động từ 27 đến 30 ngày Giống Sen Nghệ là một trong những giống được nghiên cứu trong thí nghiệm này.
Giống An và Đỏ Bắc Giang có thời gian từ gieo đến ra hoa dài nhất, lên đến 30 ngày, trong khi các dòng giống khác chỉ mất từ 27 đến 29 ngày Đặc biệt, giống đối chứng L27, dòng D20 và D22 ra hoa sớm nhất với thời gian 27 ngày Như vậy, thời gian ra hoa của các dòng giống có sự khác biệt nhưng vẫn khá đồng nhất.
Theo dõi tổng thời gian sinh trưởng của các dòng giống lạc là yếu tố quan trọng để phân loại giống, từ đó giúp xác định thời vụ gieo trồng và xây dựng công thức luân canh phù hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau.
4.1.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính
Chiều cao thân chính của cây đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển chất dinh dưỡng từ rễ lên lá và đưa sản phẩm đồng hóa từ lá về rễ, quả, hạt Sự tăng trưởng chiều cao này phản ánh quá trình tích lũy chất khô và sinh trưởng sinh dưỡng của cây.
Chiều cao cây hợp lý không chỉ tăng khả năng chống đổ mà còn nâng cao số lượng lá hữu hiệu, từ đó cải thiện khả năng quang hợp và tạo nền tảng cho năng suất cao sau này Cây lạc phát triển tốt thường có chiều cao cân đối với các bộ phận dinh dưỡng khác, với thân thẳng, không bị đổ, các đốt phía dưới ngắn và thân mập, cứng.
Trong suốt quá trình sinh trưởng, thân chính của cây liên tục tăng chiều cao, với tốc độ sinh trưởng cao nhất trong thời kỳ ra hoa rộ Tốc độ này tăng dần từ khi cây mọc, chậm lại khi sắp ra hoa, và tiếp tục tăng nhanh khi hoa nở Khi hoa gần tắt, tốc độ tăng chiều cao giảm rõ rệt, nhưng nếu gặp điều kiện thuận lợi trong thời kỳ chín, tốc độ này lại có thể tăng lên.
Bảng 4.2 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống lạc thí nghiệm Dòng, giống
Chiều cao cây sau … ngày sau trồng (cm) Giai đoạn quả chín
ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT VỎ TRỨNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC L27 TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ THU ĐÔNG TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
4.2.1 Ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L27
4.2.1.1 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến chiều cao cây, chiều dài cành và số lá/thân chính
Nghiên cứu về ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng cho thấy bột vỏ trứng làm tăng chiều cao cây, chiều dài cành và số lá/thân chính của giống lạc L27 Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Radha và Karthikeyan (2019) về đậu đũa, khi tăng lượng bột vỏ trứng cũng làm tăng các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao thân chính và khối lượng cây Trong thí nghiệm, chiều cao cây cao nhất được quan sát ở mức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa so với các mức bón 200, 300, 500, 600, 700, 800, và 900 kg/ha Chiều cao cây ở mức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng cũng cao hơn có ý nghĩa so với công thức không bón và bón 100 kg/ha Đối với chiều dài cành cấp 1, không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa công thức bón 400 kg/ha và các mức bón 300 và 500 kg/ha bột vỏ trứng.
Sử dụng 400 kg/ha bột vỏ trứng giúp cải thiện chiều dài cành cấp 1 so với các công thức bón khác như 0; 100; 200; 600; 700; 800; 900 kg/ha bột vỏ trứng và 500 kg/ha vôi thường Bên cạnh đó, số lượng lá trên thân chính không có sự khác biệt đáng kể giữa công thức bón 200 và các công thức khác.
Nghiên cứu cho thấy công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng mang lại số lá/thân chính cao nhất, vượt trội so với các công thức khác như 200 kg/ha và các mức bón từ 0 đến 900 kg/ha Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Taufique & cs (2014), cho thấy việc không sử dụng bột vỏ trứng dẫn đến chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất thấp nhất Ngoài ra, tác giả cũng ghi nhận rằng công thức bón 20 g/chậu bột vỏ trứng cho giá trị cao nhất về chiều cao cây, số lá/cây và số cành/cây, trong khi việc tăng lượng bón lên 30 g/chậu không mang lại sự cải thiện đáng kể nào.
