(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi(Luận văn thạc sĩ) Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông xước bố mẹ giai đoạn 24 40 tuần tuổi
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––
ĐÀO PHƯƠNG TUẤN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ PROTEIN
TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ LÔNG XƯỚC BỐ MẸ GIAI ĐOẠN 24 – 40
TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐÀO PHƯƠNG TUẤN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC TỶ LỆ PROTEIN
TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ LÔNG XƯỚC BỐ MẸ GIAI ĐOẠN 24 – 40
TUẦN TUỔI
Ngành: Chăn nuôi
Mã ngành: 8 62 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Thị Bích Ngọc
PHÒNG ĐÀO TẠO KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản
xuất của gà lông Xước bố mẹ giai đoạn 24 - 40 tuần tuổi” được triển khai tại trung
tâm Đào tạo, Nghiên cứu Giống cây trồng và vật nuôi – Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên
Các số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ
ràng Tác giả xin chịu trách nhiệm về nội dung và các công bố trong luận văn
Tác giả
Đào Phương Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà trường, Bộ phận Sau Đại học -phòng Đào tạo, khoa Chăn nuôi Thú y và giảng viên hướng dẫn tôi đã hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, bộ phận Sau Đại học trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của PGS.TS Lê Minh đã cộng tác, tạo điều kiện
để bố trí thí nghiệm, tiến hành đề tài thuận lợi và các em sinh viên K48 Chăn nuôi và Thú y, giúp đỡ trong quá trình tiến hành, theo dõi các thí nghiệm
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn giảng viên hướng dẫn TS Hồ Thị Bích Ngọc đã tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2021
Tác giả
Đào Phương Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Khả năng sinh sản của gia cầm 3
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trứng của gia cầm sinh sản 5
1.1.3 Protein trong chăn nuôi gia cầm sinh sản 15
1.2 Một số thông tin về gà Lông Xước 18
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 Đối tượng 24
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 24
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 24
Trang 62.4.2 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi 26
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến tỷ lệ loại thải và khối lượng của gà lông Xước bố mẹ 31
3.2 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến năng suất sinh sản của gà lông Xước bố mẹ giai đoạn 24 -40 tuần tuổi 33
3.2.1 Tỷ lệ đẻ 33
3.2.2 Năng suất trứng 35
3.2.3 Khối lượng trứng 38
3.2.4 Tỷ lệ trứng giống 40
3.2.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà lông Xước bố mẹ giai đoạn 24-40 tuần tuổi 41
3.3 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến chất lượng trứng của gà lông Xước bố mẹ 46
3.4 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến kết quả ấp nở trứng gà lông Xước bố mẹ giai đoạn 24-40 tuần tuổi 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
cs Cộng sự
CP
ME Nxb Nhà xuất bản
TA Thức ăn TTTA Tiêu tốn thức ăn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 25
Bảng 2.2 Khẩu phần thức ăn cho gà lông Xước thí nghiệm 25
Bảng 3.1 Tỷ lệ loại thải và khối lượng gà thí nghiệm 31
Bảng 3.2 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 34
Bảng 3.3 Năng suất trứng của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi (quả/mái/tuần) 36
Bảng 3.4 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 38
Bảng 3.5 Tỷ lệ trứng giống (%) của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 40
Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 42
Bảng 3.7 Tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng giống của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 44
Bảng 3.8a Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến chất lượng trứng của gà thí nghiệm ở 28 tuần tuổi 47
Bảng 3.8b Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến chất lượng trứng của gà thí nghiệm ở 32 tuần tuổi 49
Bảng 3.8c Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến chất lượng trứng của gà thí nghiệm ở 38 tuần tuổi 51
Bảng 3.9a Kết quả phân tích thành phần hóa học của trứng gà thí nghiệm ở 28 tuần tuổi 52
Bảng 3.9b Kết quả phân tích thành phần hóa học của trứng gà thí nghiệm ở 32 tuần tuổi 53
Bảng 3.9c Kết quả phân tích thành phần hóa học của trứng gà thí nghiệm ở 38 tuần tuổi 55
Bảng 3.10a Ảnh hưởng của tỷ lệ protein đến tỷ lệ trứng có phôi/trứng ấp của trứng gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 56
Bảng 3.10b Ảnh hưởng của tỷ lệ protein đến tỷ lệ nở/trứng có phôi của gà thí nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 57
Trang 9Bảng 3.10c Ảnh hưởng của tỷ lệ protein đến tỷ lệ gà loại 1/trứng ấp của gà thí
nghiệm giai đoạn 24-40 tuần tuổi 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Chúng ta biết rằng, bên cạnh việc chọn lọc và cải tạo giống, thức ăn và nuôi dưỡng là yếu tố môi trường tác động lớn trong việc cải thiện chất lượng vật nuôi Thức ăn ảnh hưởng đến toàn bộ sự sống và sức sản xuất, mức độ hoàn hảo của thức ăn tác động trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và khả năng sản xuất của vật nuôi Số lượng, chủng loại và chất lượng thức ăn đặc biệt là thức ăn giàu protein, là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm của ngành chăn nuôi
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất trong thức ăn của gia súc gia cầm, vì đó là chất chủ yếu trong thành phần các chất tạo nên tế bào và mô, nó cung cấp một phần năng lượng cho cơ thể, có tác dụng phát huy hiệu lực dinh dưỡng của các chất khác Vai trò của các protein trong cơ thể gia cầm rất to lớn và đa dạng, chúng là phần chức năng cấu trúc trước nhất của các mô khung và bảo vệ: của xương, sụn, da, lông… Không có các protein - enzyme làm tăng nhanh tất cả các quá trình chuyển hóa sinh học trong cơ thể thì quá trình trao đổi chất sẽ không thể diễn ra bình thường Sự tiêu hóa thức ăn, sự hấp thu chất dinh dưỡng từ đường tiêu hóa và việc sử dụng chúng tiếp theo được thực hiện trong sự tham gia nhất thiết của nhiều enzyme Trong cơ thể có tạo ra các protein bảo vệ đặc biệt hoặc là các protein miễn dịch, ngăn ngừa tác động của các protein lạ hoặc vi sinh vật xâm nhập vào bên trong cơ thể Hiện tượng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự đấu tranh của cơ thể gia cầm chống lại các vi sinh vật và virut gây bệnh
Trong cơ thể gia cầm, phần protein chiếm gần 18 - 22% khối lượng của tất cả các chất trong cơ thể, các protein chỉ có thể được tổng hợp khi nào trong thức ăn gia cầm chứa đầy đủ số lượng và chất lượng nhất định Trong các sản phẩm chăn nuôi gia cầm: thịt, trứng, lông vũ…hàm lượng protein đạt tới 50% trở lên khối lượng chất khô Trong cơ thể, khi không có đủ các protein trong thức ăn thì trao đổi chất bị phá hủy, sinh trưởng chậm lại, sản lượng cũng như khả năng chống chịu bệnh đều giảm Thức ăn quá thừa protein cũng thể hiện xấu ở sức khỏe gia cầm Điều này được giải thích là khi thừa protein trong khẩu phần thì trong cơ thể tích lũy một lượng đáng kể
Trang 11các sản phẩm độc như amoniac, các muối amon, axit uric, ure, các amin và các chất khác
Trong những năm qua, thành phần của khẩu phần ăn cho gà mái đẻ có nhiều thay đổi Khẩu phần ăn có thể thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố như dòng giống, sản lượng, độ tuổi và điều kiện thời tiết (Shim và cs., 2013) Mức độ protein trong khẩu phần ăn gà mái là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất trứng và khối lượng trứng Một số nhà nghiên cứu báo cáo xu hướng chung là tăng sản lượng trứng
