1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp

79 599 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Tác giả Vũ Thị Huyền
Trường học Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 734 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý thức được tầm quan trọng của bảo hiểm trong lĩnh vực này và qua quátrình thực tập tại Công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và Phát triển BIC em thấyrằng đây là nghiệp vụ có doanh thu đáng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Thương mại quốc tế luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với mộtnền kinh tế và sự thông thương giao lưu buôn bán giữa các nước đã có từ rất lâuđời Và ngày nay khi mà thế giới chúng ta đang sống được gọi là “ Thế giới phẳng”(Theo học thuyết của nhà kinh tế học hiện đại Friedman), Việt Nam đã là thành viênthứ 150 của WTO thì đây không còn là một vấn đề mới đối với mọi người Nhất là

ở giai đoạn của Việt Nam hiện nay, giai đoạn hậu WTO Là thời đại mà quá trìnhsản xuất trong nước phải gắn chặt với những diễn biến của nền kinh tế thế giớithông qua hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá Và như chúng ta đã biết, muốn choquá trình thông thương hàng hoá phát triển và diễn ra một cách trôi chảy thì phảicần một điều kiện cần thiết đó là dịch vụ vận chuyển Có thể nói “Không có thươngmại nếu không có vận chuyển” Có nhiều phương tiện vận chuyển hàng hoá xuấtnhập khẩu hàng hoá(XNKHH) bằng đường biển, đường sắt, đường bộ, đường hàngkhông Trong đó, vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90% tổng khối lượnghàng hoá xuất nhập khẩu của thế giới Nhiều nước ở vị trí không tiếp giáp với biểncũng phải thông qua cảng các nước khác để vận chuyển hàng hoá bằng đường biểnnhư Cộng Hoà Séc, Hungari, Lào…Bởi vì vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều

ưu điểm Tuy nhiên, vận chuyển bằng đường biển luôn tiềm ẩn rất nhiêu rủi ro cácrủi ro này có thể do các yếu tố tự nhiên, yếu tố kĩ thuật hoặc yếu tố xã hội, conngười Trong lịch sử loài người đã có nhiều biện pháp chống lại những tác động xấutrên, nhưng thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất là bảo hiểm cho hàng hoá xuấtnhập khẩu Mặt khác, ngày nay trong nền kinh tế mở, ngành bảo hiểm ra đời khôngnhững đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn cho những chủ hàng, mà còn góp phầnthúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế thông qua con đường thương mại và có ảnhhưởng sâu sắc tới vấn dề kinh tế - xã hội cho cả hai nước xuất nhập Vì vậyBHHHXNK vận chuyển bằng đường biển là sự cần thiết khách quan, đến nay đã trởthành tập quán thương mại quốc tế

Trang 2

Ý thức được tầm quan trọng của bảo hiểm trong lĩnh vực này và qua quátrình thực tập tại Công ty Bảo hiểm Ngân hàng đầu tư và Phát triển (BIC) em thấyrằng đây là nghiệp vụ có doanh thu đáng kể trong các nghiệp vụ mà BIC đang triểnkhai, là nghiệp vụ rất có tiềm năng phát triển và được BIC rất quan tâm đề ra chiếnlược lâu dài với mục tiêu là một trong ba nghiệp vụ đem lại doanh thu lớn nhất cho

BIC nên em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”

Để vấn đề trình bày được mạch lạc, rõ ràng, tiện theo dõi luận văn chia ralàm ba phần chính:

Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.

Chương II: Thực trạng nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại BIC.

Chương III: Giải pháp triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại BIC.

Trang 3

- XNK làm lợi về mặt giá trị cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thông qua hoạtđộng xuất nhập khẩu hàng hoá giúp cho thương mại trong nước phát triển, tăng tínhcạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước tạo điều kiện cho các sản phẩm ngàycàng có mẫu mã đẹp, phong phú, đa dạng; chất lượng ngày một nâng cao

- Qua hoạt động trao đổi các ngành sẽ tiến hành hợp tác hoá, chuyên môn hoá đểgiảm chi phí sản xuất, từ đó tạo điều kiện để giảm giá thành sản phẩm giúp cácdoanh nghiệp tăng lợi nhuận, góp phần tăng GDP

