Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người.. Cảnh trí chung
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MẠNH TỬ
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY
HỌ VÀ TÊN GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY: BÙI XUÂN THANH
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: NGUYỄN VIẾT KHUÊ
LHP: 21C1PHI61000416
TP HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Nội dung xuyên suốt học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là tư tưởng Dân bản - tư
tưởng lấy dân làm gốc Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên
hạ và điều chỉnh quan hệ xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng
Dân bản Ông luôn nhấn mạnh, đề cao vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định của
dân đối với sự thịnh suy của đất nước; đòi hỏi nhà cầm quyền phải thi hành nền chính
trị nhân nghĩa nhằm thu phục nhân tâm Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng
có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần
thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người Có thể nói, cho đến nay, tư tưởng dân
bản của Mạnh Tử vẫn còn ý nghĩa và giá trị thiết thực Đối với sự nghiệp xây dựng
và phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay, những bài học lịch sử rút ra từ tư
tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử là những bài học bổ ích và thiết thực cho công
cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 3PHỤ LỤC
Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ 3 1.1 Cơ sở xã hội ra đời tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử 3 1.2 Tiền đề lý luận ra đời tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử 4 Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ 11 2.1 Thuyết nhân chính trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử 11 2.2 Đường lối dân bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử 12 Chương 3: TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ VỚI XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 15 3.1 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử 15 3.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử 16
Trang 4Chương 1: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ -
XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
1.1 Cơ sở xã hội ra đời tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử
Mạnh Tử (371- 289 TCN) tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư Ông là người nước Châu, sát nước Lỗ (nay là huyện Châu thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc) Mạnh Tử được sinh ra trong một gia đình quý tộc sa sút vào thời Chiến Quốc, ông thuộc dòng dõi quý tộc Nhưng tới đời ông cha, chi của ông sa sút nên tuy là quý tộc mà sống như bình dân Ông mồ côi cha, tuy nhiên ông lại được sự vỗ về, quan tâm của mẹ Mẹ của Manh Tử là người phụ nữ hiểu biết lễ nghĩa, hiền từ và nhân ái Bà dồn hết lòng vào việc chăm sóc Mạnh Tử và mong Mạnh Tử học hành thành đạt Điển tích có ghi Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường xã hội tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Dư, tức là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng Khổng giáo Sống trong thời Chiến Quốc, là giai đoạn xã hội loạn lạc, Mạnh
Tử đi chu du khắp nơi đem học thuyết của mình để khuyến cáo các vua chư hầu, nhằm định yên thiên hạ, thống nhất quốc gia về một mối Đến đâu ông cũng giảng đạo lý cho các bậc cầm quyền để giúp họ có phương pháp trị nước hiệu quả mà nhân đạo, nhân chính Tuy nhiên, trong bối cảnh “Thiên hạ đang lo hợp tung, liên hoành, lấy việc đánh nhau làm giỏi Thế mà Mạnh Tử lại nói đạo đức của các đời Đường, Ngu, Tam đại”, do vậy, các vua chư hầu không sử dụng học thuyết của ông Cuối cùng ông đành lui về ở ẩn ở nước Lỗ và noi gương Không Tử, ông mở trường dạy học truyền