và khối lượng trứng với sự tăng tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn (Mohiti-Asli và cs., 2012; Shim và cs., 2013) Gà mái đẻ sử dụng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần
ăn để tạo ra trứng nên chất lượng khẩu phần ăn hợp lý rất quan trọng đối với chăn nuôi gia cầm đẻ, đặc biệt khi 65 đến 75% chi phí để sản xuất trứng là do chi phí thức
ăn (Bell và Weaver, 2002) Vì vậy, nó ngày càng trở nên quan trọng để các nhà chăn nuôi tìm ra lượng dinh dưỡng thích hợp trong khẩu phần để cân bằng giữa thức ăn và chi phí ít nhất trong suốt chu kỳ đẻ của chúng để tối đa hóa lợi nhuận (Shim và cs., 2013)
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến khả năng sản xuất của gà lông Xước bố mẹ giai đoạn 24 - 40 tuần tuổi”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được tỷ lệ protein thích hợp trong khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà lông Xước bố mẹ giai đoạn 24 – 40 tuần tuổi
3 Ý nghĩa của đề tài
- Hoàn thiện, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà lông Xước bố mẹ
- Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà lông Xước bố mẹ và phát triển
vùng sản xuất gà lông Xước chất lượng cao
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khả năng sinh sản của gia cầm
1.1.1.1 Cơ sở khoa học của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệt của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về năng suất trứng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở Đối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản của chúng cũng rất khác nhau
Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của một gia cầm mái trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng
là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể
Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng sớm, do đó trong chăn nuôi gà sinh sản người ta thường quan tâm đến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai đoạn cuối gà con, giai đoạn gà dò - hậu
bị để đảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai đoạn đẻ trứng Theo Bùi Thị Oanh, (1996) thì năng suất trứng còn phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của thức
ăn, đặc biệt là mức năng lượng trao đổi, hàm lượng protein và các axit amin thiết yếu trong khẩu phần thức ăn của gia cầm sinh sản Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn Nguyễn Văn Thiện, (1995) cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 - 0,3 Đối với tính trạng năng suất trứng, để cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai, kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả
Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng có liên quan chặt chẽ với nhau, tỷ lệ đẻ trứng được tính theo tuần, tháng, năm, đó cũng thể hiện cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian Cường độ đẻ trứng phụ thuộc vào độ dài của chu kỳ đẻ trứng, chu kỳ
Trang 13đẻ trứng chính là thời gian gia cầm đẻ liên tục không bỏ ngắt quãng còn được gọi là trật đẻ Cường độ đẻ trứng có tương quan dương và chặt chẽ với sản lượng trứng ấy
là tính trạng có hệ số di truyền cao, thường được sử dụng để chọn lọc nâng cao năng suất trứng (Wegner, 1980) cho biết hệ số di truyền về cường độ đẻ trứng của gà vào loại cao h2 = 0,66
1.1.1.2 Chất lượng trứng
Trứng gia cầm gồm 3 phần cơ bản đó là vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng Vương Đống, (1968) cho biết tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng 57- 60%; lòng đỏ 30 - 32% Thành phần hóa học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 - 74,4% ; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0%
- Chỉ số hình thái: Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình thái của trứng
là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng, đặc biệt là trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm đều có chỉ số hình thái riêng Chỉ số hình thái của trứng gà biến thiên từ 1,34 - 1,36; chỉ số này ở gà
Ri là 1,30 và gà Ri lai (Ri x Sasso x Lương Phượng) là 1,32 (Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng, 2016), gà Đông Tảo là 1,31 và gà F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) là 1,34 Trứng gà Tam Hoàng có chỉ số hình thái trứng trung bình 1,24 - 1,39 cho kết quả ấp
nở cao hơn so với nhóm trứng có chỉ số hình thái nằm ngoài biên độ này (Nguyễn Văn Duy và cs, 2020); (Nguyễn Quý Khiêm, 2003)
- Độ dày và độ bền vỏ trứng: độ dày, độ bền hay độ chịu lực của vỏ trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng tới kết quả
ấp nở và bao gói vận chuyển, nó phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nhiệt độ chuồng nuôi, tuổi già hay stress đều làm giảm độ dày và sức bền
vỏ trứng
Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc lớp
màng vỏ dai trắng Độ dày vỏ trứng có tương quan dương với độ bền và ảnh hưởng đến kết quả ấp nở, thường trứng có vỏ quá dày hoặc quá mỏng đều cho tỷ lệ nở kém
Vỏ trứng quá dày làm hạn chế sự bốc hơi nước của trứng, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở Nếu vỏ trứng quá mỏng làm quá trình bay hơi nước diễn ra nhanh, khối lượng trứng giảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, gia cầm con nở ra yếu và tỷ lệ chết cao, độ dày lý tưởng của vỏ trứng từ 0,26 - 0,34 mm
Trang 14Ngoài ra độ dày vỏ trứng còn chịu ảnh hưởng của môi trường như thức ăn, tuổi gà, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác
- Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh: Khi đánh giá chất lượng trứng giống cũng như trứng thương phẩm người ta đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này, các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở càng cao Chỉ số lòng đỏ: chất lượng lòng đỏ được xác định bởi chỉ số lòng đỏ, mà chỉ số này là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ với đường kính của nó Chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,4 - 0,42 Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt
Chỉ số lòng trắng là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn
và đường kính nhỏ của nó, chỉ số này lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng
Đơn vị Haugh được sử dụng để đánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt, đơn vị Haugh chịu ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị Haugh càng thấp) bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước khi thay lông) và giống gia cầm Chất lượng trứng rất tốt
có đơn vị Haugh 80 – 100; tốt: 65 – 79; trung bình: 55 - 64 và xấu là dưới 55
Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng, (2016) nghiên cứu chất lượng của trứng
gà Ri và gà Ri lai (Ri x Sasso x Lương Phượng) thu được kết quả lúc 38 tuần tuổi có chỉ số Haugh là 80,90 và 81,56 Trương Văn Phước, (2021) nghiên cứu trên trứng gà
Ác ở tỷ lệ axit amin khác nhau trong khẩu phần có chỉ số Haugh dao động từ 71,02- 76,95
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trứng của gia cầm sinh sản
1.1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng
Sản lượng trứng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chất lượng và số lượng của thức ăn, lượng nước uống vào, cường độ và thời gian chiếu sáng, sự xâm nhập của ký sinh trùng, bệnh tật, và nhiều yếu tố sinh lý, quản lý và môi trường khác
* Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính
Trang 15Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo Đồ thị đẻ trứng của gia cầm đạt đến đỉnh cao nhanh chủ yếu là do tuổi thành thục về tính của từng cá thể trong đàn sớm
Gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học Nhưng nếu
gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài Tuổi và năm đẻ của gia cầm
