PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẶC ĐIỂM, BƯỚC ĐI VÀ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA I ĐẶC ĐIỂM Hồ Chí Minh khẳng định căn cứ vào đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước để xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Người viết “tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ m.
Trang 1CHỦ ĐỀ 5 PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẶC ĐIỂM, BƯỚC ĐI VÀ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA
Hồ Chí Minh khẳng định: căn cứ vào đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước để xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Người viết: “tùy hoàn cảnh, mà các dân
tộc phát triển theo con đường khác nhau Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản)…Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã
hội (cộng sản)…”
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam, trong đó bao trùm lớn nhất là đặc điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Vì vậy, khi nói về độ dài của thời kỳ quá độ, Người chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài”
Về những nhân tố bảo đảm thực hiện thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao vai trò tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị- xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ
đủ đức và tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
II BƯỚC ĐI VÀ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG
Hồ Chí Minh xác định rõ nhiệm vụ lịch sử, nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều trăn trở khôn nguôi của Người là tìm ra hình thức, bước đi, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội biến nhận thức lý luận thành chương trình hành động, thành hoạt động thực tiễn hằng ngày
Để xác định bước đi và tìm cách làm phù hợp với Việt Nam, Hồ Chí Minh đề
ra hai nguyên tắc có tính chất phương pháp luận:
Một là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng phổ biến mang tính quốc
tế cần quán triệt các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng chế độ mới, có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm của các nước anh em Học tập những kinh nghiệm của các nước tiên tiến, nhưng không được sao chép, máy móc giáo điều
Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam có thể làm khác Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác vì Việt Nam có điều kiện cụ thể khác
Hai là, xác định bước đi và biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ yếu xuất phát từ điều kiện thực tế, đặc điểm dân tộc, nhu cầu và khả năng thực tế của nhân dân
Trong khi nhấn mạnh hai nguyên tắc trên đây, Hồ Chí Minh lưu ý vừa chống việc xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, quá tuyệt đối hóa cái riêng, những đặc điểm của dân tộc, vừa chống máy móc, giáo điều khi áp dụng các
Trang 2nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin mà không tính đến những điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước và của thời đại
Quán triệt hai nguyên tắc phương pháp luận này, Hồ Chí Minh xác định phương châm thực hiện bước đi trong xây dựng chủ nghĩa xã hội: Dần dần thận trọng từng bước:
Một, từ thấp đến cao, không chủ quan nôn nóng và việc xác định các bước đi phải luôn luôn căn cứ vào các điều kiện khách quan quy định Hồ Chí Minh nhận thức
về phương châm “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” không
có nghĩa là làm bừa, làm ẩu, “đốt cháy giai đoạn”, chủ quan, duy ý chí mà phải làm vững chắc từng bước, phù hợp với điều kiện thực tế Trong các bước đi lên chủ nghĩa
xã hội
Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến vai trò của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, coi đó là “con đường phải đi của chúng ta”, là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội; nhưng công nghiệp hóa không có nghĩa là xây dựng những nhà máy, xí nghiệp cho thật to, quy mô cho thật lớn bất chấp những điều kiện cụ thể cho phép trong từng giai đoạn nhất định Theo Người, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thực hiện thắng lợi trên cơ sở xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện, vững chắc, một hệ thống tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nhẹ đa dạng nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho nhân dân, các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu cho xã hội