1.2 Đặc điểm quá trình xuất nhập khẩu hàng hoá

Việc xuất nhập khẩu hàng hoá thường được thực hiện thông qua hợp đồnggiữa người mua và người bán với nội dung về số lượng, phẩm chất, ký mã hiệu, quycách đóng gói, giả cả hàng hoá, trách nhiệm thuê tàu và trả cước phí, phí bảo hiểm,thủ tục và đồng tiền thanh toán…

- Có sự chuyển giao quyền sở hữu lô hàng XNK từ người bán sang

người mua

- Hàng hoá XNK thường được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải chịu

sự kiểm soát của hải quan, kiểm dịch…tuỳ theo quy định của mỗi nước Đồng thời

để được vận chuyển ra (hoặc vào) qua biên giới phải mua bảo hiểm theo tập quán

Trang 4

thương mại quốc tế Người tham gia bảo hiểm có thể là người bán hàng ( người xuấtkhẩu) hoặc người mua hàng (người nhập khẩu) Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) thểhiện quan hệ giữa công ty bảo hiểm và người mua bảo hiểm đối với hàng hoá đượcbảo hiểm Nếu người bán hàng mua bảo hiểm thì phải chuyển nhượng lại cho ngườimua hàng để khi hàng về đến nước nhập, nếu bị tổn thất có thể đòi công ty bảo hiểmbồi thường.

- Hàng hoá xuất nhập khẩu thường được vận chuyển bằng các phương tiệnkhác nhau theo phương thức vận chuyển đa phương tiện, trong đó có tàu biển, hàngkhông, đường bộ… Người vận chuyển hàng đồng thời cũng là người giao hàng chongười mua

Quá trình XNKHH có liên quan đến nhiều bên, trong đó có bốn bên chủ yếulà: người bán, người mua, người vận chuyển và người bảo hiểm Vì vậy phải phânđịnh rõ ràng trách nhiệm các bên liên quan

II BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN (BHHHXNKVCBĐB)

- Giúp cho quá trình thông thương hàng hoá diễn ra suôn sẻ, tạo điều kiện thúcđẩy hoạt động ngoại thương phát triển theo kịp các nước trong khu vực Đồng thờitạo động lực giúp cho thị trường bảo hiểm trong nước phát triển, khiến các doanhnghiệp bảo hiểm trong nước phải nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng khả năng tàichính để thu hút khách hàng trong nước và quốc tế

Trang 5

1.2 Rủi ro trong BHHHXNKVCBĐB

1.1.1 Rủi ro thông thường được bảo hiểm

Rủi ro là khả năng có thể gây ra hư hỏng, thiệt hại hoặc huỷ hoại đối tượng

bảo hiểm

Trong BHHHXNKVCBĐB rủi ro được bảo hiểm phải là những thiên tai, tai nạn bấtngờ của biển gây ra hư hại hàng hoá và phương tiện vận chuyển chứ không phải làmọi rủi ro trên biển Nhìn chung các rủi ro thông thường được bảo hiểm bao gồm:

+ Tổn thất hoặc nhiễm bẩn xảy ra cho đối tượng được bảo hiểm có thể quy hợp lý cho

- Cháy, nổ

- Tàu hay sà lan mắc cạn, đắm hay lật úp;

- Đâm va với bất kể vật thể nào bên ngoài không kể nước;

- Dỡ hàng tại một cảng hoặc tại một địa điểm lánh nạn;

- Động đất, núi lửa phun, sét;

- Hy sinh tổn thất chung;

- Ném, (đổ) hàng xuống biển;

- Nước biển sông hồ xâm nhập vào hầm hàng;

- Tổn thất toàn bộ của bất kỳ kiện hàng nào rơi khỏi tàu hoặc rơi trong khi đangxếp hàng lên hay dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan;

- Hàng hoá được bảo hiểm bị mất do tàu hoặc phương tiện chở hàng bị mất tích

1.1.2.Rủi ro loại trừ

Các rủi ro loại trừ thường bao gồm:

- Mất mát, hư hại hoặc chi phí được quy cho hành vi xấu cố ý của Người đượcbảo hiểm;

- Rò rỉ thông thường hoặc hao hụt trọng lượng hoặc giảm thể tích thông thường,hoặc biến chất ở đối tượng được bảo hiểm;

- Mất mát, hư hại hoặc chi phí gây ra bởi khuyết tật hoặc tính chất của đối tượng

Trang 6

- Mất mát, hư hại hay chi phí phát sinh do tàu bè không đủ khả năng đi biển; tàu

bè, phương tiện vận chuyển, container hay toa hàng không thích hợp cho việcchuyên chở an toàn đối tượng bảo hiểm