có liên quan đến sản lượng trứng/năm Chu kỳ đẻ của gà thường khoảng 12 tháng Quá trình sản xuất trứng bắt đầu khi gà đạt khoảng 18–22 tuần tuổi, tùy thuộc vào giống và mùa vụ Sản lượng trứng tăng mạnh và đạt đỉnh cao khoảng 90% sau 6–8 tuần Sản xuất trứng giảm dần xuống còn khoảng 65% sau 12 tháng Gà có thể sống nhiều năm và tiếp tục đẻ trứng trong nhiều năm Tuy nhiên, sau hai hoặc ba năm nhiều gà mái giảm năng suất đáng kể Khi gia cầm đẻ năm thứ hai thì sản lượng trứng
giảm 10-20% (Jacqueline Jacob, 2014)
* Ảnh hưởng của sự thay lông đến sản lượng trứng
Gà mái đẻ tốt trong khoảng 50 đến 60 tuần và sau đó có một khoảng thời gian thay lông Gà đẻ kém và gà mái già sẽ thay lông thường xuyên và đẻ ít hơn (Jacqueline Jacob, 2014) Sự thay lông là một quá trình sinh lý học tự nhiên Ở gia cầm hoang thì thời gian thay lông thường phụ thuộc vào mùa Thông thường, chúng thay lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp Sự thay lông là kết quả hoạt động tương tác phức hợp của các hormone gonadotropin Các hormone khác như thyroxine và prolactin cũng hoạt động tương tác với hormone gonadotropin (Rose, 1997) Sức đẻ trứng giảm ngay khi gà rụng lông Thời gian rụng lông kéo dài trong vòng 10 ngày và sau khoảng 15 ngày thì lông mới được mọc ra Gia cầm có thể
đẻ trở lại trước khi bộ lông mới mọc đầy đủ
* Ảnh hưởng của bệnh đến sản lượng trứng
Nội ký sinh trùng có thể gây ra tình trạng sử dụng thức ăn kém hiệu quả, sinh trưởng kém, giảm sản lượng trứng và chết khi nhiễm bệnh nặng Gà bị nhiễm bệnh cũng có thể dễ mắc các bệnh kế phát Bệnh cầu trùng khiến cho gà gầy hốc hác, giảm
rõ rệt lượng thức ăn tiêu thụ, gà bị tiêu chảy và giảm sản lượng trứng, tỷ lệ chết cao
Gà đẻ mắc bệnh CRD có các triệu chứng đặc trưng như thở hổn hển, hắt hơi, ho và sản lượng trứng giảm rõ rệt Chất lượng trứng cũng ảnh hưởng xấu Chất lượng trứng
Trang 16thấp và vỏ không đều, vỏ mềm hoặc sai lệch hình dạng Bệnh Newcastle gây nên hiện tượng bỏ ăn, giảm tiêu thụ nước và sự sụt giảm đáng kể sản lượng trứng Như vậy, tình trạng bệnh tật ở gia cầm làm giảm đầu con, giảm khả năng đẻ trứng (Jacqueline Jacob, 2014)
* Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ đến sản lượng trứng
Chỉ số nhiệt độ-độ ẩm (THI) được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện môi trường đối với cơ chế điều hòa nhiệt độ của động vật và để ngăn ngừa stress nhiệt độ Cả nhiệt độ môi trường và độ ẩm tương đối (RH) đều được sử dụng làm biến số để tính toán các giá trị THI, trong đó nhiệt độ được coi là đóng góp nhiều hơn vào giá trị THI so với độ ẩm (Da-Hye Kim và cs., 2021)
Gia cầm trưởng thành chịu đựng nhiệt độ thấp tốt hơn với nhiệt độ cao Sự thay đổi nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu tốn thức ăn Khi gia cầm được nuôi trong điều kiện nhiệt độ trung bình (200C) thì nhu cầu về năng lượng là thấp nhất Sự thay đổi nhiệt độ môi trường sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển hóa thức ăn liên quan đến
sự thay đổi hoạt động của tuyến giáp trạng
Nhiệt độ cao hoặc thấp ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu tốn thức ăn Ở nhiệt độ thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, lượng thức ăn này được sử dụng cho việc sưởi ấm của cơ thể, do vậy tiêu tốn thức ăn cho việc sản xuất ra một quả trứng là cao Trong khi đó nhiệt độ cao sẽ làm giảm mức tiêu thụ thức ăn, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và như vậy sản lượng trứng sẽ bị giảm đi
Môi trường là nền tảng cho quá trình trao đổi chất, sinh lý và các hoạt động nội tiết kết nối với toàn bộ quá trình sản xuất trứng Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng lớn đến chức năng sinh lý của gia cầm đẻ trứng Sản lượng trứng giảm khi nhiệt độ môi trường cao hơn nhiệt độ cơ thể gà Nhiệt độ môi trường từ 90 °F (32,2 °C) trở lên, cơ chế điều chỉnh nhiệt độ của gia cầm không thể kiểm soát nhiệt độ cơ thể trong phạm vi bình thường và do vậy nó tăng lên Sự gia tăng này tạo ra sự tăng thân nhiệt, làm rối loạn sinh lý bình thường gây ra sự suy giảm hoặc ngừng sản xuất trứng (Oguntunji và Alabi, 2010) Nhiệt độ gây stress nhiệt ảnh hưởng đến năng suất và sinh lý của gà đẻ (Yahav và cs., 2000) Gà đẻ được nuôi ở 30 °C có năng suất kém
Trang 17hơn và thể hiện khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng bị thay đổi so với gà mái được nuôi ở 24 °C (Cai và cs., 2020) Tương tự, Kim và cs., (2020) cũng cho biết ảnh hưởng tiêu cực của stress nhiệt đối với gà đẻ khi chúng tiếp xúc với nhiệt độ 32 °C
so với 27 °C
Cơ chế điều tiết nhiệt liên quan đến giảm hiệu quả sinh sản của gà mái Gà mái tăng thân nhiệt làm suy giảm chức năng buồng trứng như giảm đáng kể khối lượng
buồng trứng và số lượng lớn nang trứng ở gà mái Leghorn bị stress (42°C) so với nhiệt
độ môi trường ôn hòa (24 đến 26°C) (Rozenboim và cs., 2007) Nhiệt độ môi trường
cao làm suy giảm sản lượng trứng và chất lượng vỏ trứng, dẫn đến thiệt hại kinh tế đáng kể trong ngành công nghiệp trứng toàn cầu (Wang và cs., 2019)
Khi độ ẩm quá cao làm cho chất độn chuồng bị ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự hô hấp của gia cầm và làm ảnh hưởng đến năng suất và tiêu tốn thức ăn Độ
ẩm quá thấp sẽ làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt
và khả năng sản xuất
* Ảnh hưởng của mùa vụ và ánh sáng đến sản lượng trứng
Trong tất cả các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sản lượng trứng thì yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng Đối với gia cầm đẻ thì chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính
Ánh sáng ảnh hưởng đến bộ máy sinh dục của gia cầm theo cơ chế sau: ánh sáng tác động lên mắt, thông qua dây thần kinh lên não bộ từ đó tác động lên vùng dưới đồi giải phóng hormone LH đồng thời kích thích sự giải phóng hormone gonandotropin Một mặt các hormone này kích thích sự phát triển của nang trứng, mặt khác còn điều tiết quá trình rụng trứng Lợi dụng ảnh hưởng của ánh sáng, người ta đã
áp dụng các chương trình chiếu sáng thích hợp để nhằm các mục đích sau:
+ Đạt được tuổi thành thục về tính theo yêu cầu (đây là một chỉ tiêu có ý nghĩa
kinh tế lớn)
+ Làm tăng cường độ đẻ trứng
+ Kéo dài thời gian đẻ trứng
Trang 18Quá trình hình thành trứng trong ống dẫn trứng do các hormone điều khiển trong chu kỳ 24 giờ sáng/tối Khoảng cách giữa 2 lần rụng trứng thường dài hơn một chút chính vì vậy nếu gà đẻ vào sáng sớm hôm trước thì hôm sau sẽ đẻ muộn hơn một chút và cứ như vậy hôm sau lại muộn hơn hôm trước và cuối cùng sẽ có một ngày gà sẽ không đẻ trứng sau đó lại tiếp tục như vậy Nếu gà đẻ hôm sau không muộn hơn hôm trước thì nó sẽ đẻ 365 trứng/năm theo lịch đúng với tiềm năng di truyền tối đa của chúng Bằng phương pháp chọn lọc, ngày nay người ta đã tạo ra được những đàn gà thương phẩm có sản lượng trứng lên đến 300 trứng/năm hoặc có khi còn cao hơn nữa trong những điều kiện nuôi dưỡng tốt và môi trường thích hợp
Từ những đánh giá trên, người ta thấy có hai khả năng để làm tăng sản lượng trứng ở gia cầm là kéo dài chu kỳ đẻ trứng thông thường hoặc sử dụng gà mái qua 2, 3 hoặc
4 chu kỳ đẻ trứng và phá vỡ điểm giới hạn đẻ 1 trứng/ngày Kéo dài chu kỳ đẻ trứng hoặc sử dụng gà đẻ nhiều chu kỳ sẽ kéo dài khoảng cách thế hệ
Để phá vỡ giới hạn hình thành trứng trong vòng 24 giờ yêu cầu cần thiết là làm thay đổi môi trường, chú trọng đến chế độ chiếu sáng Thông thường có 4 chế độ chiếu sáng có thể sử dụng để làm thay đổi nhịp đẻ (khoảng cách giữa hai trứng): đó
là chế độ chiếu sáng đơn giản (14 giờ sáng, 10 giờ tối), chế độ chiếu sáng liên tục, chế độ tối liên tục và chế độ luân phiên tối sáng Theo Hiệp hội Kỹ thuật Bắc Mỹ (IESNA), một ngày khoảng thời gian chiếu sáng là 14 giờ để sản xuất trứng tối ưu và nếu hơn 17 giờ ánh sáng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất trứng Vì hệ thống thị giác của gà phản ứng với bức xạ ánh sáng trong quang phổ ở phạm vi 664-740 nm, đèn được sử dụng nên phát ra ánh sáng trong phạm vi này IESNA cũng khuyến nghị
