“Quy luật từ những thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại.” là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết cách thức vận động và phát triển của sự vậ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
BỘ MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
thay đổi về chất và ngược lại Vận dụng quy luật này vào quá trình học tập của sinh viên hiện nay
Họ và tên : Bùi Thị Minh Nguyệt
Mã sinh viên : 21810810007 Lớp : D16KTDN1
Hà Nội, 01/2022
MÃ ĐỀ: 02
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1 Vị trí vài vai trò của quy luật 1
2 Khái niệm và phân tích khái niệm 2
2.1 Khái niệm, đặc điểm về chất và phân biệt chất với thuộc tính 2
2.2 Khái niệm và đặc điểm của lượng 2
3 Mối quan hệ giữa lượng và chất 3
3.1 Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những sự chuyển hoá về chất 3
3.2 Sự tác động trở lại của chất đối với lượng 4
4 Ý nghĩa 5
II VẬN DỤNG 5
1 Giáo dục đại học ở nước ta hiện nay 6
1.1 Mục tiêu của giáo dục đại học 6
1.2 Phương pháp dạy học ở đại học 6
1.3 Ý nghĩa của giáo dục đại học 7
2 Thực trạng của sinh viên trong giáo dục đại học hiện nay ( đào tạo theo tích lũy tín chỉ ) 8
2.1 Khái niệm tín chỉ 8
2.2 Đặc điểm của tín chỉ 8
2.3 Những ưu nhược điểm của tín chỉ 8
2.4 Thực trạng của sinh viên trong việc áp dụng học tín chỉ 9
3 Giải pháp khắc phục khó khăn 10
III KẾT LUẬN 12
C DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Con người ai cũng muốn thành đạt trong cuộc sống nhưng con đường dẫn đến thành công thường quanh co, khúc khuỷu, lắm chông gai Để động viên con cháu vững chí phấn đấu và tin tưởng vào thắng lợi nên ông cha ta đã có câu: “Có công mài sắt có ngày nên kim” Cây kim được làm bằng sắt thật là nhỏ bé nhưng cũng thật hoàn hảo Bởi từ sắt nên kim là cả một quá trình tôi luyện, mài dũa công phu Thanh sắt và cây kim là hình ảnh sinh động thể hiện cho mối quan hệ giữa lượng và chất, quá trình chuyển hoá từ thanh sắt thành cây kim tức là quá trình thanh sắt tích luỹ về lượng và trong quá trình đó nhũng thuộc tính mới ra đời cùng với một sự vật khác tức là cây kim “Quy luật từ những thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại.” là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho biết cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Vì vậy, quy luật này
có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống con người
Giống như sinh viên chúng ta, thi đỗ Đại học hẳn là niềm vui , là mục tiêu phấn đấu Nhưng khi đạt được nó , bước chân vào cánh cổng Đại học thì lại có biết bao dự tính , kế hoạch được đặt ra Có thể nói Đại học như là nơi chúng ta đặt nền móng cho những ước mơ của mình Tuy nhiên, không phải khi học Đại học không phải ai cũng có thể phát huy được hết khả năng của mình giống như hồi học phổ thông Bởi lẽ trong quá trình học tập và nghiên cứu sinh viên phải tham gia vào rất nhiều hoạt động khác nhau Do đó vấn đề đặt ra
là mỗi sinh viên cần phải xây dựng cho mình một phương pháp học tập , rèn luyện phù hợp với bản thân , với điều kiện sống đống thời đáp ứng được những yêu cầu của nhà trường , xã hội Đó là lý do , em quyết định lựa chọn đề tài: “Quy luật từ những thay đổi về lượng thành
sự thay đổi về chất và ngược lại Vận dụng quy luật này vào quá trình học tập của sinh viên hiện nay” để làm tiểu luận của em
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Vị trí và vai trò của quy luật
Vị trí quy luật: Quy luật này chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động và phát triển, khi cho thấy sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi sự vật , hiện tượng đã tích luỹ những thay đổi
về lượng đạt đến ngưỡng nhất định Quy luật cũng chỉ ra tính chất của sự vận động và phát triển , khi cho thấy sự thay đổi về lượng của sự vật , hiện tượng diễn ra từ từ kết hợp với sự thay đổi nhảy vọt về chất làm cho sự vật , hiện tượng vừa tiến bước tuần tự , vừa có những bước đột phá vượt bậc Ăngghen viết: “ trong giới tự nhiên thì những sự biến đổi về chất -xảy ra một cách xác định chặt chẽ đối với từng trường hợp cá biệt - chỉ có thể có được do thêm vào hay bớt đi một số lượng vật chất hay vận động”