Nếu người được bảo hiểm hoặc những người làm công cho họ biết được riêng trạngthái không đủ khả năng đi biển hoặc trạng thái không thích hợp đó vào thời gian đốitượng bảo hiểm được xếp vào đối tượng như vậy;

- Người bảo hiểm miễn bãi mọi vi phạm về những đoan kết ngầm định về tàu đủkhả năng đi biển và thích hợp cho việc chuyên chở đối tượng được bảo hiểm tớiđiểm đến, trừ khi Người được bảo hiểm hay người làm công cho họ được biết riêng

về tình trạng không đủ khả năng đi biển hay tình trạng không thích hợp đó;

- Mất mát, hư hại gây ra bởi chậm trễ ngay cả khi chậm trễ xảy ra do một rủi rođược bảo hiểm;

- Mất mát, hư hại hoặc chi phí phát sinh từ tình trạng không trả được nợ hoặcthiếu vốn về tài chính ở người chủ, người quản lý, người thuê tàu;

- Mất mát, hư hại hoặc chi phí phát sinh từ việc sử dụng bất cứ một loại vũ khíchiến tranh gì dùng tới phản ứng hạt nhân hoặc đốt nóng hạt nhân hoặc nguyên tửhoặc phản ứng khác tương tự hoặc năng lượng hoặc chất phóng xạ;

- Chiến tranh, đình công…

1.1.3.Rủi ro đặc biệt

Rủi ro được bảo hiểm trong trường hợp đặc biệt: Rủi ro do chiến tranh, đìnhcông, bạo loạn…(gọi chung là rủi ro chiến tranh) thường không được nhận bảohiểm Trong trường hợp chủ hàng yêu cầu, rủi ro chiến tranh sẽ được nhận bảo hiểmkèm theo rủi ro thông thường được bảo hiểm với điều kiện chủ hàng phải trả thêmphụ phí

1.3 Tổn thất trong BHHHXNKVCBĐB

Tổn thất trong BHHHXNKVCBĐB là những thiệt hại, hư hỏng của hàng hoáđược bảo hiểm do rủi ro:

Trang 7

 Căn cứ vào quy mô, mức độ tổn thất có thể chia ra tổn thất bộ phận(TTBP) và tổn thất toàn bộ (TTTB)

- TTBP là một phần của đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm(HĐBH) bị mất mát, hư hỏng, thiệt hại TTBP có thể là tổn thất về số lượng, trọnglượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị

Ví dụ: Xi măng bị mất 4 bao (400)kg, gạo bị ướt giảm giá trị thương mại 40%, chấtlỏng xăng dầu rò rỉ, bay hơi…

- TTTB là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hư hỏng,mất mát, thiệt hại

Có hai loại TTTB là TTTB ước tính và TTTB thực tế

+ TTTB thực tế là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theo một HĐBH bị hưhỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất, biến dạng không còn như lúc mới đượcbảo hiểm hay bị mất đi, bị tước đoạt không lấy lại được nữa Chỉ có “TTTB thực tế”trong bốn trường hợp sau:

o Hàng hoá bị huỷ hoại hoàn toàn;

o Hàng hoá bị tước đoạt không lấy lại được;

o Hàng hoá không còn là vật thể bảo hiểm;

o Hàng hoá ở trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích

Ví dụ: Một tàu chở cà phê xuất khẩu từ Hải Phòng sang Nhật Bản Trên hànhtrình tàu gặp bão lớn Cà phê bị ướt và vón cục Nếu tiếp tục chở đến Nhật Bản thì

cà phê sẽ bị hỏng toàn bộ (không còn giá trị thương mại) Trong trường hợp này,khi hàng đến Nhật Bản thì TTTB là không thể tránh khỏi

+ TTTB ước tính là trượng hợp đối tượng được bảo hiểm bị thiệt hại, mấtmát chưa tới mức độ TTTB thực tế, nhưng không thể tránh khỏi TTTB thực tế; hoặcnếu bỏ thêm chi phí ra cứu chữa thì chi phí cứu chữa có thể bằng hoặc lớn hơnGTBH

Ví dụ: Một tàu chở sắt thép xây dựng bị đắm trên hành trình do gặp bão Nếu tiếnhành trục vớt thì chi phí trục vớt có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị ban đầu của lô

Trang 8

 Nếu phân loại theo trách nhiệm bảo hiểm thì tổn thất bao gồm tổn thấtriêng (TTR) và tổn thất chung (TTC)