10 lux là cường độ ánh sáng tối thiểu cho sản xuất trứng Cường độ ánh sáng cao hơn
10 lux không mang lại bất kỳ lợi ích nào và trên thực tế có thể có tác động tiêu cực đến sản xuất trứng vì chúng có thể có hành vi hung hăng, hiếu động thái quá và cắn
mổ đồng loại giữa những con gà mái (Jácome và cs., 2014)
* Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng
Cơ sở để xây dựng khẩu phần ăn cho gia cầm đẻ phải căn cứ vào khẩu phần
ăn của tất cả các giai đoạn chăn nuôi trước đó Để cải thiện sản lượng trứng, chế độ cho ăn và khẩu phần ăn là rất quan trọng Lượng thức ăn trong giai đoạn nuôi dưỡng
Trang 19không chỉ ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng
mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng, chất lượng trứng, khối lượng cơ thể và tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn gia cầm đẻ (Simeneh, 2019)
Làm thế nào để có một khẩu phần ăn thích hợp đáp ứng đủ các yêu cầu trên đã được đặt ra cho các nhà chăn nuôi Đối với gà chăn thả (gà nội) chỉ đẻ 25-30 trứng/năm thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng lại cần được quan tâm chú ý Nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với gà chăn thả Hàm lượng protein, Ca, P và lipit trong máu gà đang
đẻ trứng cao gấp 2,3, thậm chí đến 4 lần so với trong máu gà không đẻ trứng Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ gà cần protein để tạo noãn hoàng
và lòng trắng; cần Ca, P để tạo vỏ trứng; cần lipit để tạo noãn hoàng Khi gà ngừng
đẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại giảm đi
Dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của gà con, năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ và sự phát triển cơ thể của gà thịt (Wang
và cs., 2017) Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản thì protein, năng lượng, axit amin, vitamin, khoáng vi lượng cần được chú ý quan tâm vì chúng là một trong những yếu
tố ngoại cảnh quan trọng ảnh hưởng đến sản lượng trứng
- Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn đến sản lượng trứng
Gia cầm đẻ cần năng lượng để duy trì các hoạt động của cơ thể và tạo trứng, ngoài ra còn cần để phát triển Năng lượng, một chất dinh dưỡng quan trọng trong khẩu phần ăn của gà đẻ, thường được cung cấp bởi ngũ cốc, nguồn protein và chất béo bổ sung Mức năng lượng khẩu phần có thể ảnh hưởng đáng kể đến chi phí sản xuất, bởi vì việc tăng mức năng lượng bằng cách bổ sung chất béo có thể làm giảm đáng kể lượng thức ăn ăn vào, tăng khối lượng trứng và cải thiện chuyển hóa thức ăn (Grobas và cs., 1999) Mức năng lượng trong khẩu phần ăn không phải là yếu tố quyết định đầu tiên ảnh hưởng đến năng suất đẻ nhưng mức năng lượng cao hơn có thể làm tăng khối lượng cơ thể khi bắt đầu đẻ (Babiker và cs., 2011) Sự dư thừa năng lượng
ăn vào do thay đổi khẩu phần ăn chủ yếu dẫn đến tăng khối lượng cơ thể hơn là tăng
Trang 20sản lượng trứng Xu hướng tiêu thụ quá nhiều năng lượng có tác động tích cực đến lượng thức ăn và hệ số chuyển hóa thức ăn nhưng không ảnh hưởng đến sản lượng trứng và khối lượng trứng (Hwan Ku Kang và cs., 2018) Khi cho gà đẻ trứng ăn không giới hạn dẫn đến tiêu thụ quá nhiều năng lượng làm tăng tích tụ quá mức các lớp mỡ bụng, gà trở nên béo phì, dễ gây stress nhiệt, tỷ lệ què và tỷ lệ tử vong cao do rối loạn hệ xương (Oyedeji và cs., 2007)
Trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng, nếu thiếu năng lượng thì giảm tốc độ phát triển, giảm sản lượng trứng và ảnh hưởng đến khối lượng trứng Nhu cầu về năng lượng tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của cá thể và tuỳ thuộc từng giai đoạn đẻ
- Ảnh hưởng của protein trong thức ăn đến sản lượng trứng
Gia cầm đẻ cần protein để duy trì hoạt động, sản xuất trứng và tăng khối lượng, đặc biệt là trong việc hình thành trứng Khác với nhu cầu về năng lượng, nhu cầu về protein không thay đổi trong suốt giai đoạn đẻ Thiếu protein thì gia cầm sẽ huy động protein của cơ thể để đáp ứng quá trình sản xuất dẫn đến ảnh hưởng đến quá trình hình thành trứng Bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ và hợp lý các nhu cầu về năng lượng
và protein thì việc thiếu các axit béo no và không no cũng có ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm
Gia cầm nhận được chất dinh dưỡng thông qua việc tiêu thụ thức ăn tự nhiên, nhưng một số axit amin thiết yếu chính (lysine, methionin, threonin và tryptophan) thường được cung cấp dưới dạng chất bổ sung tổng hợp (Ravindran, 2010) Axit amin như là chất dinh dưỡng sẽ cải thiện năng suất chăn nuôi gia cầm, bảo vệ sức khỏe của gia cầm và tăng cường khả năng miễn dịch Cung cấp khẩu phần ăn giàu protein và giàu năng lượng cho gà đẻ trứng cho thấy những tác động tích cực đến khối lượng trứng và khối lượng lòng đỏ (Babiker và cs., 2011)
- Ảnh hưởng của vitamin trong thức ăn đến sản lượng trứng
Vitamin là chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe như phát triển, tăng trưởng, duy trì và sinh sản Vitamin có chức năng xúc tác tạo điều kiện tổng hợp chất dinh dưỡng, do đó kiểm soát quá trình trao đổi chất và ảnh hưởng đến năng suất và sức khỏe của gia cầm Vitamin trong thức ăn gia cầm có hai nguồn có sẵn trong nguyên liệu của thức ăn hoặc có thể được thêm vào như một chất bổ sung
Trang 21(Whitehead, 2002) Có nhiều loại vitamin: vitamin tan trong chất béo: A, D, E và K;
và vitamin tan trong nước: B1 , B2 , B6 , B12 , axit folic, axit pantothenic, biotin, niacin
và vitamin C… cần thiết cho sức khỏe gia cầm
Tỷ lệ thích hợp của các vitamin tan trong chất béo và sự kết hợp của bốn loại vitamin - A, D, E và C, như một dạng vitamin nhũ tương ảnh hưởng tích cực đến năng suất của gà thịt (Kamalzadeh và cs., 2009) Là một vi chất dinh dưỡng quan trọng, vitamin E tối ưu hóa quá trình sinh sản và năng suất của vật nuôi Hơn nữa, nó bảo vệ các nang buồng trứng khỏi bị tổn thương do oxy hóa và cũng có một chức năng quan trọng trong sản xuất trứng bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng tiền chất trong lòng đỏ (vitellogenin) từ gan (Weber, 2009) Vì vậy, vitamin E hoạt động như chất chống oxy hóa, cải thiện khả năng miễn dịch, khả năng sinh sản, tăng trưởng và phát triển ở gia cầm
Vitamin D3 là một chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của xương và
có vai trò sinh học quan trọng như chức năng miễn dịch, cân bằng nội môi canxi (Ca), tăng sinh và biệt hóa tế bào (Holick, 2004) Ngoài ra, vitamin D có liên quan đến các quá trình sinh lý khác nhau, bao gồm hình thành xương và khoáng hóa, hấp thụ phốt pho (P) và canxi (Garcia và cs., 2013) Ở gà đẻ, vitamin D có vai trò trong chức năng tối ưu của hệ xương, giúp móng, mỏ và xương chắc khỏe Nó cũng có tác động tích cực đến chất lượng vỏ trứng
Vitamin A cần thiết cho sự phát triển thị giác, tăng trưởng, sinh lý sinh sản và duy trì sự toàn vẹn của biểu mô và khung xương Vitamin A trong khẩu phần đã cải thiện sự phát triển và tăng trưởng của hệ thống sinh sản, kích thích nang trứng (Weber, 2009) Abd El-Hack và cs (2017) nhấn mạnh hiệu quả của vitamin A ở mức 16.000 IU/kg khẩu phần trong việc cải thiện các chỉ số năng suất
Các vitamin nhóm B có chức năng rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của gia cầm, vì hầu hết chúng đại diện cho các coenzyme kết hợp với các phân tử enzyme lớn hơn để đẩy nhanh nhiều quá trình trao đổi chất Vitamin B1, B2, B6, biotin, axit pantothenic và niacin tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng, nhưng axit folic và vitamin B12 phát huy hoạt động của chúng trong tế bào và duy trì tăng trưởng (Weber 2009) Trong khẩu phần ăn nếu thiếu thiamin (vitamin B1) sẽ xuất hiện một
Trang 22số triệu chứng như giảm cân và biếng ăn, suy nhược, suy tim (hội chứng đột tử), thoái hóa mỡ ở gan, viêm niêm mạc, buồng trứng teo và giảm sản lượng trứng (Weber, 2009)