bá tư tưởng của mình Về cuối đời, ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông
là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo Chính vì vậy, chúng tôi tìm hiểu nội dung tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử thông qua cuốn sách Mạnh Tử Nhận xét về tầm quan trọng của sách Mạnh Tử trong đường học vấn của Nho giáo thì sách Mạnh Tử rất có giá trị Theo như Trình Y Xuyên đời nhà Tống nói: “Kẻ đi học nên lấy sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử làm cốt Đã biết được hai bộ sách ấy, thì không cần phải học năm Kinh cũng rõ được đạo của thánh hiền” Trong hàng ngũ Nho gia, ông được coi là Á thánh chỉ đứng sau Khổng Tử Theo nguyên lý cơ bản của triết học macxít, giữa tư tưởng và các điều kiện kinh tếxã hội luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học trong quá trình hình thành và phát triển luôn chịu sự chi phối, ảnh hưởng sâu sắc của những điều kiện lịch sử kinh tế- xã hội nhất định Lịch sử triết học hàng ngàn năm của nhân loại, từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây đã chứng minh rằng không có một học thuyết, trường phái triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội nhất định Đó là sản phẩm của lịch sử, của dân tộc và của thời đại, đồng thời cũng là tấm gương phản chiếu sâu sắc đến đời sống muôn vẻ của lịch sử, dân tộc và của thời đại đó C.Mác đã từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời
Trang 5đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế, quý giá và vô hình được tập trung lại trong tư tưởng triết học” Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng của Trung Quốc cũng đã khẳng định: “phàm đã gọi là một học thuyết quyết không thể là một cái gì đó từ trên trời rơi xuống Nếu nghiên cứu tỉ mỉ hơn chúng ta tất sẽ tìm ra được nhiều nguyên nhân đã xảy ra trước và hậu quả về sau của nó” “Nhà tư tưởng thường chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh sống Cảnh trí chung quanh khiến cho nhà tư tưởng có ý thức về cuộc sống theo một lối nào đó, và triết học của nhà tư tưởng,
do đó, sẽ có những điểm nhấn mạnh hay không đề cập tới, làm thành những nét đặc biệt của một triết học”.Qua các nhận định trên, chúng ta thấy tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử không phải là sản phẩm của sự tư biện thuần tuý của tư duy Nó không ra đời từ mảnh đất trống không mà nó được hình thành, phản ánh bối cảnh kinh tế- xã hội Trung Quốc đấy biến động thời Xuân Thu- Chiến Quốc Chính vì vậy, để
có cái nhìn đúng đắn nội dung tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử thì chúng ta phải đi phân tích căn nguyên của vấn đề này, tức là phải phân tích cơ sở kinh tế- xã hội và tiền đề tư tưởng cho việc hình thành tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử
1.2 Tiền đề lý luận ra đời tư tưởng chính trị - xã hội của Mạnh Tử
Không có một học thuyết nào được ra đời trên mảnh đất trống không mà sự ra đời của