- TTR là tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số quyền lợi củacác chủ hàng và chủ tàu trên một con tàu Như vậy TTR chỉ liên quan đến từngquyền lợi riêng biệt Trong TTR, ngoài thiệt hại vật chất, còn phát sinh các chi phíliên quan đến TTR nhằm hạn chế những hư hại khi tổn thất xảy ra, gọi là tổn thấtchi phí riêng

Tổn thất chi phí riêng là những chi phí bảo quản hàng hoá để giảm bớt hư hạihoặc để khỏi hư hại thêm, bao gồm chi phí xếp, dỡ, gửi hàng, đóng gói lại, thay thếbao bì…ở bến khởi hành và dọc đường Có tổn thất chi phí riêng sẽ làm hạn chế vàgiảm bớt TTR

TTR có thể là TTBP hoặc là TTTB

- TTC là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý

và hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hoá chở trên tàu thoát khỏi một sự nguyhiểm chung, thực sụ đối với chúng

Theo quy tắc York Antwerp 1994, có hành động TTC khi và chỉ khi có sự

hy sinh hoặc chi phí bất thường được tiến hành một cách cố ý và hợp lý vì an toànchung nhằm cứu các tài sản khỏi một tai hoạ trong một hành trình chung trên biển

Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là TTC khi có các đặc trưngsau:

- Hành động TTC phải là hành động tự nguyện, hữu ý của những ngườitrên tàu theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền trưởng;

- Hy sinh, hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường;

- Hy sinh, hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất cả cácquyền lợi trong hành trình;

- Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế

- Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành độngtổn thất chung;

- TTC phải xảy ra trên biển

Trang 9

TTC bao gồm hai bộ phận chủ yếu đó là hy sinh TTC và chi phí TTC.

+ Hy sinh TTC là những thiệt hại hoặc chi phí do hậu quả trực tiếp của mộthành động TTC Ví dụ, việc vứt bỏ bớt hàng vì lý do an toàn của tàu, đốt vật phẩmtrên tàu để thay nhiên liệu…

+ Chi phi TTC là những chi phí phải trả cho người thứ ba trong việc cứu tàu

và hàng thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục cuộc hành trình

Chi phí TTC bao gồm chi phí cứu nạn; chi phí làm nổi tàu khi đã bị mắc cạn,chi phí thuê kéo, lai, dắt tàu khi bị nạn; chi phí tại cảng lánh nạn như: Chi phí ra vàocảng, chi phí xếp dỡ, nhiên liệu… vì an toàn chung hoặc để sửa chữa tạm thời; chiphí tái xếp hàng, lưu kho hàng hoá; tiền lương cho thuyền trưởng, thuyền viên;lương thực, thực phẩm, nhiên liệu tiêu thụ tại cảng lánh nạn

TTC và TTR có những điểm khác nhau: TTR xảy ra một cách ngẫu nhiên trong khi

TTC là cố tình cố ý TTR chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi cá biệt, vì vậy TTR củangười nào thì người đó phải chịu mà không có sự đóng góp của các bên như TTC.TTR có thể xảy ra trên biển hoặc bất kỳ địa điểm nào khác trong khi TTC chỉ xảy ratrên biển Đặc biệt TTR có thuộc trách nhiệm bồi thường của Công ty bảo hiểm haykhông là tuỳ thuộc vào điều kiện bảo hiểm trong khi với mọi điều kiện bảo hiểm ,công ty bảo hiểm đều chịu trách nhiệm bồi thường về mức đóng góp TTC của chủhàng

1.4 Trách nhiệm của các bên có liên quan trong BHHHXNKVCBĐB

Hoạt động XNKHH thường được thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:

Trang 10

Nhóm F (Free carrier) cước vận chuyển chưa trả gồm:

+ FCA (Free carrier) giao hàng cho người vận tải;

+ FOB (Free on board) giao hàng lên tàu;

+FAS (Free alongside ship) giao hàng dọc mạn tàu;

Nhóm C: Cước vận chuyển đã trả bao gồm:

+CFR (Cost and freight) tiền hàng và cước phí;

+CIF ( Cost insurance freight) tiền hàng, phí bảo hiểm, cước phí;

CPT (Carriage paid to…) cước trả tới;

+CIP (Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới Nhóm D: Nơi hàng đến, tức người bán giao hàng tại nước người mua, bao gồm + DAF (Delivered at frontier) giao hàng tại biên giới;