- Ảnh hưởng của khoáng chất trong thức ăn đến sản lượng trứng
Khoáng chất là chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho sức khỏe và chức năng sinh lý của gia cầm Các nguyên tố vi lượng có tầm quan trọng trong quá trình sinh sản và miễn dịch của gia cầm (Saripinar-Aksu và cs., 2012) Ở gia cầm, khoáng chất được yêu cầu như một phần của chất kích hoạt hormone và enzym, để hình thành
và thay thế bộ xương và vỏ trứng, để duy trì sự cân bằng axit-bazơ (natri (Na), kali (K) và clorua (Cl) và cân bằng nội môi thẩm thấu (Ravindran, 2010)
Gia cầm đòi hỏi các khoáng đa lượng cũng như vi lượng trong khẩu phần Các khoáng chất đa lượng như canxi (Ca) và phốt pho (P) là những nguyên tố có nhiều nhất trong cơ thể Nhóm này cũng bao gồm clorua (Cl), magiê (Mg), kali (K), natri (Na) và lưu huỳnh (S) Các nguyên tố vi lượng như Zn, Cu, Mn, Co và Cr Các chất khoáng tham gia vào các chức năng sinh lý cần thiết để duy trì sự sống, bao gồm sinh trưởng, sinh sản, chức năng miễn dịch, chuyển hóa năng lượng và hình thành xương (Bao và cs., 2007; Dibner
và cs., 2007)
Canxi (Ca) là một nguyên tố chính trong dinh dưỡng gia cầm Nó là một thành phần quan trọng để khoáng hóa xương và vỏ, hình thành cục máu đông và co cơ (Talpur và cs., 2012) Phốt pho là một khoáng chất cần thiết cho gia cầm và đóng một vai trò quan trọng trong các mô cứng và mềm của cơ thể (Underwood và Suttle, 1999) Trong các yếu tố khoáng thì nhu cầu về P và Ca rất cao để tạo vỏ trứng Thiếu P và Ca thì gia cầm sẽ ngừng đẻ và thay lông Nhu cầu của nó ở gia cầm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả mức độ canxi trong khẩu phần Tỷ lệ
Ca/P thích hợp ở gà là: 5: 1
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng cho sản lượng trứng khác nhau Gà nuôi chuồng lồng thì sản lượng trứng đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt 201 trứng/năm, còn gà nuôi chăn thả chỉ đạt 170 trứng/năm
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trứng
Trang 23* Chỉ số hình thái của trứng
Trứng gia cầm thường có hình oval, hoặc hình e-lip: một đầu lớn và một đầu nhỏ Hình dạng trứng thường mang đặc điểm của từng cá thể Chỉ số hình thái của trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển, đóng gói Trứng càng dài càng dễ vỡ
Chỉ số hình thái có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc đóng gói, vận chuyển mà còn liên quan đến tỷ lệ ấp nở của trứng gia cầm Những trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở kém (Nguyễn Quý Khiêm và cs., 1999)
* Chất lượng vỏ trứng
Chất lượng vỏ trứng bị ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố bên trong và bên ngoài như thời gian đẻ trứng, tuổi, kiểu gen, khí hậu và dinh dưỡng Tất cả những yếu tố này được biết đến là ảnh hưởng chất lượng của vỏ trứng và sự tương tác giữa một số yếu tố này có thể hiệu quả hơn các yếu tố riêng lẻ Chất lượng vỏ trứng là một chỉ tiêu quan trọng không chỉ trong vận chuyển, bảo quản và đóng gói mà còn ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở
Thời gian rụng trứng đóng một vai trò sinh lý quan trọng trong việc xác định các đặc điểm của vỏ trứng Thời gian đẻ trứng ở gà đẻ bị giới hạn trong khoảng thời gian 8 giờ trong ngày từ 7:30 đến 16:00 giờ dưới điều kiện ánh sáng tiêu chuẩn (Campo và cs., 2007) Thời gian rụng trứng cũng có thể ảnh hưởng đến độ dày vỏ trứng như một chỉ số quan trọng cho chất lượng vỏ trứng Yannakopoulos và
cs (1994) cho rằng chất lượng vỏ trứng đẻ buổi chiều cao hơn so với buổi sáng Hơn nữa, chất lượng vỏ trứng có thể bị ảnh hưởng bởi hàm lượng khoáng chất trong vỏ trứng Tumova và cs (2014) cho biết ảnh hưởng của thời gian rụng trứng đối với sự hình thành khoáng chất vỏ: hàm lượng Ca cao nhất là 352 g/kg trong trứng đẻ lúc 7 giờ 30 phút so với 342 g/kg của những đẻt lúc 15 giờ 30 phút Mặt khác, hàm lượng
P và Mg vỏ tăng lên theo thời gian trứng rụng muộn với giá trị lần lượt là 1,20 và 3,56 g/kg Độ dày của vỏ trứng có liên quan đến chiều dài của trứng và bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi kiểu gen so với khối lượng vỏ trứng
Hệ thống nhà ở là một trong những các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến chất
lượng vỏ trứng Một số nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của hệ thống chuồng nuôi về các thông số chất lượng vỏ trứng bao gồm như lồng, chuồng,
Trang 24chất độn chuồng và các hệ thống chăn thả Số lượng trứng bị nứt ít hơn sản xuất trong lồng (Kontecka và cs 2014)
Hàm lượng canxi trong khẩu phần có ảnh hưởng lớn đến chất lượng vỏ trứng Tuy nhiên, hàm lượng canxi trong thức ăn không thể tăng quá cao vì nó còn phụ thuộc vào tỷ lệ Ca/P trong khẩu phần Đối với gà đẻ hàm lượng canxi là 2,75%-3,5% và P: 0,45% - 0,70% là thích hợp Sự hấp thu canxi trong thức ăn còn chịu tác động của hàm lượng vitamin D trong khẩu phần
Thành phần hóa học của trứng
Trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một loại thực phẩm rất giàu dinh dưỡng, đặc biệt là lòng đỏ cung cấp khoảng 50% protein Thành phần dinh dưỡng của trứng các loại gia cầm khác nhau thì khác nhau Protein trong trứng thường
là những protein dễ tiêu hóa Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng nhũ hóa và dễ tiêu hóa và có chứa hàm lượng acid béo không no rất cao, hàm lượng khoáng cao, đặc biệt là hàm lượng sắt và phospho Thành phần khoáng trong trứng có thể thay đổi thông qua khẩu phần ăn của gia cầm đẻ (Rose, 1997)
1.1.3 Protein trong chăn nuôi gia cầm sinh sản
1.1.3.1 Vai trò của protein đối với gà đẻ
Protein hay còn gọi là chất đạm là chất cần thiết nhất trong mọi sinh vật và thực vật với vai trò tham gia vào thành phần của nguyên sinh chất trong tế bào sống Ngoài cấu trúc cơ thể, protein còn tham gia vào các nhóm chất có hoạt tính sinh học cao như enzym, hormone để điều khiển quá trình trao đổi chất và quá trình sống, đồng thời tham gia vào hệ thống bảo vệ cơ thể như tế bào bạch huyết, kháng thể… Protein còn đóng vai trò quan trọng trong sinh sản, tạo tinh trùng và trứng Protein rất cần thiết cho sinh trưởng, tăng khả năng sản xuất và sử dụng thức ăn (Panda và cs., 2011)
Protein là một chất dinh dưỡng quan trọng trong thức ăn gia súc và gia cầm và cùng với các thành phần chính khác như chất béo, carbohydrate, khoáng chất, vitamin
và nước, rất cần thiết cho sự sống (Beski và cs., 2015)
Protein cũng là một thành phần quan trọng của trứng gà và một quả trứng bình thường chứa khoảng 6,5 đến 7 gram protein Do đó, protein trong khẩu phần có ảnh
hưởng lớn đến hiệu suất sản xuất của gà đẻ (Rama Rao và cs., 2007) Trên cơ sở khối
Trang 25lượng sống, cơ thể của một gà thịt trưởng thành chiếm hơn 65%protein Thành phần của một quả trứng có khoảng 50% protein Theo dõi trên gà mái đẻ cho thấy: gà đẻ một quả trứng cần 6,3 - 6,7g protein cho sản xuất và 3,7g protein cho duy trì Như vậy cần 10g protein cho một quả trứng
Gia cầm đẻ cần protein để duy trì hoạt động, sản xuất trứng và tăng khối lượng, đặc biệt là trong việc hình thành trứng Khác với nhu cầu về năng lượng, nhu cầu về protein không thay đổi trong suốt giai đoạn đẻ Thiếu protein thì gia cầm sẽ huy động protein của cơ thể để đáp ứng quá trình sản xuất dẫn đến ảnh hưởng đến quá trình hình thành trứng Kích thước cơ thể, tốc độ tăng trưởng và sản lượng trứng của gia cầm được xác định bởi di truyền của chúng Các khác biệt di truyền về nhu cầu axit amin cũng có thể xảy ra do khác biệt về hiệu quả tiêu hóa, hấp thu chất dưỡng chất
và trao đổi của các dưỡng chất được hấp thu
Nhu cầu protein và axit amin thay đổi đáng kể tùy theo trình trạng sản xuất của gia cầm, đó là tốc độ tăng khối lượng hoặc sản lượng trứng Tỷ lệ một số axit amin của gà mái đẻ là: 0,75 - 0,85 % đối với lyzin; 0,38 - 0,4% đối với methionin; 0,95% đối với arginin; 1,2% đối với leucin; 0,75% đối với isoleucin; 0,22% đối với histidin; 0,50% đối với threonin; 0,55% đối với valin; 0,50% đối với threonin; 0,4% đối với phenylalanin Đối với các loại axit amin thay thế cơ thể gia cầm có thể tự tổng hợp được từ sản phẩm trung gian trong quá trình trao đổi axit amin, axit béo và từ hợp chất chứa nhóm amino