Cùng với các bước đi, Hồ Chí Minh đã gợi ý nhiều phương thức, biện pháp
tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội Trên thực tế, Người đã sử dụng một số cách làm
cụ thể sau đây:
+ Thực hiện cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới kết hợp cải tạo với xây dựng, lấy xây dựng làm chính
+ Kết hợp xây dựng và bảo vệ, đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược
ở hai miền Nam - Bắc khác nhau trong phạm vi một quốc gia
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kế hoạch, biện pháp, quyết tâm để thực hiện thắng lợi kế hoạch
+ Trong điều kiện nước ta, biện pháp cơ bản, quyết định, lâu dài trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là đem của dân, tài dân, sức dân, làm lợi cho dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Hồ Chí Minh cho rằng, phải huy động hết tiềm năng, nguồn lực có trong dân để đem lại lợi ích cho dân Nói cách khác, phải biến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội thành sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo Vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyên
là tập hợp lực lượng, đề ra đường lối, chính sách để huy động và khai thác triệt để các nguồn lực của dân, vì lợi ích của quần chúng lao động
Trang 3III Ý NGHĨA THỰC TIỄN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN CỦA
NƯỚC TA
Kinh tế nhiều thành phần luôn là nội dung lý luận quan trọng trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển đất nước Tuy nhiên, ở thời kỳ bao cấp chính sách này chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư nhân Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí…
Cần tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta là chủ trương lớn, đúng đắn, hợp lòng dân, có tác dụng khơi dậy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội Đây là chính sách nhất quán, lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta
Hơn nữa việc phát triển kinh tế thị trường ở nước ta không phải là hiện tượng
tự phát và sao chép một cách cứng nhắc mà là phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Đây là mô hình kinh tế chưa từng có trong tiền lệ, mà là một sự khám phá mới, một quá trình đòi hỏi vừa từng bước tiến hành vừa từng bước đổi mới không ngừng và hoàn thiện
Tuy nhiên, việc mở cửa nền kinh tế, khuyến khích các thành phần khác nhau tham gia phát triển kinh tế không phải không có những hạn chế, tiêu cực Việc thực hiện đồng thời nhiều thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế – xã hội đòi hỏi một mặt phải tạo ra khuôn khổ chung, luật chơi chung nhằm bình đẳng, không phân biệt các thành phần khác nhau, tạo sự lạc quan cho giới doanh nhân, đồng thời cũng cần thiết
có những đối sách hợp lý nhằm quản lý có hiệu quả mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Bởi, đặc tính cơ bản của kinh tế thị trường là sự đấu tranh chuyển hóa lợi ích giữa công và tư diễn ra rất gay gắt dưới nhiều hình thức cả ngấm ngầm và công khai
Trong bối cảnh đó, việc tăng cường nghiên cứu, tìm tòi những căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc phân định và thực hiện các thành phần kinh tế là cần thiết Từ đó, tiến tới hoàn thiện lý luận kinh tế nhiều thành phần là việc làm rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay
Trang 4CHỦ ĐỀ 6 TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG LIÊN HỆ THỰC TIỄN ĐỂ LÀM RÕ VẤN ĐỀ PHÒNG VÀ CHỐNG CÁC VẤN ĐỀ TIÊU CỰC TRONG ĐẢNG HIỆN NAY
CHÍ MINH
1) Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng
Nội dung xây dựng Đảng về chính trị bao gồm: xây dựng đường lối chính trị, bảo vệ chính trị, xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng và phát triển hệ tư tưởng chính trị, củng cố lập trường chính trị, nâng cao bản lĩnh chính trị… Trong các nội dung trên, theo Hồ Chí Minh, đường lối chính trị là một vấn đề cốt tử trong sự tồn tại