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến chiều cao cây, chiều dài cành và số lá/thân chính của giống lạc L27
Chiều cao cây cuối cùng (cm)
Chiều dài cành cấp 1 (cm)
Số lá/thân chính (lá)
4.2.1.2 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất tươi của giống lạc L27
Bảng 4.14: Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất tươi của giống lạc L27
Sau khi ra hoa rộ
Sau khi ra hoa rộ
45 ngày Thời kỳ quả chắc
Nghiên cứu ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất tươi của giống lạc L27 cho thấy khả năng này tăng dần qua các thời kỳ, đạt giá trị cao nhất vào thời kỳ quả chắc Tương tự, nghiên cứu của Radha và Karthikeyan (2019) cho thấy việc tăng lượng bột vỏ trứng cải thiện các chỉ tiêu sinh trưởng của đậu đũa như chiều cao thân, chiều dài rễ, số lá, và khối lượng tươi, khô của thân lá Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, khi lượng bột vỏ trứng được tăng từ 0 đến 300 kg/ha, khối lượng tươi của rễ tăng ở cả ba thời kỳ theo dõi, nhưng sau đó giảm khi tiếp tục tăng lượng bón Đối với khối lượng tươi của thân lá, cũng ghi nhận xu hướng tăng khi bón 400 kg/ha, nhưng tương tự, khối lượng này có xu hướng giảm khi lượng bón tiếp tục tăng.
4.2.1.3 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất khô của giống lạc L27
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất khô của giống lạc L27
Sau khi ra hoa rộ
Sau khi ra hoa rộ
45 ngày Thời kỳ quả chắc
Giống lạc L27 cho thấy khả năng tích lũy chất khô tăng dần theo thời gian, đạt đỉnh vào giai đoạn quả chắc Việc tăng lượng bột vỏ trứng từ 0 đến 400 kg/ha dẫn đến sự gia tăng khối lượng khô của rễ và thân lá trong hai thời kỳ theo dõi: 25 ngày sau khi ra hoa và thời kỳ quả chắc Tuy nhiên, khi lượng bột vỏ trứng tiếp tục tăng, khối lượng tươi của rễ lại có xu hướng giảm Đặc biệt, ở thời kỳ 45 ngày sau khi ra hoa, khối lượng khô của rễ và thân lá tiếp tục tăng khi bón 300 kg/ha bột vỏ trứng, nhưng sự gia tăng thêm sẽ khiến khối lượng tươi của rễ giảm.
4.2.1.4 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống lạc L27
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống lạc L27
Lượng bột vỏ trứng (kg/ha)
Sau khi ra hoa rộ 25 ngày Sau khi ra hoa rộ 45 ngày
Diện tích lá (dm 2 /cây)
Diện tích lá (dm 2 /cây)
Nghiên cứu về ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống lạc L27 cho thấy, công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng mang lại diện tích lá và chỉ số diện tích lá cao nhất ở cả hai thời kỳ theo dõi (25 ngày và 45 ngày sau khi ra hoa) Mặc dù ở thời kỳ 25 ngày sau khi ra hoa, công thức 300 kg/ha đạt giá trị tối ưu, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa với các công thức bón 200; 400; 500; 600; 700 kg/ha.
Nghiên cứu cho thấy rằng việc bón 800 kg/ha bột vỏ trứng có sự khác biệt so với công thức không bón, cũng như công thức bón 100 kg và 900 kg/ha bột vỏ trứng, trong khi công thức đối chứng bón 500 kg/ha vôi bột thường Tuy nhiên, sau 45 ngày từ khi ra hoa rộ, không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng và tất cả các công thức khác trong thí nghiệm.
4.2.2 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng hình thành nốt sần của giống lạc L27
Sau 25 ngày sau khi ra hoa, số lượng nốt sần hiệu quả cao nhất được ghi nhận ở công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa với các công thức bón 200, 300, 500 kg/ha Ngược lại, có sự khác biệt có ý nghĩa khi so sánh với các công thức không bón và các mức bón 100, 600, 700, 800, 900 kg/ha bột vỏ trứng, cũng như công thức đối chứng bón 500 kg/ha vôi bột thường Thêm vào đó, không có sự khác biệt có ý nghĩa về khối lượng nốt sần giữa các công thức bón 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900 kg/ha bột vỏ trứng trong giai đoạn này Khối lượng nốt sần cao nhất được quan sát ở công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng.
Sau 45 ngày sau khi ra hoa, số lượng nốt sần hữu hiệu đạt cao nhất ở công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa so với các công thức bón 200, 300, 500 và 600 kg/ha.
Nghiên cứu cho thấy việc bón 700 kg/ha bột vỏ trứng mang lại hiệu quả khác biệt so với các công thức không bón và các mức bón 100, 800, 900 kg/ha Đặc biệt, công thức đối chứng cũng cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong hiệu suất.