1.1.3.2 Ảnh hưởng của protein đến khả năng sinh sản của gà
Sử dụng thức ăn để cung cấp protein thực chất là cung cấp axit amin cho cơ thể theo nhu cầu duy trì và thay thế những tế bào thoái hóa, nhu cầu cho sự tăng trưởng, sự sinh sản, đẻ trứng Đối với gia cầm, trong số các axit amin thiết yếu có một số axit amin giới hạn thường chứa ít trong nguyên liệu như methionin, lysin, tryptophan, threonin, arginin thường được bổ sung vào thức ăn vừa đủ (khoảng 0,1
- 0,2%) để thay thế cho các đạm động vật và đạm thực vật để giảm giá thành sản xuất thịt và trứng mà vẫn đảm bảo sự phát triển của gia cầm
Mức protein thô (CP) có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng trứng (Li và cs., 2013) Sản lượng trứng và khối lượng trứng tăng lên đáng kể với mức protein thô (CP) 16 và 18% so với mức thấp 14,3% (McDonald, 1979) Saxena và
Trang 26cs.(1986) đã tiến hành nghiên cứu để đánh giá tác động của các mức protein khác nhau trong khẩu phần (15, 17 và 19%) đến năng suất của gà đẻ trong giai đoạn 18-33 tuần tuổi và cho biết mức protein trong khẩu phần ăn tối ưu là 15% cho gà đẻ vào mùa đông Sản lượng và khối lượng trứng được cải thiện có ý nghĩa thống kê khi tăng mức protein từ 13-19% trong khẩu phần của gà đẻ Leghorn (Calderon và Jensen, 1990) Harms và Russell (1996) nhận thấy rằng những gà đẻ thu nhận 13,8 g CP mỗi
ngày đã giảm đáng kể (P<0,05) khối lượng trứng so với những gà thu nhận 14,6 hoặc
16,3 g CP từ 44-63 tuần tuổi Theo xu hướng này, tỷ lệ đẻ và sản lượng trứng (g/gà
mái ngày) ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê (P <0,05) ở các mức CP (130, 150 và 170
g/kg CP) trên gà đẻ Hy-line Brown Do đó, mức CP cao (170 g/kg ) đạt được giá trị sản lượng trứng và khối lượng trứng tốt nhất so với các mức khác (Meluzzi và cs., 2001) Bunchasak và cs.(2005) cho biết rằng những gà ăn khẩu phần chứa 14% CP
có sản lượng trứng và khối lượng trứng thấp hơn những gà ăn khẩu phần chứa 16 hoặc 18% CP trong thời kỳ đẻ đỉnh cao
Nghiên cứu của Abd El-Maksoud và cs.(2011) đã xác nhận ảnh hưởng đáng
kể của các mức CP khác nhau đến năng suất đẻ trong đó sản lượng trứng và khối lượng trứng được tăng lên khi tăng mức CP từ 12-16% đối với khẩu phần của gà
đẻ Ngoài ra, Bouyeh và Gevorgian (2011) quan sát thấy rằng sản lượng trứng của gà
mái bị ảnh hưởng đáng kể (P<0,05) bởi các mức CP khác nhau, trong đó CP 14%
(mức cao) đạt được giá trị cao nhất về sản lượng trứng và khối lượng trứng của gà đẻ
Hy-line, sau thời kỳ đẻ đỉnh cao Hơn nữa, nhiều tác giả công bố rằng sản lượng trứng
và khối lượng trứng được cải thiện bằng cách tăng mức CP trong khẩu phần ăn (Yakout và cs., 2004; Novak và cs., 2006, 2008)
Hsu và cs.(1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của khẩu phần ăn ở mức 14% và 17% protein trong thời gian 5 tuần cho kết quả tương tự về các thông số sản xuất trứng Ngoài ra, Junqueira và cs (2006) cho biết sản lượng trứng và khối lượng trứng
là tương đương giữa khẩu phần có 16 và 20% CP trong giai đoạn sản xuất thứ hai Zeweil và cs.(2011) ghi nhận sản lượng trứng và khối lượng trứng không bị ảnh hưởng bởi mức 12, 14 và 16% CP trong khẩu phần của gà đẻ Baheij
Protein có ảnh hưởng lớn hơn đến kích thước trứng so với lượng năng lượng tiêu thụ Ở một mức độ nào đó, việc giảm protein thô trong khẩu phần, được cân bằng
Trang 27thông qua các axit amin thiết yếu theo protein lý tưởng, là một công cụ tốt để ngăn chặn tình trạng trứng siêu lớn, hay trứng siêu to vào giai đoạn sau của chu kỳ sản xuất Dựa trên hầu hết các nghiên cứu về axit amin đối với gà đẻ thì chỉ tiêu khối lượng trứng bị ảnh hưởng bởi axit amin trong khẩu phần hơn là số lượng trứng được tạo ra Do đó, nên kiểm soát thành phần protein lý tưởng để điều chỉnh mức độ lysine duy trì tỷ lệ axit amin lý tưởng
L-methionine ảnh hưởng đến khối lượng trứng, khối lượng xương, hàm lượng khoáng xương và mật độ xương khả năng sản xuất của gà đẻ HyLine W36 Thí nghiệm được tiến hành ở nhiệt độ cao, trong 45 tuần cho thấy rằng việc bổ sung 85-100% axit amin chứa lưu huỳnh trong khẩu phần đã giúp gia cầm giảm bớt các tác động bất lợi của nhiệt độ cao (Castro và cs., 2019)
Lysine là axit amin giới hạn thứ hai trong khẩu phần ăn cho gia cầm và việc
bổ sung lysine trong khẩu phần ăn đã được áp dụng vào những năm 1970 (Kidd và cs., 2013) Cung cấp đầy đủ lysine duy trì khả năng miễn dịch và chức năng đường tiêu hóa ở gia cầm (Vaezi và cs., 2011) Hơn nữa, tăng lysine trong khẩu phần đã được chứng minh là cải thiện sản lượng trứng, khối lượng trứng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn ở gà đẻ (Kakhki và cs., 2016)
Nhu cầu của gà đẻ giảm do sản lượng trứng giảm tự nhiên Cần bổ sung thêm protein vào khẩu phần khi khối lượng trứng giảm vì gà mái càng lớn thì chúng cần dinh dưỡng để duy trì và tăng khối lượng trứng Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung một gram protein hàng ngày sẽ làm tăng khối lượng trứng trung bình 1,4 g
1.2 Một số thông tin về gà Lông Xước
Gà Lông Xước là giống gà bản địa xuất hiện tại một số huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang như: Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh,… Gà có bộ lông xù như lông nhím, không xẹp xuống như các giống gà khác, có chất lượng thịt ngon, có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt ở vùng núi cao Lúc 01 ngày tuổi gà có đặc điểm lông màu nâu nhạt hoặc vàng nâu, có sọc nâu đậm ở đầu và dọc lưng Lúc 8 tuần tuổi, con mái có đặc điểm lông màu nâu hoặc vàng nâu, mào đơn, kém phát triển; con trống có lông màu vàng sẫm hoặc vàng đỏ, mào đơn, phát triển; cả con trống và con mái đều có mỏ màu vàng đen, chân màu chì, da màu trắng; lông xước ngược Gà Lông Xước trưởng thành lúc 20 tuần tuổi, con mái có lông màu lá chuối khô hoặc
Trang 28màu vàng nâu; con trống lông màu đỏ tía hoặc vàng sẫm Cả con trống và con mái có đặc điểm: mào đơn, hình răng cưa, da trắng, mỏ màu vàng đen, chân màu chì Khối lượng con trống đạt 1.800 - 1.900 g, con mái đạt 1.600 - 1.700 g Giai đoạn sinh sản (21 - 72 tuần tuổi), tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và đạt 5% lúc 21 - 22 tuần tuổi, đẻ đỉnh cao lúc 32 - 33 tuần tuổi, năng suất trứng/mái/72 tuần tuổi đạt tối thiểu 80 quả, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng: 5,0 - 5,5 kg; tỷ lệ trứng có phôi đạt tối thiểu 90%, tỷ lệ trứng nở/trứng có phôi đạt tối thiểu 85%
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Khối lượng trứng còn phụ thuộc vào tuổi của gà, chế độ dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng (Phùng Đức Tiến và cs., 2010) Nguyễn Chí Thành và cs (2007) cho biết khối lượng cơ thể gà mái ở 20 tuần tuổi và năng suất trứng (quả/mái/năm) của gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía lần lượt là: 1886,4g/con và 51,27 quả, 1860,37g/con và 67,09 quả, 1647,33g/con và 96,2 quả Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà Mía
là tăng dần, 1 tuần tuổi và 20 tuần tuổi tương ứng là 0,50 và 6,32 kg TĂ/kg tăng trọng;
Từ 1-8 tuần tuổi, gà Mía có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất, tiếp đến là gà Hồ và cao nhất là gà Đông Tảo; Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, gà Mía lại có mức tiêu tốn thức
ăn cao hơn 2 giống kia Trung bình toàn bộ giai đoạn sinh trưởng từ 1 - 20 tuần tuổi,
gà Hồ có mức tiêu tốn thức ăn thấp nhất (3,72kg), tiếp đó là gà Đông Tảo (4,14kg)
và cao nhất là gà Mía (6,32kg)
Nguyễn Văn Duy và cs (2020) nghiên cứu trên gà mái Đông Tảo (Đông Tảo)