2 Khái niệm và phân tích khái niệm
Trang 42.1, Khái niệm, đặc điểm về chất và phân biệt chất với thuộc tính
Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật , hiện tượng;
là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính , yếu tố tạo nên sự vật , hiện tượng làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải là sự vật , hiện tượng khác (trả lời cho câu hỏi sự vật , hiện tượng đó là gì ? và giúp phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác) Ví dụ: Chất của con người là đó là biết lao động,có ngôn ngữ , biết tư duy
Chất thể hiện tính ổn định tương đối của sự vật , hiện tượng; nghĩa là khi nó chưa chuyển hóa thành sự vật , hiện tượng khác thì chất của nó vẫn chưa thay đổi Ví dụ: Chất của em một sinh viên ; thì ngày mai , năm sau , năm sau nữa em vẫn là sinh viên Vì vậy nó thể hiện tính ổn định tương đối
Mỗi sự vật , hiện tượng đều có quá trình tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn , trong mỗi giai đoạn ấy nó lại có chất riêng Như vậy, mỗi sự vật , hiện tượng không phải chỉ
có một chất mà có nhiều chất.Ví dụ: Trong quan hệ với thầy cô giáo chất của em là sinh viên , nhưng trong quan hệ với cha mẹ chất của em không phải là sinh viên nữa mà chất lức này của em là con,…
Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật Ví dụ: Thuộc tính cơ bản của sinh viên là học tập , rèn luyện , Còn sau khi tốt nghiệp
đi làm chất của em là một nhân viên thì thuộc tính cơ bản của em không còn là học tập nữa Trước đây nó là thuộc tính cơ bản bây giờ nó là thuộc tính không cơ bản
Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành , nghĩa là bởi kết cấu của sự vật Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tố như nhau , song chất của chúng lại khác Ví dụ: Hai đội bóng đá Việt Nam và Brazil nếu hai đội bóng đá dưới sân số lượng cầu thủ hai đội như nhau đều là 11 cầu thủ , đều có huấn luyện viên trưởng ,…Nhưng mà phương thức liên kết, sơ đồ chiến thuật như thế nào mà nó mang lại hiệu quả.Vẫn là đội bóng Việt Nam vẫn là huấn luyện viên trưởng nhưng rõ ràng chất của bóng đá Việt Nam với chất đội bóng Brazil là khác nhau , đẳng cấp hai đội khác nhau
2.2 Khái niệm và đặc điểm của lượng
Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật , hiện tượng về mặt quy mô , trình độ phát triển , các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộc tính , ở tổng số các
bộ phận, ở đại lượng , ở tốc độ và nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật , hiện tượng Lượng còn biểu hiện ở kích thước dài hay ngắn , số lượng lớn hay nhỏ , tổng số ít hay nhiều , trình độ cao hay thấp, tốc độ vận động nhanh hay chậm, màu sắc đậm hay nhạt."Những lượng không tồn tại mà những sự vật có lượng hơn nữa những sự vật có vô vàn lượng mới tồn tại"–Ph Ăngghen.Ví dụ: Toà nhà 10 tầng cao 40 m hay đối với mỗi phân tử
Trang 5nước (H2O) , lượng là số nguyên tử tạo thành nó , tức là 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử Oxi
Đặc điểm cơ bản của lượng là tính biến đổi.Ví dụ: Lượng kiến thức , kỹ năng của sinh viên thay đổi qua từng ngày , tháng , kì ,…
Trong sự vật, hiện tượng có rất nhiều loại lượng khác nhau ; có lượng là quy định tính bên trong ; có lượng chỉ thể hiện yếu tố bên ngoài; sự vật hiện tượng càng phức tạp thì lượng của chúng thì cũng phức tạp theo Ví dụ: Trong con người có số lượng các cơ quan như tuần hoàn , hô hấp , chiều cao , cân năng ,
Trong tự nhiên và phần nhiều trong xã hội,lượng có thể đo , đong , đếm , tính toán được; nhưng trong một số trường hợp của xã hội và nhất là trong tư duy lượng khó đo được bằng số liệu cụ thể mà chỉ có thể nhận biết được bằng năng lực trừu tượng hoá Ví dụ: Về nhận biết bằng năng lượng trừu tượng hoá là khi hỏi phong trào học tập , hoạt động Đoàn thể của lớp như thế nào ? Thì chúng ta cũng chỉ có thể trả lời sôi nổi hay không thôi chứ chúng
ta không thể đưa ra được một con số cụ thể
3 Mối quan hệ giữa lượng và chất
3.1 Từ những thay đổi về lượng dẫn đến những sự chuyển hoá về chất