Sử dụng 500 kg/ha vôi bột thường cho thấy hiệu quả cao trong việc phát triển khối lượng nốt sần, đặc biệt ở các công thức bón 300 và 400 kg/ha bột vỏ trứng Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa về khối lượng nốt sần giữa các công thức bón này.
Bảng 4.17 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng hình thành nốt sần của giống lạc L27 Lượng bột vỏ trứng (kg/ha)
Sau khi ra hoa rộ 25 ngày Sau khi ra hoa rộ 45 ngày
Số lượng nốt sần hữu hiệu (nốt/cây)
Khối lượng nốt sần (g/cây)
Số lượng nốt sần hữu hiệu (nốt/cây)
Khối lượng nốt sần (g/cây)
4.2.3 Ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống lạc L27
4.2.3.1 Ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến chỉ số SPAD của giống lạc L27
Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến chỉ số SPAD của giống lạc L27 cho thấy, sau 25 ngày ra hoa, chỉ số SPAD cao nhất được ghi nhận ở công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng Mặc dù không có sự khác biệt có ý nghĩa với các công thức bón 300, 500, 600 và 700 kg/ha, nhưng công thức 400 kg/ha lại khác biệt có ý nghĩa so với các công thức không bón, 100, 200, 800, 900 kg/ha và 500 kg/ha vôi thường Tại thời điểm 45 ngày sau khi ra hoa và giai đoạn quả chắc, chỉ số SPAD cao nhất vẫn thuộc về công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng, không có sự khác biệt có ý nghĩa với các công thức bón 100, 200, 300, 500, 600, 700 và 800 kg/ha.
Sử dụng 900 kg/ha bột vỏ trứng cho thấy hiệu quả rõ rệt, tuy nhiên, công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng cũng tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa so với các công thức không bón và công thức bón 500 kg/ha vôi thường.
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến chỉ số SPAD của giống lạc L27 Lượng bột vỏ trứng
Sau khi ra hoa rộ 25 ngày
Sau khi ra hoa rộ 45 ngày
4.2.3.2 Ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến hiệu suất huỳnh quang diệp lục của giống lạc L27 Ở thời kỳ sau khi ra hoa rộ 25 ngày và thời kỳ sau khi ra hoa rộ 45 ngày hiệu suất hình quang diệp lục của giống lạc L27 đạt giá trị cao nhất được quan sát ở công thức bón 400 kg/ha bột vỏ trứng cao hơn có ý nghĩa so với các công thức khác Tuy nhiên ở thời kỳ quả chắc hiệu suất hình quang diệp lục của giống lạc L27 đạt giá trị cao được quan sát ở công thức bón 300 và 400 kg/ha bột vỏ trứng tuy nhiên giá trị hiệu suất hình quang diệp lục của 2 công thứ này không có sự sai khác có ý nghĩa với các công thức bón 200 và 500 kg/ha bột vỏ trứng nhưng lại có sự sai khac có ý nghĩa với các công thức không bón; bón 100; 600; 700; 800 và 900 kg/ha bột vỏ trứng và công thức đối chứng bón 500 kg/ha vôi thường (Bảng 4.19)
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của lượng bón bột vỏ trứng đến chỉ số hiệu suất huỳnh quang diệp lục (Fv/Fm) của giống lạc L27 Lượng bột vỏ trứng
Sau khi ra hoa rộ 25 ngày
Sau khi ra hoa rộ 45 ngày
4.2.4 Ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lạc L27
4.2.4.1 Ảnh hưởng của bột vỏ trứng đến một số yếu tố cấu thành năng suất của giống lạc L27
Tăng lượng bón bột vỏ trứng từ 0 kg/ha lên 400 kg/ha đã làm tổng số quả/cây giống lạc L27 tăng lên, nhưng khi tiếp tục tăng lên 500 kg/ha, tổng số quả/cây bắt đầu giảm Giá trị cao nhất của tổng số quả/cây được ghi nhận ở mức bón 400 kg/ha, không có sự khác biệt có ý nghĩa với 500 kg/ha Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa 400 kg/ha và các mức bón khác như 0; 100; 200; 300; 600; 700; 800; 900 kg/ha và công thức đối chứng 500 kg vôi thường Tổng số quả/cây thấp nhất được quan sát ở công thức không bón Kết quả nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của Taufique & cs (2014) trên cây cà chua, cho thấy số quả thu hoạch/cây và khối lượng trung bình quả cao nhất ở mức bón 20 g/chậu bột vỏ trứng, trong khi tăng lên 30 g/chậu không làm tăng số quả và khối lượng trung bình quả.
ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG VÀ THỜI ĐIỂM BÓN BỘT TỪ VỎ TRỨNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC
VỎ TRỨNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LẠC L27 TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ THU ĐÔNG TẠI GIA LÂM – HÀ NỘI
4.3.1 Ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lạc L27
Bảng 4.22 Ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống lạc L27
Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)
Ra hoa đến quả chắc
Bón vào giai đoạn ra hoa rộ
Kết quả từ bảng 4.22 cho thấy tất cả các công thức thí nghiệm đều đạt tỷ lệ nảy mầm cao, trên 90%, với biến động từ 90,25% đến 92,5% Trong đó, công thức bón 300 kg bột vỏ trứng ở thời điểm bón lót có tỷ lệ nảy mầm cao nhất là 92,5%, trong khi công thức bón 400 kg bột vỏ trứng vào giai đoạn ra hoa rộ có tỷ lệ nảy mầm thấp nhất là 90,25%.
Thời gian từ khi gieo hạt đến khi mọc là 6 ngày, và từ lúc mọc đến ra hoa là 29 ngày Tuy nhiên, thời gian từ ra hoa đến khi quả hình thành có sự khác biệt, dao động từ 41 đến 43 ngày Tổng thời gian sinh trưởng ở các công thức bón lót thường dài hơn khoảng 2 đến 3 ngày so với các công thức bón thúc được áp dụng trong giai đoạn ra hoa rộ.
4.3.2 Ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L27
4.3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1 và số lá trên thân chính của giống lạc L27
Nghiên cứu về ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến sinh trưởng của giống lạc L27 cho thấy có sự khác biệt đáng kể về chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1 và số lá trên thân chính giữa hai thời điểm bón (bón lót và bón thúc vào giai đoạn ra hoa rộ) Cụ thể, các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1 và số lá trên thân chính đều cao hơn khi bón lót so với bón thúc vào giai đoạn ra hoa rộ.
So sánh các công thức bón cho thấy chiều cao cây có sự khác biệt giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng và bón vôi thường, nhưng không có sự khác biệt đáng kể với các công thức bón 200 kg/ha, 400 kg/ha và 500 kg/ha bột vỏ trứng Đối với chiều dài cành cấp 1, công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng cho kết quả khác biệt có ý nghĩa so với tất cả các công thức còn lại Về số lá trên thân chính, có sự khác biệt có ý nghĩa giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng với công thức bón 500 kg/ha vôi thường và 500 kg/ha bột vỏ trứng, nhưng không có sự khác biệt đáng kể với các công thức bón 200 kg/ha và 400 kg/ha bột vỏ trứng.
Nghiên cứu so sánh tương tác giữa lượng bón và thời điểm bón cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong các công thức ảnh hưởng đến chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1 và số lá trên thân chính Cụ thể, công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng ở thời điểm bón lót mang lại chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1 và số lá trên thân chính cao nhất.
Bảng 4.23 Ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L27
Chiều cao cây cuối cùng (cm)
Chiều dài cành cấp 1 (cm)
Số lá/thân chính (lá)
Bón vào giai đoạn ra hoa rộ
TB thời điểm Bón lót 28,00 22,97 16,71
4.3.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất tươi của giống lạc L27
Nghiên cứu về ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất tươi của giống lạc L27 cho thấy rằng khả năng tích lũy chất tươi của rễ, thân lá tăng dần qua các thời kỳ và đạt giá trị cao nhất vào thời kỳ quả chắc So sánh giữa hai thời điểm bón cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về khối lượng tươi của rễ, thân lá giữa bón lót và bón thúc vào giai đoạn ra hoa rộ Cụ thể, khối lượng tươi của rễ, thân lá ở tất cả các công thức, bao gồm cả vôi thường và bột vỏ trứng, tại thời điểm bón lót đều cao hơn so với khối lượng tươi ở thời điểm bón thúc trong giai đoạn ra hoa rộ.
Bảng 4.24 Ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất tươi của giống lạc L27
Bắt đầu ra hoa Sau khi ra hoa rộ 25 ngày
Bón vào giai đoạn ra hoa rộ
Bón lót 2,12 18,90 2,39 31,85 2,69 64,7 Bón ra hoa 1,86 17,04 2,30 29,02 2,42 60,45
So sánh các công thức bón phân cho thấy khối lượng rễ tươi giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng và các công thức bón khác có sự khác biệt rõ rệt.