và gà mái lai F1(ĐT×LP) cho biết: Năng suất sinh sản của gà mái F1(ĐT×LP) là tốt hơn so với gà mái ĐT với tỉ lệ đẻ bình quân trong 38 tuần đẻ của gà mái F1(ĐT×LP)
là 40,29% và của gà mái ĐT là 22,31% Sản lượng trứng trong 38 tuần đẻ của gà
F1(ĐT×LP) là 107,18 quả và của gà mái ĐT là 59,33 quả (P <0,001) Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của gà mái F1(ĐT×LP) thấp hơn so với gà mái ĐT (P <0,001) Tỉ lệ
dị tật gà con của gà mái F1(ĐT×LP) (0,24%) là thấp hơn so với gà mái Đông Tảo
(1,26%) (P <0,05)
Nguyễn Hoàng Thịnh và cs (2021) khi nghiên cứu trên gà Lạc Thuỷ cho biết: năng suất trứng đến 41 tuần tuổi của gà Lạc Thuỷ là 57,57 quả; tỷ lệ đẻ trung bình là 35,76%; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 4,49kg, trứng gà Lạc Thuỷ có khối lượng
Trang 29trung bình 49,14%; tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,62%; tỷ lệ trứng có phôi/tổng trứng ấp là 91,80%; tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp là 80,40%; tỷ lệ gà loại 1/tổng trứng ấp đạt 71%
Nguyễn Văn Quyên (2008) cho biết: gà Nòi được nuôi ở 3 mức CP là 18% CP và 3 mức ME là 2650 -2750 và 2850 kcalME/kg có tỷ lệ đẻ cao nhất (57,83%) ở giai đoạn 29-76 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 3,49kg; tỷ
14-16-lệ trứng nở/ trứng có phôi là 97,67%
Nguyễn Nhật Xuân Dung và cs (2014) cho biết ba mức độ protein thô là 15,5%;16,5% và 17,5% cùng có mức năng lượng bằng nhau (2.600kcal/kg) thì các mức
độ protein thô không ảnh hưởng lên tỉ lệ đẻ, khối lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức
ăn Tương tự, các chỉ tiêu về chất lượng trứng như chỉ số hình dáng, đơn vị Haugh, chỉ
số lòng trắng và lòng đỏ không khác nhau giữa các nghiệm thức, tuy nhiên độ dầy vỏ của các khẩu phần thí nghiệm đều tốt hơn so với đối chứng Khẩu phần có mức độ protein thấp nhất mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi
Trương Văn Phước và cs (2015) đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng các mức độ protein và năng lượng của khẩu phần lên năng suất sinh sản (tỉ lệ đẻ trứng, tiêu tốn thức
ăn, khối lượng trứng, khối lượng trứng (g/gà/ngày), hệ số chuyển hóa thức ăn), chất lượng bên trong (tỉ lệ lòng đỏ, lòng trắng, tỉ lệ lòng đỏ/lòng trắng) và bên ngoài (chỉ số hình dáng, độ dầy vỏ trứng) của trứng gà Ác nuôi trong chuồng hở Tổng cộng có 384
gà Ác từ 20 đến 28 tuần tuổi ở giai đoạn đầu của kỳ đẻ trứng được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 2 yếu tố, yếu tố 1 là protein với 3 mức độ (14,5; 16 và 17,5%), yếu tố 2 là ME với 2 mức độ (10,5 và 11,5 MJ/kg), lặp lại 8 lần, mỗi lần là 8 gà mái
đẻ Kết quả cho thấy, khẩu phần có 16 hoặc 17% CP và ME là 11,7 MJ/kg cho năng suất sinh sản tốt nhất, ngược lại mức độ 14,5 % CP và 10,5 MJ/kg có năng suất thấp nhất Tỉ lệ lòng đỏ, và lòng đỏ/lòng trắng giảm khi CP của khẩu phần tăng dần CP và
ME không ảnh hưởng lên độ dày vỏ trứng Năng lượng và protein có ảnh hưởng lên năng suất sinh sản và chất lượng trứng của gà Ác
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Protein là những hợp chất cao phân tử được tạo thành từ nhiều axit amin bằng liên kết peptit Protein đóng nhiều vai trò có lợi trong cơ thể như thành phần cấu trúc của cơ, lông, da, protein huyết tương, hormone, enzym, nucleotide và kháng thể (Abbasi và cs., 2014; Van Emous và cs.,2015) Một chiến lược dinh dưỡng tốt là giảm chi phí thức ăn trong khi vẫn đảm bảo tối đa hóa được năng suất sinh sản của gà như
Trang 30tỷ lệ đẻ, khối lượng và sản lượng trứng, đồng thời cũng giảm sự ô nhiễm môi trường (Alagawany và Mahrose, 2014) Hầu hết nitơ bài thải trong phân chủ yếu liên quan đến thức ăn thừa protein và các axit amin bị mất cân đối để đáp ứng sự tổng hợp mô của cơ thể và tổng hợp trứng Sự bài thải của nitơ có thể giảm đáng kể bằng cách cung cấp sự cân bằng các axit amin đáp ứng chính xác nhu cầu với mức dư thừa tối thiểu
bằng cách cung cấp các axit amin để gà dễ dàng tiêu hóa và hấp thu
* Ảnh hưởng protein trong khẩu phần lên năng suất sinh sản của gà
Mức protein trong khẩu phần ăn gà mái là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng và khối lượng trứng Sản lượng trứng và khối lượng trứng được duy trì tốt ở những gia cầm ăn khẩu phần có CP thấp trong 8 tháng đầu của chu kỳ sản xuất nhưng sản lượng và khối lượng trứng có xu hướng suy giảm sau đó Năng suất của gà đẻ có thể vẫn đạt yêu cầu đối với khẩu phần CP thấp trong thời gian sản xuất ngắn, nhưng nếu kéo dài với khẩu phần CP thấp có thể không đáp ứng đủ nhu cầu, đặc biệt là giai đoạn cuối của quá trình sản xuất (Khajali và cs., 2008) Một số nhà nghiên cứu cho biết xu hướng chung là tăng sản lượng trứng và khối lượng trứng khi
tăng tỷ lệ protein trong khẩu phần ăn (King'ori và cs., 2010; Mohiti-Asli và cs.,
2012; Shim và cs., 2013) Một số nghiên cứu khác cho rằng sản lượng trứng và khối lượng trứng không bị ảnh hưởng khi cho ăn mức protein thô thấp trong khẩu phần (Cho và cs., 2004; Khajali và cs., 2008) Wu và cs (2007) cũng báo cáo không có tác dụng đáng kể của protein trong khẩu phần (14-16%) đối với đơn vị Haugh, khối lượng trứng và độ dày vỏ trứng Một số nghiên cứu khác báo cáo chất lượng trứng cao hơn
ở gà đẻ với sự gia tăng nồng độ protein trong khẩu phần (Adeyemo và cs, 2012;
Khajali và cs., 2007)
Trong chăn nuôi gia cầm, mức năng lượng cũng quan trọng như mức protein
trong khẩu phần Các nghiên cứu của Harms và cs (2000) và Leeson và cs (2001)
chỉ rằng năng suất trứng không bị ảnh hưởng bởi mức năng lượng ăn vào, nhưng khi năng lượng ăn vào thiếu gà sẽ giảm năng suất trứng Các tác giả cũng giải thích rằng khi khẩu phần có mức năng lượng thấp, gà ăn nhiều hơn, khi năng lượng khẩu phần cao gà sẽ ăn ít lại để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho cơ thể Trong thí nghiệm gần
đây của Ding.Y và cs (2016) trên gà mái bản địa Fengda-1 chỉ rằng gà nuôi khẩu
Trang 31phần có mức mức năng lượng là 2650 kcal/kg, tiêu thụ nhiều thức ăn hơn mức 2750
có protein cao và năng lượng thấp có tác động tiêu cực đến khối lượng trứng và sản
lượng trứng (Li và cs., 2013; Steenhuisen và Gous, 2016) Nghiên cứu của Panda và
cs (2012) trên gà đẻ Dahlem Red cho thấy sự kết hợp nhu cầu tối ưu của 2,795 kcal/kg ME, 16% CP, 0,8% lysine và 0,4% methionine trong suốt 28 đến 40 tuần
tuổi Hassan và cs (2016) báo cáo rằng các mức năng lượng của khẩu phần không
ảnh hưởng lên năng suất, khối lượng và sản lượng trứng và giá trị tốt nhất nhận được
ở khẩu phần có 2750 kcal/kg và 16% CP Khối lượng trứng cao hơn ở những gà ăn khẩu phần chứa 18% CP so với những gà ăn khẩu phần chứa 15%, không phụ thuộc vào ME trong khẩu phần (Almeida và cs., 2012)
Tona và cs (2004) cho biết có một mối quan hệ tích cực giữa khối lượng trứng
và khối lượng ấp nở Do đó, mối quan hệ giữa khối lượng trứng và mức protein trong khẩu phần ăn của gà mái nên được xem xét để đảm bảo khối lượng của gà mới
nở Spratt và Leeson (1987) cho biết việc giảm khối lượng trứng và làm giảm khối lượng gà mái giống khi tỷ lệ protein trong khẩu phần giảm từ 16,70% xuống 12,70%
Protein và axit amin, đặc biệt là methionine có ảnh hưởng lớn đến kích thước trứng (Panda và cs., 2007) Không có sự khác biệt về khối lượng trứng giữa khẩu phần
ăn chứa 0,31% methionine (13% CP) và 0,35% methionine (17,5% CP) trong nghiên cứu Do đó, 0,31% methionine trong khẩu phần ăn 13% CP là đủ cho khối lượng trứng tối ưu ở gà đẻ Vanaraja
Trong chăn nuôi gia cầm, khả năng sinh sản cao, khả năng nở và tỷ lệ chết phôi thấp là mục tiêu chính cho lợi nhuận và năng suất Khả năng sinh sản, khả năng
nở và tỷ lệ chết phôi có thể bị ảnh hưởng bởi khối lượng trứng, thời gian lưu trữ, tuổi của đàn, thành phần của khẩu phần ăn và tỷ lệ trống mái ở các loài gia cầm… (Mohiti-Asli và cs., (2012); Narinc và cs., 2013; Praes và cs., 2014)