nó là sự kế thừa những tư tường triết học trước đó Tư tưởng Mạnh Tử ra đời cũng không nằm ngoài quy luật này Chúng ta không thể giải thích chính xác thực chất và nội dung tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử nếu chỉ dựa vào bối cảnh kinh tế- xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc mà không chú ý đến việc Mạnh Tử tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phát triển tư tưởng của các phái Nho giáo, Đạo giáo, Mặc gia một cách sâu sắc Thứ nhất là phái Nho giáo Mạnh Tử kế thừa nhiều tư tưởng của Nho giáo, đặc biệt là tư tưởng đức trị và học thuyết tính người của Nho giáo Thuyết tính thiện- cơ sở lý luận trực tiếp cho tư tướng chính trị- xã hội của Mạnh Tử Tìm hiểu quan điểm của Mạnh Tử về tính người là rất quan trọng vì đây là nền tảng xây dựng nên các quan điểm khác của Mạnh Tử Tính người là một vấn đề quan trọng được Nho giáo đề cập nhiều trong lịch sử triết học Trung Quốc Đây được coi là vấn
đề trung tâm của Nho giáo, là nền tảng để giải quyết các vấn đề khác Nguyễn Đăng Thục cho rằng vấn đề này là “vấn đề trọng đại trong triết học phương Đông” Vấn đề tính người được đặt ra và giải quyết trên các nội dung cơ bản sau: Bản tính của con người là gì? Do đâu mà có? Chúng ta có thể cải tạo được tính người hay không? Và cải tạo vấn đề này nhằm mục đích gì? Trong cuốn sách Trung dung, Khổng đã đưa ra một nguyên lý cơ bản về tính người: “Mệnh Trời ban cho gọi là tính, noi theo tính gọi
là đạo, tu theo đạo gọi là giáo” Từ mệnh đề này, phần lớn các nhà Nho đều cho rằng
“tính” của con người có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự nhiên mà trời phú cho con người và con người bẩm thụ lấy Theo đó, tính là cái bẩm sinh ban đầu, là cái nguyên
sơ mà con người có được nhờ trời Như vậy, tính của con người là thiện hay ác là phụ thuộc chủ yếu vào sự tu dưỡng, giáo dục của con người Khổng Tử là người đầu tiên
Trang 6đưa ra quan niệm về “tính người” Quan niệm tính người của ông là tư tưởng có tính chất nền móng ban đầu cho các nhà Nho về sau, trong đó có Mạnh Tử kế thừa và phát triển Khi nói đến “tính người”, Khổng Tử cho rằng: “Bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau” Rõ ràng, theo Khổng Tử tính của con người khi mới sinh ra là hoàn toàn ngây thơ, trong trắng, tự nhiên, chưa bị thay đổi bởi ngoại cảnh
và các yếu tố xã hội Và cái bản tính ấy do bẩm thụ được ở trời, cho nên mọi người đều có cùng bản tính này Đặc biệt, ông khẳng định rằng, cái bản tính ban đầu ấy của con người có thể bị biến đổi bởi các điều kiện, yếu tố ngoại cảnh, bởi sự tu dưõng đạo đức của con người Điểm đáng lưu ý trong quan niệm về tính người của Khổng Tử là ông đã nhìn thấy phần nào sự thật về quan hệ giữa con người với xã hội Theo ông, con người ta không thể vượt qua cái “tập”- đó chính là sự tác động của tập quán, hoàn cảnh sống, điều kiện sống và nói rộng ra là sự chi phối của điều kiện lịch sử cùng vói nhân sinh quan của mình Luận điểm “tính tương cận dã, tập tương viễn dã” của ông
đã cho thấy sự cần thiết phải lập đạo cho con người, bởi lẽ con người có tính do trời phú nhưng không phải ai cũng giữ được Khi người ta theo đuổi dục vọng, sống phóng túng thì tính không khỏi rơi vào tình trạng bất biến Trong hoàn cảnh ấy con ngưòi sẽ đánh mất đức nhân và trở thành vô đạo Con người vô đạo sẽ dẫn đến cả nước vô đạo,
từ đó kéo theo cả thiên hạ vô đạo Chính vì vậy, phải lập đạo cho mọi người hữu đạo,
cả nước hữu đạo và cả thiên hạ hữu đạo Như vậy, mặc dù Khổng Tử chưa luận bàn, giảng giải gì nhiều về vấn đề tính người nhưng quan niệm về tính của ông là tư tưởng
cơ bản, đặt nền tảng ban đầu để từ đó các nhà Nho về sau kế thừa, phát triển Từ thời Chiến Quốc trở về sau, xã hội có nhiều biến loạn, lúc đó vấn đề tính người mới thực
sự được các nhà Nho quan tâm với nhiều quan niệm khác nhau Sự khác nhau này là
do điều kiện lịch sử và nhu cầu cai trị của giai cấp phong kiến thống trị quy định Để trả lời câu hỏi thứ nhất, “bản tính con người là gì?” Cáo Tử cho rằng: “Bản tính người