Mọi sự vật hiện tượng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng Trong đó chất tương đối ổn định , lượng thường xuyên biến đổi Mọi sự vận động , phát triển luôn bắt đầu
từ sự thay đổi về lượng , dẫn đến sự chuyển hoá về chất
Quá trình thay đổi của lượng diễn ra theo xu hướng hoặc tăng hoặc giảm nhưng không lập tức dẫn đến sự thay đổi chất của sự vật , hiện tượng ; chỉ khi nào lượng thay đổi đến giới hạn nhất định mới dẫn đến sự thay đổi về chất Sự biến đổi về lượng trong một khoảng giới hạn nhất định mà chưa dẫn đến sự thay đổi về chất gọi là độ
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ khoảng giới hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng của
sự vật chưa đủ làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy Độ là mối liên hệ giữa lượng và chất của sự vật, ở đó thể hiện sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật Trong độ, sự vật vẫn là
nó chứ chưa biến thành cái khác Ví dụ: Năm sau , năm sau nữa chất của em vẫn là sinh viên mặc dù số lượng tín chỉ thay đổi , thời gian học thay đổi , lượng kiến thức kĩ năng , năng lực,phẩm chất thay đổi , qua từng ngày , từng kì , từng tháng , từng năm nhưng nó vẫn trong khoảng giới hạn đấy thôi chất của chúng ta vẫn chỉ là sinh viên Vì vậy , đối với sinh viên độ chính là khoảng thời gian bắt đầu từ năm nhất đến năm tư mặc dù lượng thay đổi nhưng chất chưa biến đổi
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất Giới hạn đó chính là điểm nút
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã
đủ làm thay đổi về chất của sự vật Sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút sẽ làm cho chất mới của nó ra đời Lượng mới và chất mới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên độ mới và
Trang 6điểm nút mới của sự vật đó, quá trình này diễn ra liên tiếp trong sự vật và vì vậy sự vật luôn phát triển chừng nào nó còn tồn tại Ví dụ: điểm nút của học sinh lớp 12 là kì thi THPT quốc gia
Chất của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi gây ra gọi là bước nhảy Bước nhảy
là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên
Bước nhảy là sự kết thúc của một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới Đó là sự gián đoạn trong quá trình vận động và phát triển liên tục của sự vật Có thể nói trong quá trình phát triển của sự vật, sự gián đoạn là tiền đề cho sự liên tục và sự liên tục là sự kế tiếp của hàng loạt sự gián đoạn Ví dụ: Thông qua kì thi THPT quốc gia chúng ta đã thực hiện , xảy ra bước nhảy để thay đổi về chất là chúng ta
đã tốt nghiệp rồi và chuyển sang chất mới là sinh viên , công nhân ,…
Căn cứ vào quy mô và nhịp điệu của bước nhảy có bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của toàn bộ các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật Ví dụ:Học sinh dự kỳ thi tốt nghiệp cuối khóa Còn bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật Ví dụ : Khi thi hết môn Sự phân biệt bước nhảy toàn bộ hay cục bộ chỉ có ý nghĩa tương đối , bới chúng đều là kết quả của quá trình thay đổi về lượng
Căn cứ vào thời gian của sự thay đổi về chất và dựa trên cơ chế của sự thay đổi đó , có bước nhảy tức thời và bước nhảy dần dần Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn làm thay đổi chất của toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật Ví dụ: khi khối lượng Uranium 235 đạt tới khối lượng giới hạn thì sẽ xảy ra vụ nổ nguyên tử trong chốc lát Còn bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất
đi Ví dụ: quá trình chuyển hoá từ Vượn thành Người diễn ra lâu dài, hàng vạn năm
3.2 Sự tác động trở lại của chất đối với lượng
Chất mới ra đời đã tác động trở lại với lượng mới làm thay đổi kết cấu , quy mô , trình
độ , nhịp độ của sự vận động và phát triển của lượng mới Chất là một yếu tố ổn định khi lượng đổi trong phạm vi độ, chất chưa có sự biến đổi căn bản Chất đổi bằng với việc nhảy vọt tại điểm nút Biến đổi về chất diễn ra nhanh chóng đột ngột và toàn diện dẫn đến chất cũ mất đi chuyển hóa thành chất mới Chất đổi sinh ra sự vật mới mang một lượng mới , mang một thể thống nhất giữa chất và lượng mới và tiếp tục quá trình biện chứng giữa chất và lượng trong sự tồn tại và phát triển của sự vật mới Ví dụ khi trở thành cử nhân thì tốc độ đọc , hiểu , giải quyết một vấn đề sẽ tốt hơn khi còn là sinh viên hay khi trở thành thạc sĩ nhận thức , giải quyết vẫn đề sẽ toàn diện, tốt hơn cả cử nhân