và phát triển của Đảng Người cảnh báo nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị gây hậu quả nghiêm trọng đối với vận mệnh của Tổ quốc, sinh mệnh chính trị của hàng
Đảng cần phải giáo dục đường lối, chính sách của Đảng, thông tin thời sự cho cán bộ, đảng viên để họ luôn luôn kiên định lập trường, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi hoàn cảnh
2) Xây dựng Đảng về tổ chức
Về hệ thống tổ chức của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ tổ chức Hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở phải thật chặt chẽ, có tính kỷ luật cao Sức mạnh của tổ chức liên quan chặt chẽ với nhau; mỗi cấp độ tổ chức có chức năng, nhiệm vụ riêng Trong hệ thống tổ chức Đảng, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của chi bộ Chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất lượng lãnh đạo của Đảng; là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và cũng là nơi giám sát đảng viên Chi bộ có vai trò quan trọng trong việc gắn kết giữa Đảng với quần chúng nhân dân
Về công tác cán bộ, Người luôn quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vị trí, vai trò của Người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng Theo người: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt ra chính sách
Trang 5đúng Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”
3) Xây dựng Đảng về đạo đức
Đảng là đạo đức, là văn minh, nhờ đó Đảng mới trong sạch, vững mạnh Trong
12 điều xây dựng Đảng chân chính cách mạng Người nhấn mạnh, Đảng là một tổ chức cách mạng chứ không phải tổ chức để “làm quan phát tài” Không như vậy, Đảng sẽ rơi vào thoái hóa, biến dạng, tha hóa, xa dân, tự đánh mất sức mạnh tự bảo vệ Sức mạnh ấy từ dân mà ra, do dân gây dựng phát triển Người cho rằng: Xây dựng Đảng về đạo đức là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên
tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng tốt hơn, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, đặc biệt là giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng Cán bộ, đảng viên không phải là thần thánh Họ là con người, ai cũng có hai mặt tốt - xấu, thiện – ác thường xuyên đấu tranh với nhau Trong điều kiện môi trường tốt, nếu cán bộ, đảng viên nỗ lực tu dưỡng, phấn đấu, rèn luyện thì mặt tốt, mặt thiện sẽ nổi lên, đẩy lùi mặt
Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ đó phải vừa có đức, vừa có tài Trong đó, đạo đức là gốc, Người viết “Cũng như sông thì
có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
II LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh không phải bây giờ mới có Thời phong kiến nhân dân ta thường dùng từ “quan tham” chỉ quan tham nhũng
Ngày nay tham nhũng, tiêu cực xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp có điều kiện tham nhũng cao, biểu hiện rõ nhất như: Lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai; khác thác tài nguyên, khoáng sản; thu chi ngân sách; mua sắm công; tài chính; ngân hàng; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; công tác cán bộ; quản lý doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp cổ phần có vốn Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; giáo dục đào tạo, văn hóa, y tế Thời gian qua, nhất là từ khi ban hành và thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Đảng và Nhà nước đã tập trung
Trang 6chỉ đạo đạt được nhiều thành tựu quan trọng “10 năm qua toàn ngành thanh tra và các cấp, các ngành đã triển khai hàng nghìn cuộc thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, qua đó đã phát hiện nhiều tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm Thiệt hại do các vụ việc tham nhũng gây ra trong 10 năm qua là gần 60.000 tỷ đồng và hơn 400 ha đất, đã có hơn 4.670 tỷ đồng và 219 ha đất được thu hồi"
CHỦ ĐỀ 7 PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT GCCN CỦA ĐẢNG CSVN ANH, CHỊ HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ LUẬN ĐIỂM: CHÍNH VÌ ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀ ĐẢNG CỦA GCCN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG VN, NÊN NÓ PHẢI LÀ ĐẢNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ( BÁO CÁO CT TẠI ĐH 2- 1951 Ở TUYÊN QUANG) NÊU Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY.