ta như nước chảy, khơi sang Đông thì sang Đông, khơi sang Tây thì sang Tây Bản tính người ta không phân biệt thiện với bất thiện, cũng như nước chẳng phân biệt Đông, Tây vậy” Như vậy, ở đây Cáo Tử cho rằng tính người không thiện, không ác Trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử bàn nhiều về thuyết tính thiện ở chương Cáo Tử Để trả lời câu hỏi “bản tính con người là gì?”, Mạnh Tử xuất phát từ những giá trị có tính
xã hội và thiên về đạo đức nên khẳng định bản tính của con người là thiện Ông nói:
“Nước đúng là không phân biệt Đông Tây, nhưng há không phân biệt cao thấp hay sao? Bản tính người ta vốn thiện, cũng như nước phải chảy xuống thấp vậy Người ta chẳng ai là bất thiện, như nước luôn luôn chảy xuống thấp vậy” Trong chương Cáo
Tử, Mạnh Tử đã rất nhiều lần phê phán quan điểm “tính vô thiện, vô bất thiện” của Cáo Tử Ông nói: “Bản tính của mọi sinh vật đều gọi là tính cả thì tính của con chó cũng như tính của con bò, tính của con bò cũng như tính của người ta, chứ gì?” Chúng
ta thấy rằng, Mạnh Tử đã kịch liệt phê phán quan điểm tính không thiện không ác của Cáo Tử bằng những ngôn từ rất sắc sảo và với thái độ khắt khe.Giải thích vì sao tính người là thiện thì theo Mạnh Tử cứ theo cái bản năng của người ta, thì ai cũng có thể
Trang 7làm lành, cho nên nói là thiện Nếu có điều gì bất thiện thì không phải là cái tội ở cái bản năng của người ta Vì ông đưa ra hình ảnh minh hoạ, đó là đứa trẻ khi mới sinh
ra vốn đã sẵn có tình cảm quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mến anh chị em của mình,
ai cũng động lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìn thấy nó sắp té xuống nước Và từ đây mở rộng ra, theo Mạnh Tử, ai cũng có Tứ đoan hay Tứ thiện tâm Ông nói rằng: “Lòng trắc ẩn ai ai cũng có, lòng tu ố ai ai cũng có, lòng cung kính ai
ai cũng có, lòng thị phi ai ai cũng có Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy Nhân, nghĩa, lễ, trí chẳng phải ở ngoài đổ khuôn vào ta, mà ta có sẵn cả, chẳng qua không nghĩ tới mà thôi” Rõ ràng, theo quan niệm của ông thì nhân, nghĩa, lễ, trí của con người là các đức khi con người sinh ra đã có sẵn rồi Như vậy, ở đây Mạnh
Tử khẳng định bản tính con người là thiện và cái thiện là do trời phú cho con người,
nó thuộc về bản năng con người, sinh ra con người đã có sẵn Bàn về tính người là gì, ngoài thuyết tính thiện của Mạnh Tử ra thì thời kỳ Chiến Quốc còn xuất hiện thuyết tính ác của Tuân Tử Trong sách Nho giáo của Trần Trọng Kim có nói rằng, sau Mạnh
Tử độ bốn mươi năm có Tuân Tử là đại biểu nổi tiếng về học thuật Nho giáo Theo Tuân Tử: “tính của người là ác, những điều thiện là người đặt ra” Tuân Tử viện các
lẽ để bác cái thuyết tính thiện của Mạnh Tử Theo ông, vì cái tính vốn ác nên thánh nhân mới đặt ra nhân nghĩa lễ phép để kiểu sức cho cái tính thiện, chứ nếu tính con người là thiện thì còn cần gì đến bậc thánh bậc vương và nhân nghĩa lễ phép làm gì nữa Ông cho rằng, có thể giáo dục giáo hoá để thay đổi bản tính ác của con người vì
“Tính là cái ta không thể làm ra được, nhưng có thể hoá đi được Tính là không phải
tự nhiên ra có được, nhưng có thể làm cho có được Chú ý làm lụng, tập thành thói quen để hoá cái tính” Lý do Tuân Tử khẳng định và bảo vệ thuyết tính ác là vì Tuân