4 Ý nghĩa
Trang 7Thứ nhất , trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết tích luỹ về lượng
để có biến đổi về chất ; không được nôn nóng cũng như không được bảo thủ Bước nhảy làm cho chất mới ra đời , thay thế chất cũ là hình thức tất yếu của sự vận động , phát triển của mọi sự vật , hiện tượng ; nhưng sự thay đổi về chất do thực hiện bước nhảy gây nên chỉ xảy
ra khi lượng đã thay đổi đến giới hạn, tức là đến điểm nút , đến độ nên muốn tạo ra bước nhảy thì phải thực hiện quá trình tích luỹ về lượng Ví dụ như nhà phát minh Thomas Edison từng nói “ Thiên tài một phần trăm là cảm hứng và chín mươi chín phần trăm là mồ hôi.” Vì vậy chẳng có cái gì tự nhiên mà có , chẳng ai tự nhiên có bộ óc bách khoa mà nó phải trải qua quá trình tích luỹ , học hỏi không ngừng nghỉ về lượng mới có thể thay đổi về chất được Giống như có một số bạn sinh viên muốn ra trường sớm hơn đăng kí quá nhiều tín chỉ trong một kì trong khi năng lực thì hạn chế dẫn đến học lại , ra trường muộn hơn lãng phí thời gian , công sức , của cải Vì vậy phải biết mình , biết ta không được đua theo người khác , nôn nóng đốt cháy giai đoạn
Thứ hai, khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quan của sự vận động của sự vật , hiện tượng; tư tưởng nôn nóng thường biểu hiện ở chỗ không chú ý thỏa đáng đến sự tích luỹ về lượng mà cho rằng , sự phát triển của sự vật, hiện tượng chỉ là những bước nhảy liên tục ; ngược lại, tư tưởng bảo thủ thường biểu hiện ở chỗ không dám thực hiện bước nhảy , coi sự phát triển chỉ là những thay đổi về lượng Do vậy , cần khắc phục cả hai biểu hiện trên Ví dụ: Học tín chỉ có thể rút ngắn thời gian đào tạo nhưng nhiều bạn sinh viên thiếu tự tin , học ỷ lại gia đình có điều kiện , “quyết tâm” không ra trường , lỡ mất nhiều cơ hội xin việc làm
Thứ ba , sự tác động của quy luật này đòi hỏi phải có thái độ khách quan , khoa học và quyết tâm thực hiện bước nhảy ; tuy đều có tính khách quan, nhưng quy luật xã hội chỉ diễn
ra thông qua hoạt động có ý thức của con người ; do vậy , khi thực hiện bước nhảy trong lĩnh vực xã hội , tuy vẫn phải tuân theo điều kiện khách quan , nhưng cũng phải chú ý đến điều kiện chủ quan Ví dụ: Mỗi sinh viên cần dựa vào điều kiện , hoàn cảnh của mình , dựa vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường để chúng ta phát triển nhanh về tri thức , kỹ năng , phương pháp học tập , thái độ , vận dụng các bước nhảy nhanh, chậm
Thứ tư , quy luật yêu cầu phải nhận thức được sự thay đổi về chất còn phụ thuộc vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng ; do đó, phải biết lựa chọn phương pháp phù hợp để tác động vào phương thức liên kết đó trên cơ sở hiểu rõ bản chất, quy luật của chúng.Ví dụ: Để trở thành một kỹ sư , cử nhân giỏi , mỗi sinh viên cần phải yêu quý tri thức , say mê nghiên cứu , gắn kết chặt chẽ với thầy cô để học hỏi ; sử dụng hiệu quả phòng thí nghiệm ; tham gia tích cực , năng nổ các phong trào của trường để nâng cao trình
độ chuyên môn , kỹ năng thực hành , kỹ năng giao tiếp ,…
II VẬN DỤNG
1 Giáo dục đại học của nước ta hiện nay
1.1 Mục tiêu của giáo dục đại học
Trang 8Theo điều 5 của Luật GDĐH có nêu hai mục tiêu của GDĐH:
Đào tạo nhân lực , nâng cao dân trí , bồi dưỡng nhân tài ; nghiên cứu khoa học công nghệ tạo ra tri thức , sản phẩm mới , phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội , bảo đảm quốc phòng , an ninh và hội nhập quốc tế
Đào tạo người học có phẩm chất chính trị , đạo đức ; có kiến thức , kĩ năng thực hành nghề nghiệp , năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo ; có sức khỏe ; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề
nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc ; có ý thức phục vụ nhân dân.