Trang 32Mức độ protein của khẩu phần ăn gà mái là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất trứng và khối lượng trứng Một số nhà nghiên cứu báo cáo xu hướng chung là tăng sản lượng trứng và khối lượng trứng với sự gia tăng nồng độ protein
trong khẩu phần ăn (Mohiti-Asli và cs., 2012; Shim và cs., 2013) Nghiên cứu cho
thấy mối quan hệ tích cực giữa khối lượng trứng và khối lượng nở (Tona và cs., 2004) Do đó, mối quan hệ giữa khối lượng trứng và mức protein trong khẩu phần ăn của gà mái với khối lượng gà mới nở Spratt & Leeson (1987) đã báo cáo rằng việc giảm khối lượng trứng và do đó giảm khối lượng gà khi tỷ lệ protein trong khẩu phần
ăn giảm từ 16,70% xuống 12,70% đối với gà mái giống
*Ảnh hưởng protein trong khẩu phần lên chất lượng trứng
Novak và cs (2006) rằng phần trăm chất khô và ướt của lòng trắng trứng cũng
như tỷ lệ protein lòng đỏ lòng trắng, tỷ trọng của quả trứng giảm khi nuôi gà Hy-Line
W36 với CP khẩu phần thấp Summers và Leeson (1983) thấy rằng khối lượng trứng
đầu tiên không bị ảnh hưởng bởi tăng mức CP của khẩu phần Tăng CP khẩu phần
không cải thiện được đơn vị Haugh và độ dày vỏ trứng (Junqueira và cs., 2006; Alagawany, 2012) Novak và cs (2008) báo cáo rằng khi giảm CP khẩu phần dẫn tới
giảm khối lượng trứng gà giai đoạn từ 18 đến 60 tuần tuổi, trong khi các chỉ số chất lượng bên ngoài và bên trong quả trứng không bị ảnh hưởng Khối lượng vỏ ở trạng thái tươi hay khô và khối lượng chất khô lòng đỏ, độ dày vỏ tăng lên khi giảm CP khẩu phần Ngược lại, tỷ lệ lòng trắng tươi hay khô, khối lượng lòng đỏ, chỉ số lòng
đỏ, chỉ số hình dáng không bị ảnh hưởng tỷ lệ CP khẩu phần 12, 14 và 16% (Zeweil
và cs.,2011)
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
Gà lông Xước sinh sản bố mẹ giai đoạn 24 đến 40 tuần tuổi
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm khảo nghiệm giống vật nuôi và cây trồng - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 06 năm 2020 đến tháng 06 năm 2021
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến tỷ lệ loại thải và khối lượng của gà lông Xước bố mẹ
- Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến năng suất trứng của gà lông Xước bố mẹ
- Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến chất lượng trứng của
gà lông Xước bố mẹ
- Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến kết quả ấp nở
2.4 Phương pháp nghiên cứu
về yếu tố thí nghiệm là tỷ lệ protein trong khẩu phần
Nghiệm thức 1 (NT1) cho ăn khẩu phần có 15% protein, nghiệm thức 2 (NT2) cho ăn khẩu phần có 15,5% protein, nghiệm thức 3 (NT3) cho ăn khẩu phần có 16% protein, nghiệm thức 4 (NT4) cho ăn khẩu phần có 16,5% protein, nghiệm thức 5 (NT5) cho ăn khẩu phần có 17% protein Năng lượng trao đổi trong thức ăn của các nghiệm thức đều bằng 2800 kcal/ kg thức ăn
Trang 34Bảng 2.2 Khẩu phần thức ăn cho gà thí nghiệm
Trang 35Mỡ thô (EE-Crude Fat) (%) 4,77 4,95 4,83 4,73 4,62
Xơ thô (CF- Crude Fiber) (%) 3,18 3,17 3,04 2,91 2,79 Arginine (total) (%) 0,873 0,927 0,994 1,059 1,122 Lysine (total) (%) 0,800 0,799 0,799 0,801 0,801 Methonine (total) (%) 0,396 0,388 0,382 0,377 0,377 Threonin (total) (%) 0,585 0,584 0,583 0,607 0,630 Tryptophan (total) (%) 0,155 0,155 0,155 0,155 0,160 Valine (total) (%) 0,710 0,733 0,758 0,783 0,807 Met + Cys (total) (%) 0,676 0,675 0,675 0,676 0,681
Phosphorus (total) (%) 0,63 0,64 0,64 0,64 0,63 Giá thành (đ/kg TĂ) 8,354 8,408 8,418 8,488 8,563
2.4.2 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi
Trang 362.4.2.1 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến tỷ lệ nuôi sống và khối lượng của gà lông Xước bố mẹ
Dựa vào phương pháp quan sát, cân đo, ghi chép, thống kê thông dụng để tính toán các chỉ tiêu theo dõi như sau:
* Tính khối lượng gà mái sinh sản:
KLTB (g) = (KLn1 + KLn2 +…+ KLnn)/n
Ghi chú: KLTB: Khối lượng trung bình
KLn 1 : Khối lượng gà mái 1
KLn n : Khối lượng gà mái n
Khối lượng trung bình được tính tròn số đến đơn vị gam
2.4.2.2 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến năng suất trứng của gà lông Xước bố mẹ
- Khối lượng trứng (g): hàng tuần (cố định ngày) cân ngẫu nhiên trứng từ mỗi
lô thí nghiệm bằng cân điện tử có độ chính xác tới 0,01g, trứng gà được cân từ 24 -
40 tuần tuổi
+ Tỷ lệ đẻ (%) = Tổng số trứng đẻ trong kỳ
x 100 Bình quân gà mái có mặt x số ngày trong kỳ
Số trứng đủ tiêu chuẩn làm giống (quả)
+ Tỷ lệ trứng giống (%) = x 100
+ Năng suất trứng
Năng suất trứng = Số trứng thu được trong kỳ (quả)
Số mái bình quân trong kỳ (con)
* Theo dõi thức ăn:
Trang 37Tiêu thụ thức ăn: Mỗi lô nhỏ đối với thí nghiệm gà đẻ có bao đựng thức ăn riêng Đầu mỗi giai đoạn nuôi (theo tuần tuổi) cân thức ăn cho vào bao để cho ăn liên tục trong tuần
Lượng thức ăn tiêu thụ/con/tuần (g) = Lượng thức ăn tiêu thụ
Số con trong lô (con) Thức ăn tính theo định lượng cho ăn/mái của từng giai đoạn và toàn kỳ
+ Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng = x 10
Số trứng thu trong kỳ (quả)
Vào một ngày cố định ở các tuần 28, 32 và 38 lấy 20 quả từ mỗi lô thí nghiệm
để xác định chất lượng trứng: đơn vị Haugh, độ dày vỏ, khối lượng lòng trắng, khối lượng lòng đỏ….tại Viện khoa học sự sống – trường Đại học Nông Lâm
+ Tỷ lệ lòng đỏ/lòng trắng (%): lấy trứng có khối lượng trung bình của nghiệm thức, cân khối lượng trứng trước khi tách lòng đỏ ra khỏi lòng trắng và vỏ trứng, sau
đó cân khối lượng lòng đỏ bằng cân có độ chính xác tới 0,01g Tỷ lệ lòng đỏ/lòng trắng được tính theo công thức:
Trang 38+ Độ dày vỏ trứng (mm)
Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước kẹp FHK (Fujihira Industry CO., LTD - Nhật) với độ chính xác là 0,01 mm, trứng sau khi được đập ra lấy 3 miếng vỏ tại 3 điểm (đầu to, đầu nhỏ và đường kính lớn của quả trứng), bóc sạch lớp màng bên trong vỏ và tiến hành đo Độ dày vỏ trứng được xác định bằng trung bình của 3 lần
đo trên
2.4.2.4 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến kết quả ấp nở
Trứng được đánh dấu theo từng nghiệm thức, số lượng trứng ấp của 5 nghiệm thức (NT1, NT2, NT3, NT4 và NT5) được lấy toàn bộ để đem đi ấp
+ Tỷ lệ trứng có phôi: đưa trứng đủ tiêu chuẩn vào ấp, sau 8-10 ngày kiểm tra sự phát triển của phôi bằng đèn chiếu Tỷ lệ trứng có phôi được tính theo công thức:
Số liệu thu thập được tiến hành phân tích sơ bộ bằng chương trình Excel, sau
đó tiến hành phân tích phương sai (ANOVA) và phép thử Tukey (P<0,05) để kiểm
tra sự khác biệt trên phần mềm Minitab 16
Mô hình phân tích thống kê như sau: yij = µ + Ti + eij
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của các tỷ lệ protein trong khẩu phần đến tỷ lệ loại thải và khối lượng của gà lông Xước bố mẹ
Tỷ lệ loại thải của đàn gà thí nghiệm là 0% Trong quá trình thí nghiệm sử dụng
các tỷ lệ protein trong khẩu phần, chúng tôi ghi nhận không có trường hợp gà chết và
gà loại thải do đẻ kém Kết quả này cho thấy, các mức protein khác nhau trong khẩu
phần không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của gà Về vấn đề loại thải gà đẻ kém chúng tôi có nhận định như sau: gà lông Xước là một giống gà bản địa của tỉnh Hà Giang đang có nguy cơ suy giảm về số lượng nên đang được bảo tồn và phát triển tiềm năng của giống gà này Bên cạnh số lượng con giống ít, cũng như một số giống gà địa phương Việt Nam, gà lông Xước có năng suất trứng thấp mặc dù năng suất trứng thấp nhưng vẫn không loại thải ngay như các giống gà đẻ trứng thương phẩm khác vì việc duy trì đàn gà bố mẹ của gà lông Xước rất quan trọng ở thời điểm này
Bảng 3.1 Tỷ lệ loại thải và khối lượng gà thí nghiệm
Chỉ tiêu Đơn vị NT1
(15% pr)
NT2 (15,5% pr)
NT3 (16% pr)
NT4 (16,5% pr)
NT5 (17% pr)
Khối lượng tăng g 314.20 311.50 317.10 330.30 335.50
Ghi chú: Theo hàng ngang các số trung bình mang các chữ cái khác nhau thì
sự sai khác giữa chúng có ý nghĩa thống kê (P<0,05)