Tử sinh sau Mạnh Tử và khi đó xã hội Chiến Quốc đã rối ren và loạn lạc hơn Vậy, bản tính của con người có bị thay đổi không? Mạnh Tử cho rằng có: Bản tính của con người là thiện, nhưng hoàn cảnh làm cho bản tính đó thay đổi Manh Tử lấy ví dụ chứng minh rằng: “Những năm no đủ, bọn con em phần lớn hiền lành, những năm đói kém, bọn con em phần lớn hung bạo Chẳng phải tại trời phú cho tính chất khác nhau như thế Chỉ tại hoàn cảnh nhấn chìm con tim mới ra như vậy” Con người sở dĩ thành bất thiện là do hoàn cảnh tác động làm cho cái tâm tính bị lu mờ hoặc sai lệch tính thiện của con người làm cho con người không còn phân biệt phải trái, thiện ác Hoàn cảnh làm cho bản tính của con người thay đổi nhưng con người lại có thể cải tạo bản tính đó để đưa nó thành thiện, Mạnh Tử cho rằng: “nếu khéo bồi dưỡng, vật nào cũng sinh trưởng, nếu mất bồi dưỡng vật nào cũng tiêu ma” Ở đây, chúng ta nhận thấy Mạnh Tử đề cao việc giáo dục giáo hoá, bồi dưỡng đạo đức của con người để con người từ cái mầm thiện vươn tới cái chí thiện để sánh ngang với trời đất Theo Mạnh
Tử, để đạt tới cái chí thiện đó thì con người phải tồn tâm, dưỡng tính, phát huy hết bản thân Mục đích của việc cải tạo tính người là nhờ có việc cải tạo tính người mà con người có thể nhận biết được tính, nhận biết được tính thì có thể nhận biết được
Trang 8trời đất vì cái lý của muôn vật đều có đủ noi tâm tính mình Nhờ có giáo dục mà con người trở nên tốt đẹp hơn, đưa con người trờ thành bậc quân tử, đưa xã hội từ “vô đạo” thành “hữu đạo” Tuy nhiên, trong quan niệm về tính thiện của Mạnh Tử ít nhiều bộc lộ lập trường giai cấp khi ông cho rằng: một mặt, tính thiện là điểm chung, vốn
có của tất cả mọi người, mặt khác ông lại cho rằng, chỉ có bậc quân tử mới giữ được tính thiện ấy còn bậc thứ dân hay tiểu nhân thường bị dục vọng, ngoại cảnh che lấp, cho nên ngay từ đầu, cái bản tính thiện do trời phú ấy dễ bị đánh mất Đó là điểm khác nhau giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân Sở dĩ có điều này là do ông muốn bảo vệ lập trường giai cấp của mình để duy trì trật tự xã hội cũ Vì thực chất của việc nghiên cứu bản tính con người của các triết gia, trường phái là nhằm hoàn thiện, xây dựng mẫu người có đủ khả năng đưa đời sống chính trị- xã hội vào trật tự, kỷ cương, nền nếp theo ý đồ của giai cấp mình Đề cập tới vấn đề này, Nguyễn Tài Thư có viết: Vấn đề con người trong các học thuyết cổ đại Trung Quốc thực chất là vấn đề khả năng hoạt động chính trị- xã hội và phẩm chất chính trị- xã hội của con người thống trị Lý luận
về vấn đề đó là những quan niệm sao cho kẻ thống trị giành được chính quyền và giữ được chính quyền, sao cho xã hội được yên ổn và mọi người trong đó được sống thư thả theo khuôn khổ của họ So với Khổng Tử, quan niệm tính thiện của Mạnh Tử có khuynh hướng duy tâm hơn, nhìn nhận bản chất con người thiên về các phương diện tinh thần, đạo đức Trong “thuyết tính thiện” và “thuyết tính ác” của Mạnh Tử và TuânTử, dù có những yêu tố và cách lý giải khá hợp lý nhưng không thể tránh khỏi tính chất trực quan, máy móc, siêu hình Mạnh Tử thì thiên về mặt xã hội, đạo đức, còn Tuân Tử thì thiên về mặt bản năng, tự nhiên của con người để lý giải bản tính vốn
có của con người Rõ ràng, các ông chưa nhận thức được rằng, bản chất, bản tính của con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa cái sinh vật và cái xã hội Chính
sự khác nhau và hạn chế cơ bản này đã dẫn tới sự đối lập giữa “thuyết tính thiện” và
“thuyết tính ác” trong Nho giáo
Mặc dù vậy, sự lý giải về bản tính con người của Tuân Tử và Mạnh Tử trái ngược nhau nhưng đó không phải là sự đối lập nhau hoàn toàn Cả hai đều thống nhất ở chỗ
là, có thể nhờ giáo dục, giáo hoá để hướng con người ta hướng tới điều thiện Quang Đạm nhận xét rằng: “Trong học thuyết tính người, hai thầy Mạnh và Tuân chỉ khác nhau ở khía cạnh nhận xét và trình bầy chứ không hoàn toàn là quan điểm của hai cá nhân riêng lẻ nào đó, mà là những quan điểm phản ánh trạng thái đầy mâu thuẫn của