Như vậy, các mục tiêu của GDĐH ở Việt Nam hiện nay cũng đã nhấn mạnh đến việc đào tạo nguồn nhân lực có đủ kiến thức , kĩ năng và các phẩm chất đạo đức cần có Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học – công nghệ và hội nhập quốc tế ở thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 thì cần phải cụ thể hóa một số mục tiêu để đạt được tính hiện đại , tổng quát
và hội nhập Đó là việc đào tạo nguồn nhân lực cao có tư duy phản biện và sáng tạo , có trí tưởng tượng phong phú và phóng khoáng , là một vũ trụ của tri thức , tạo môi trường tự do học thuật để nhắm tới sự tự do theo đúng nghĩa , tạo ra được những đội ngũ học giả biết đối
xử với kiến thức một cách đầy tưởng tượng , tạo ra những con người có niềm đam mê lớn lao với kinh doanh và khởi nghiệp , biết cách đặt và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo và hiệu quả , biết truyền cảm hứng cho các thế hệ trẻ , giao tiếp hiệu quả bằng lời nói và văn bản , có trình độ ngoại ngữ tốt để phục vụ công việc và nghiên cứu khoa học , ham hiểu biết
và có khả năng tự học và học tập suốt đời, sống tử tế và có trách nhiệm xã hội
1.2 Phương pháp dạy học ở đại học
Thực tế cho thấy, trong hoạt động dạy và học giữa người dạy và người học cần kết hợp nhiều phương pháp đồng thời nhằm đảm bảo sự phù hợp cho từng nội dung , yêu cầu của bài học cũng như nâng cao hiệu quả tối đa cho công tác dạy và học của cơ sở đào tạo Hiện nay, các phương pháp dạy học thường được áp dụng tại các trường đại học như sau: phương pháp dạy học truyền thống , phương pháp dạy học chủ động và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp dạy học truyền thống là cách thức dạy học quen thuộc được duy trì qua nhiều thế hệ Về cơ bản , phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp “lấy hoạt động của người dạy là trung tâm”, là quá trình truyền tải thông tin từ giảng viên đến sinh viên Giảng viên là người thuyết trình , diễn giảng, sinh viên là người nghe , nhớ , ghi chép và suy nghĩ theo Phương pháp dạy học truyền thống cung cấp những tri thức có sẵn một cách áp đặt , tỉ mỉ , cặn kẽ Hoạt động nhận thức của sinh viên hoàn toàn thụ động , mang tính ghi nhớ, tái hiện Trong nghiên cứu này , chỉ tập trung nghiên cứu một số phương pháp dạy học truyền thống phổ biến như: phương pháp diễn giảng và phương pháp dạy học , luyện tập ,
và thực hành
Phương pháp dạy học chủ động là phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động , sáng tạo của người học "Chủ động" trong phương pháp dạy học chủ động được dùng với nghĩa là hoạt động , tích cực , trái nghĩa với bị động , thụ động Phương pháp dạy học
Trang 9chủ động hướng tới việc chủ động hóa hoạt động nhận thức của người học , tập trung vào phát huy tính chủ động , sáng tạo của người học Một số phương pháp dạy học chủ động được áp dụng phổ biến hiện nay tại các trường đại học như: phương pháp đàm thoại ; phương pháp dạy học giải quyết vấn đề ; phương pháp dạy học theo dự án ; phương pháp dạy học giải quyết vẫn đề, phương pháp dạy học theo nhóm ,…
Phương pháp nghiên cứu khoa học là tổ chức quá trình người học lĩnh hội nội dung dạy học theo logic nghiên cứu khoa học Trình tự logic của nghiên cứu khoa học có thể được mô hình hóa qua các giai đoạn cơ bản Áp dụng mô hình này vào việc dạy học với tư cách một phương pháp dạy học chúng ta có thể nói đến một trật tự tương tự trong thiết kế từng môn học và từng vấn đề trong nội dung môn học Việc nghiên cứu một môn học hay một bài học
sẽ bắt đầu từ việc người dạy cùng với người học phát hiện/đặt ra vấn đề cần giải quyết trong khuôn khổ môn học và liên môn Giai đoạn tiếp theo sẽ là giải quyết vấn đề đặt ra thông qua các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn do người học tiến hành Ở đây công việc của người dạy