Việc bón 200 kg/ha bột vỏ trứng và vôi thường vào thời điểm cây bắt đầu ra hoa không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa so với bón 300 kg/ha bột vỏ trứng, trong khi các công thức bón 400 kg/ha và 500 kg/ha bột vỏ trứng cũng không có sự sai khác đáng kể Đối với khối lượng thân lá, chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa giữa công thức bón 300 kg/ha và 400 kg/ha bột vỏ trứng Sau 25 ngày kể từ khi ra hoa, không có sự khác biệt có ý nghĩa nào về khối lượng rễ và thân lá tươi giữa các công thức bón Tuy nhiên, ở giai đoạn quả chắc, khối lượng tươi của rễ có sự khác biệt có ý nghĩa giữa công thức bón 300 kg/ha và các công thức khác, ngoại trừ công thức 400 kg/ha Đồng thời, ở giai đoạn này cũng có sự khác biệt có ý nghĩa về khối lượng tươi của thân lá giữa công thức bón 300 kg/ha và các công thức bón 200 kg/ha và 500 kg/ha vôi thường, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa với công thức bón 400 kg/ha và 500 kg/ha bột vỏ trứng.
Nghiên cứu so sánh tương tác giữa lượng bón và thời điểm bón cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức bón đối với khối lượng tươi của rễ, thân lá Đặc biệt, công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng vào thời điểm bón lót mang lại giá trị cao nhất về khối lượng tươi của cả rễ và thân lá.
4.3.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất khô của giống lạc L27
Nghiên cứu về ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất khô của giống lạc L27 cho thấy rằng khả năng tích lũy chất khô của rễ, thân lá tăng dần qua các giai đoạn, đạt cao nhất vào thời kỳ quả chắc So sánh giữa hai thời điểm bón cho thấy khối lượng khô của rễ không có sự khác biệt ý nghĩa, nhưng khối lượng khô của thân lá lại có sự khác biệt giữa bón lót và bón thúc trong giai đoạn ra hoa rộ Đặc biệt, sau 25 ngày ra hoa rộ và trong thời kỳ quả chắc, khối lượng khô của rễ, thân lá ở tất cả các công thức, bao gồm vôi thường và bột vỏ trứng bón lót, đều cao hơn có ý nghĩa so với khối lượng khô ở thời điểm bón thúc trong giai đoạn ra hoa rộ.
Kết quả so sánh các công thức bón cho thấy công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng tạo ra khối lượng rễ khô khác biệt so với các công thức bón khác.
Khi bón 500 kg/ha vôi thường, không có sự khác biệt đáng kể so với các công thức bón 200 kg/ha, 400 kg/ha và 500 kg/ha bột vỏ trứng tại thời điểm cây bắt đầu ra hoa Tuy nhiên, khối lượng thân và lá khô tại thời điểm này cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng và các công thức bón 500 kg/ha vôi thường, 200 kg/ha bột vỏ trứng, trong khi không có sự khác biệt đáng kể với các công thức bón 400 kg/ha và 500 kg/ha bột vỏ trứng Sau 25 ngày cây ra hoa, khối lượng rễ khô không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các công thức bón.
Việc sử dụng 300 kg/ha bột vỏ trứng trong công thức bón so với 400 kg/ha bột vỏ trứng không có sự khác biệt ý nghĩa với công thức bón 500 kg/ha vôi thường Tuy nhiên, có sự khác biệt ý nghĩa khi so sánh với các công thức bón 200 kg/ha, 400 kg/ha và 500 kg/ha bột vỏ trứng Về khối lượng khô của thân và lá sau 25 ngày ra hoa rộ, không có sự khác biệt ý nghĩa giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng và 500 kg/ha vôi thường, nhưng lại có sự khác biệt ý nghĩa với các công thức bón còn lại.
Bảng 4.25 Ảnh hưởng của thời điểm và lượng bón bột vỏ trứng đến khả năng tích lũy chất khô của giống lạc L27
Bắt đầu ra hoa Sau khi ra hoa rộ 25 ngày
Bón vào giai đoạn ra hoa rộ
LSD 0.05 LB 0,015 0,19 0,045 0,49 0,05 1,23 Đến thời kỳ quả chắc, sai khác không có ý nghĩa về khối lượng rễ khô giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng với tất cả các công thức còn lại Bên cạnh đó ở thời kỳ quả chắc có sự sai khác có ý nghĩa về khối lượng khô của thân lá giữa công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng với công thức bón 200 kg/ha, 400 kg/ha, 500 kg/ha bột vỏ trứng và 500 kg/ha vôi thường
Nghiên cứu so sánh tương tác giữa lượng bón và thời điểm bón cho thấy sự khác biệt đáng kể trong khối lượng khô của rễ, thân lá Cụ thể, công thức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng vào thời điểm bón lót mang lại giá trị khối lượng khô cao nhất cho rễ và thân lá.
4.3.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng và thời điểm bón bột vỏ trứng đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống lạc L27