hệ tư tưởng xã hội nước Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu - Chiến Quốc suốt trên dưới hai thế kỷ trong hoàn cảnh thiên hạ vô đạo” Mặt khác, các ông đều giống nhau ở luận điểm cho rằng, hoàn cảnh xã hội làm thay đổi bản tính con người và có thể giáo dục, giáo hoá làm cho bản tính con người trở nên tốt hơn Như vậy, khẳng định bản tính người là thiện, Mạnh Tử đã đặt người thống trị và người bị trị ở quan hệ bình đẳng nhận thấy họ đều có tính thiện phổ biến Thánh nhân cũng như người dân, người dân
có thể tu dưỡng đạo đức để trở thành các bậc Thánh nhân Đây là tư tưởng rất mới,
Trang 9rất nhân đạo, nhân ái của Manh Tử so với xã hội Trung Quốc thời Chiến Quốc lúc bấy giờ Chính học thuyết tính thiện là nền tảng, là cơ sở lý luận cho rất nhiều các học thuyết khác của Mạnh Tử Tư tưởng đức trị của Khổng Tử- tiền đề lý luận của tư tưởng chính trị- xã hội của Mạnh Tử Tư tưởng đức trị là những quan niệm về đường lối trị nước, quản lý xã hội dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức Đó là hệ thống những nguyên tắc quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người trong các quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng Đức trị phản ánh nhu cầu lợi ích xã hội của giai cấp thống trị, được biểu hiện dưới hình thức những quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân lý, được mọi người thừa nhận và chấp hành một cách tự giác Nó được củng cổ bằng những tấm gương đạo đức Khổng Tử, tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni
(551-479 TCN), sinh ra ở nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ đang sa sút Thời đó quê hương ông là nơi bảo tồn được nhiều di sản văn hoá cũ của nhà Tây Chu Khổng
Tử là một trong những người đầu tiên đề ra tư tưởng đức trị Ông rất coi trọng việc nhà cầm quyền sử dụng đức để làm chính trị Trong sách Luận ngữ đã rất nhiều lần Ông đề cao vai trò của đức trị Khổng Tử còn khẳng định rằng, đạo đức là biện pháp hiệu quả nhất để thu phục nhân tâm, nhân lực trong việc đường lối trị nước vì Khổng
Tử nói: “Lấy đức để làm việc chính trị cũng ví như ngôi sao Bắc Đẩu, ở yên vị mà các ngôi sao khác đều chầu về” Khổng Tử và Mạnh Tử đều coi đạo đức, lễ giáo có vai trò quyết định trong việc duy trì quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị và củng cố chế độ phong kiến, trong việc quản lý xã hội Trong sách Luận ngữ, Khổng
Tử nói: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình pháp để giữ trật tự, dân tránh khỏi tội nhưng chưa biết hổ thẹn Dùng đức để dẫn dắt, dùng lễ để giữ gìn trật tự, dân biết hổ thẹn mà tiến tới chỗ tốt lành” Qua đây chúng ta thấy, Khổng Tử rất đặc biệt
đề cao vai trò của đức trị- coi đó là cách trị nước tốt nhất Đứng trước bối cảnh thực tiễn của một thời đại mà “Vương đạo suy vi”, “bá đạo” nổi lên lấp át “vương đạo” của nhà Chu, trật tự, lễ nghĩa của nhà Chu bị đảo lộn, Khổng Tử than rằng” “vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con” Trong lập trường của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc nhà Chu, ông chủ trương lập lại trật tự của nhà Chu với một nội dung mới, phù hợp với hiện thực khi đó
mà ông cho là “khuôn mẫu”, “lý tưởng” Tư tưởng đức trị- của Khổng Tử là sự kế thừa tư tưởng của Vân Vương, Chu Công, là sự phát huy tư tưởng của thời kỳ Tây Chu để mong lập lại kỷ cương mà khi đó nhà Chu đã làm cho nó trở nên suy đồi Để thực hiện lý tưởng chính tri đó của mình, ông đã xây dựng nên học thuyết về Nhân- Lễ- Chính danh Đây chính là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mạnh Tử nói chung và tư tưởng chính trị- xã hội của ông nói riêng Trước hiện thực xã hội thời nhà Chu bị đảo lộn, Khổng Tử cho rằng nguyên nhân của tình trạng đó là do tình trạng