7 Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất GCCN của Đảng CSVN Anh, chị hiểu như thế nào về luận điểm: chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của GCCN và nhân dân lao động VN, nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam ( Báo cáo CT tại ĐH 2- 1951 ở Tuyên Quang) Nêu ý nghĩa của nó đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
I QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT GCCN CỦA ĐẢNG CSVN
Vận dụng sáng tạo lý luận về Đảng của Mac- Lênin, Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công Đảng vô sản kiểu mới ở nước ta HCM có 2 cách thể hiện bản chất giai cấp của Đảng CSVN
- Đảng CSVN là Đảng của GCCN Người cho rằng:
+ Đảng là đội tiên phong của GCVS, là đạo quân tiên phong của đạo quân vô sản, là Đảng của GCVS
+ Mục đích của Đảng là làm tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới XHCS + Thành viên của Đảng: là những người tin theo CNCS, chương trình của Đảng và quốc tế cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hi sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng Đảng phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng
Trang 7+ Đảng có mối liên hệ mật thiết với các dân tộc bị áp bức và GCVS thế giới, nhất là GCVS Pháp
+ Về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng: có một hệ thống hoàn chỉnh từ Trung ương đến địa phương
- Tại ĐH 2 của Đảng 2-1951, Hồ Chí Minh cho rằng: “ trong giai đoạn này, quyền lợi của GCCN và nhân dân lao động và của dân tộc là một Chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của GCCN và nhân dân lao động cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” Sau đó, trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh nhiều lần nêu
rõ vấn đề đó
Hồ Chí Minh khẳng định bản chất GCCN của Đảng ta dựa trên cơ sở thấy rõ sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam, tuy số lượng ít so với dân số nhưng có đầy đủ phẩm chất
và năng lực lãnh đạo đất nước thực hiện những mục tiêu của CM
Có thể nói rằng, luận điểm của Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp của Đảng đã định hướng cho việc xây dựng Đảng CSVN thành một Đảng có sự gắn bó máu thịt với GCCN, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc trong mọi giai đoạn, mọi thời kì phát triển của CM Việt Nam
II LUẬN ĐIỂM: CHÍNH VÌ ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM LÀ ĐẢNG CỦA GCCN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG VN, NÊN NÓ PHẢI LÀ ĐẢNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Nói tới một đảng cộng sản chân chính trước hết phải nhận thức đó là đảng của giai cấp công nhân, tức là nói tới tính giai cấp, đảng mang bản chất giai cấp công nhân Đảng
ta từ lúc ra đời và suốt quá trình xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân Những biểu hiện cụ thể là xác định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, đi tới chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin Nguyên tắc tổ chức,sinh hoạt là tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh tự giác, đoàn kết thống nhất
Cùng với tính giai cấp, Đảng phải giữ vững tính tiền phong, nghĩa là Đảng luôn luôn ở
vị trí đi đầu, dẫn đầu, hăng hái, tích cực nhất Đảng đứng mũi chịu sào, đi tiên phong,
có mặt trong quần chúng nhưng không bao giờ đứng trên hoặc theo đuôi quần chúng
Trang 8Những vấn đề đó từ Mác đến Lênin, đặc biệt là Lênin đã khẳng định và nhiều lần nhấn mạnh, sau đó Hồ Chí Minh đã cụ thể hoá vấn đề "trở thành dân tộc" trong lý luận Mác-Lênin phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam nơi mà chủ yếu là nông dân và các thành phần yêu nước khác, còn giai cấp công nhân chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
Dưới ánh sáng lý luận Mác- Lênin và từ thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định bản chất giai cấp công nhân mà không triệt tiêu vấn đề dân tộc trong Đảng; nói
"Đảng của dân tộc Việt Nam" mà không làm mất và giảm lập trường giai cấp; ngược lại là một minh chứng hùng hồn cho "Đảng của giai cấp công nhân" Bản chất giai cấp của Đảng càng sâu sắc thì tính dân tộc càng đậm nét; tính dân tộc càng đậm nét thì càng làm cho tính giai cấp sâu sắc hơn Hai tính chất này bổ sung cho nhau để khẳng định một đảng cách mạng chân chính theo đúng nguyên lý Đảng kiểu mới của Lênin, nhưng ra đời và trưởng thành ở một nước thuộc địa
Căn cứ vào luận điểm kinh điển và tuân thủ những quan điểm của Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản thì chỉ cần khẳng định Đảng ta là "Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động" là đủ Nhưng một sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh
là Người đã bổ sung một vế "nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam" Vì thế, cần thấm nhuần bản lĩnh và trí tuệ của Người trên mấy mặt:
Một là, về mặt bản chất giai cấp của Đảng thì chỉ có một, đó là Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng cơ sở xã hội của Đảng là toàn dân tộc Mọi công dân Việt Nam – chớ không phải chỉ có giai cấp công nhân- qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu
tú, được nhân dân tín nhiệm đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng
Hai là, Đảng có trách nhiệm to lớn không chỉ đối với giai cấp công nhân, mà còn đối với nhân dân lao động và cả dân tộc Trách nhiệm này vừa có tính chiến lược lâu dài,
là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, công bằng, văn minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới, vừa mang tính lợi ích cụ thể Hồ Chí Minh khẳng định: "Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hoá lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hoá tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng
Trang 9ngày của nhân dân"(5) Trách nhiệm này đồng thời cũng là vinh dự của Đảng Bởi vì nếu Đảng làm được điều đó thì Đảng vừa "bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta"(6) Đảng ta không thiên tư thiên vị, lo việc cho cả nước Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích
gì khác Đó là một trong những lý do làm cho Đảng ta vĩ đại
Ba là, Đảng của dân tộc Việt Nam nghĩa là Đảng có một cội nguồn vững chắc tạo nên sức mạnh to lớn cho Đảng là dân tộc; đó là những "đồng bào" tuy chưa phải là đảng viên nhưng vẫn luôn tự hào nói tới "Đảng ta" Vì vậy, nói tới Đảng của dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền, thì một yêu cầu cơ bản, xuyên suốt đối với Đảng là Đảng phải gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng
Tóm lại, chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của GCCN và nhân dân lao động
VN, nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam là một luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác-Lênin
III Ý NGHĨA
Ý nghĩa về luận điểm : chính vì Đảng lao động Việt Nam là Đảng của GCCN và nhân dân lao động VN, nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam có ý nghĩa như thế nào đối
với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
Một là, ra sức xây dựng, củng cố và bảo vệ nền tảng chính trị vững chắc, nắm vững ngọn cờ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc vàCNXH để chỉ đạo hành động cách mạng của Đảng, giữ vững định hướng XHCN Kiênđịnh mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đồng thời phải không ngừng đổi mới, sáng tạotrong hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách; kiên định chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phải không ngừng bổ sung, hoàn thiện, vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam
Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh iáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thực chất; đặc biệt chú trọng sự nêu gương của
Trang 10những người đứng đầu giữ trọng trách trong các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiên quyết đấu tranh có hiệu quả chống các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ
Ba là, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết thống nhất, thực hiện nghiêm minh kỷ cương, kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát huy dân chủ, công khai minh bạch; kiên trì, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, giữ vững sự trong sạch của Đảng, Nhà nước là tiền đề và động lực xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Bốn là, tăng cường, đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, đạo đức, có trình độ trí tuệ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược thực sự tiêu biểu về bản lĩnh, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, đoàn kết, tập hợp sức mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị, có tầm nhìn và tư duy chiến lược Đồng thời, tăng cường công tác quản lý đội ngũ cán bộ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và Nhà nước; ngăn ngừa sự suy thoái, biến chất và loại bỏ những phần tử
cơ hội, tham nhũng ra khỏi hàng ngũ của Đảng
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các
cơ quan báo chí
Sáu là, luôn coi trọng bài học “lấy dân làm gốc”; lấy sự tin tưởng của nhân dân và xã hội là điều kiện tiên quyết để xây dựng Đảng Thường xuyên xây dựng và củng cố mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; phát huy vai trò và sức mạnh của nhân dân tham gia xây dựng Đảng; đấu tranh mạnh mẽ chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, xây dựng Đảng liêm chính, chí công, vô tư, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng
Trong giai đoạn hiên nay, Đảng ta xác định xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt Về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm
vụ hàng đầu là nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân Đảng ta nhấn mạnh việc học tập và vận dụng nhuần nhuyễn tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác, tu