là hướng dẫn và trợ giúp, công việc của người học là người thực hiện việc giải quyết vấn đề Giai đoạn cuối sẽ là đánh giá việc đặt và giải quyết vấn đề, và trên cơ sở đó đặt ra những vấn
đề mới để giải quyết Cứ như vậy toàn bộ quá trình dạy học sẽ là một chu trình liên tục đặt
và giải quyết các vấn đề Từ đó , bảo đảm vị thế tích cực , chủ động của người học Người học được đặt vào vị trí chủ động nhất: tìm tòi , phát hiện và độc lập giải quyết (thông qua các nghiên cứu lý luận và thực tiễn do chính mình thực hiện) các vấn đề
1.3 Ý nghĩa của giáo dục đại học
Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý , thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin
cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới và khám phá mới
Nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống , phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe , phát triển năng lực trí tuệ , bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ , các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn
Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật , y dược , khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác ; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng
Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội , giảm thiểu những khác biệt về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục
Nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững , tốt đẹp của cá nhân và xã hội , và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này ra cho cả cộng đồng
Trang 102 Thực trạng của sinh viên trong giáo dục đại học hiện nay ( đào tạo theo tích lũy tín chỉ)
2.1 Khái niệm tín chỉ
Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức , kĩ năng của một môn học mà người học cần tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: học tập trên lớp; học tập trong phòng thí nghiệm , thực tập hay làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên) ; và tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu , giải quyết vấn đề hay chuẩn bị bài Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn Trong thực tế ở một số Trương ĐH Việt nam hay cụ thể hơn là ở Trường chúng ta tín chỉ lại được hiểu gần giốn như một đơn vị học trình và một môn học được đo bằng nhiều tín chỉ Mỗi một môn học hoàn thành thì sinh viên coi như đã tích l số tín chỉ theo quy định
2.2 Đặc điểm của tín chỉ
Đòi hỏi sinh viên phải tích luỹ kiến thức theo từng học phần (tín chỉ)
Kiến thức cấu trúc thành các môđun (học phần)
Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ
Chương trình đào tạo mềm dẻo (có học phần bắt buộc và học phần tự chọn)
Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ
Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm
Đơn vị học vụ là học kỳ Mỗi năm có thể chia thành 2 học kỳ (15 tuần); 3 học kỳ (15 tuần); hay 4 học kỳ (10 tuần)
Ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi học phần
Có hệ thống cố vấn học tập
Có thể tuyển sinh theo học kỳ
Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khoá luận tốt nghiệp đối với các chương trình đại học hay cao đẳng
Chỉ có 1 văn bằng chính quy đối với 2 loại hình tập trung và không tập trung
2.3 Những ưu nhược điểm của tín chỉ
* Ưu điểm
Đào tạo theo tín chỉ – lấy sinh viên làm trung tâm – phát huy được tính chủ động , sáng tạo của người học Sinh viên sẽ được tự học , tự nghiên cứu và quá trình này sẽ được tính vào nội dung , cũng như thời lượng học Từ đó hình thức này cũng giúp giảm thiểu sự nhồi nhét kiến thức của giảng viên và phát huy được sự sáng tạo , chủ động cho sinh viên