“danh không chính”, “ngôn không thuận”- nghĩa là tình trạng “loạn danh” Xuất phát
từ đó ông chủ trương thiết lập lại trật tự xã hội, duy trì kỷ cương phép nước theo đường lối “nhân trị” và đưa ra chủ nghĩa “chính danh định phận” Khổng Tử là người
Trang 10đầu tiên đặt ra chính danh Ông yêu cầu phải đặt đúng tên sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó sao cho danh phải đúng với thực chất của sự vật Trong tư tưởng đức trị, chính danh là yêu cầu mỗi người cần phải có một phẩm chất tương xứng với địa
vị xã hội của mình và phải suy nghĩ, hành động đúng với địa vị ấy, không được tranh giành địa vị và bổn phận của người khác, giai cấp khác Nếu không chính danh xã hội
sẽ loạn
Trên cơ sở xác định loạn danh là nguồn gốc của sự loạn lạc, phân tranh trong xã hội Trung Quốc đương thời, Khổng Tử chủ trương chính danh để đưa xã hội từ loạn tới thịnh trị nên khi Tử Lộ ỏi về việc trị nước thì ông trả lời: ‘Tất phải chính danh chứ gì” Chính danh là yếu tố vô cùng quan trọng đối với nhà cầm quyền vì “danh không chính thì lời nói chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc chẳng nên, việc không nên thì lễ nhạc chẳng hung vượng, lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” Do vậy, “người quân tử đã nêu được tên gọi ắt nói ra được lời, đã nói được ra lời ắt là làm được Đối với lời nói ra, người quân tử không bao giờ cẩu thả vậy” Trong thuyết chính danh, Khổng Tử phân chia xã hội thành năm mối quan hệ cơ bản: vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, anh- em, bạn- bè Tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng trong các mối quan hệ đó mặc dù không giống nhau nhưng nó đều thể hiện sự tôn ti, phép tắc, là tiêu chuẩn của đạo làm người Điểm đặc sắc trong quan điểm về mối quan hệ vua- tôi là, Khổng Tử phản đối việc duy trì ngôi vua theo huyết thống Tư tưởng ấy chứng tỏ đã có lúc Khổng Tử đã vượt qua lập trường giai cấp, không coi trọng đẳng cấp xuất thân của kẻ cầm quyền mà chỉ chú trọng đến tài đức của họ Theo ông, có ba điều nhà cầm quyền phải thực hiện là đảm bảo lương thực cho dân no ấm, xây dựng được lực lượng quân sự hùng mạnh để bảo vệ dân và phải được lòng tin với dân Trong ba điều ấy thì yếu tố dân tin là quan trọng nhất Như vậy, có thể nói, Khổng Tử là người đầu tiên đã đột phá vào tập quán truyền thống trong việc lựa chọn nhà cầm quyền của xã hội trước đó và đương thời Ông luôn luôn đề cao tài đức của kẻ cai trị, quan tâm đến việc khơi dậy và phát huy những đức tính tốt đẹp ở con người và mong muốn dùng đức để thu phục nhân tâm Chính vì thế, để thực hiện chính danh Khổng Tử kiên trì theo quan điểm sử dụng đạo đức làm công cụ Nội dung công cụ đạo đức ông đưa ra bao gồm nhân, trí, dũng Trong đó nhân đã bao gồm cả lễ, nghĩa, trung, trí, tín Nhân đứng đầu trong các điều thiện, là rộng nhất của đạo làm người Nhân theo Khổng Tử có rất nhiều nghĩa Khi trả lời thế nào là nhân, ông đã tuỳ vào trình độ học vấn và tư cách của từng người mà trả lời có khác nhau Phàn Trì hỏi về nhân, Không Tử trả lời: “Đó là người biết yêu người” Nhân là “làm nhân là khắc kỷ, phục lễ” Khi Trọng Cung hỏi về điều nhân, ông trả lời như sau: “Điều gì mình gì mình không muốn, chớ thi hành cho người khác” Khi Tử Trương hỏi Khổng Tử về việc thi hành nhân chính, Khổng Tử nói rằng: “Có thể làm được năm điều (đối với mọi người) trong thiên hạ, là thi hành nhân chính vậy Khổng Tử nói: “Đó là: Cung kính, khoan dung, thành tín, cần mẫn và có ơn