+ DES (Delivered ex - ship) giao hàng tại tàu;

+ DEQ ( Delivered ex – quay) giao hàng tại cầu cảng;

+ DDU (Delivered duty unpaid) giao hàng tại đích, chưa nộp thuế;

+ DDP (Delivered duty paid) giao hàng tại đích, đã nộp thuế

Trong đó thông dụng nhất là điêu kiện FOB, điều kiện CFR và điều kiện CIF.Trong các điều kiện giao hàng, ngoài phần giá hàng, tuỳ theo từng điều kiện

cụ thể mà có thêm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm Có những điều kiện giaohàng mà người bán không có trách nhiệm thuê phương tiện vận chuyển và mua bảohiểm cho hàng (hoặc không có trách nhiệm mua bảo hiểm ) Như vậy tuy bán đượchàng nhưng dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm sẽ do người mua đảm nhận (điều kiệnFOB) Có trường hợp giao hàng theo điều kiện mà ngoài việc xuất khẩu được hànghoá, người bán còn có trách nhiệm thuê phương tiện vận chuyển và mua bảo hiểmcho hàng Thực tế, các tập đoàn kinh tế hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản xuất, vậnchuyển, bảo hiểm… khi giao hàng theo điều kiện nhóm C và D, bên cạnh việc bánhàng còn giành cho họ dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm cho số hàng đó Vì vậy, nếunhập khẩu hàng theo điều kiện FOB, hay điều kiện CFR thì sẽ giữ được dịch vụ vậnchuyển và bảo hiểm, hay chỉ dịch vụ bảo hiểm Nếu trong hoạt động nhập khẩu, bánhàng theo giá CIF , người bán cũng giữ được dịch vụ vận chuyển và bảo hiểm Như

Trang 11

vậy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển các ngành vận chuyển và bảo hiểm ở quốcgia đó.

Nói chung, trách nhiệm các bên có liên quan được phân định như sau:

Người bán (người xuất khẩu): Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về số lượng,

chất lượng, loại hàng, bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng, sân bay, bếnxe; thủ tục hải quan, kiểm dịch…

Nếu bán theo giá CIF, người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá , sau

đó ký hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua

Người mua (người nhập khẩu): Có trách nhiệm nhận hàng của người chuyên chở

theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp đồng muabán, lấy giấy chứng nhận kiểm đếm, biên bản kết toán giao nhận hàng với chủphương tiện, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên (nếu có)

Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán, nhưng đúng vớihợp đồng vận chuyển thì người mua căn cứ vào hàng hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên

mà khiếu nại người vận chuyển

Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặcnhận từ người bán chuyển nhượng lại

Người vận chuyển: Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển theo yêu cầu

kĩ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải, giao nhận hàng đúng quy định theo hợpđồng vận chuyển Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở hàng cũng phải đượcbảo hiểm Người vận chuyển còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng.Vận đơn (Bill of lading) là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người vậnchuyển cấp cho người gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vậnchuyển, người gửi hàng và người nhận hàng Có nhiều loại vận đơn, nhưng ở đâycần quan tâm đến vận đơn hoàn hảo ( clean B/L) và vận đơn không hoàn hảo(unclean B/L)

Người bảo hiểm: có trách nhiệm đối với hàng hoá được bảo hiểm Chẳng hạn, kiểm

tra chứng từ về hàng hoá, kiểm tra hành trình và bản thân phương tiện vậnchuyển…

Trang 12

Khi xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm , người bảo hiểm cótrách nhiệm tiến hành giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba nếu họgây ra tổn thất này.

1.5 Điều kiện bảo hiểm

Điều kiện bảo hiểm là những quy định phạm vi trách nhiệm của người bảohiểm đối với tổn thất của hàng hoá Hàng được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểmnào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới được bồi thường

Ngày 01/01/1963 ILU (Institute of London Underwriters) – Viện nhữngngười bảo hiểm Luân Đôn đã xuất bản ba điều kiện bảo hiểm hàng hoá là FPA, WA

và AR Các điều kiện bảo hiểm này được áp dụng rộng rãi trong hoạt động thươngmại quốc tế

1.5.1 Nội dung cơ bản của ICC 01/01/1963

a) Điều kiện bảo hiểm miễn tổn thất riêng (FPA – Free from Particular Average)

Theo điệu kiện bảo hiểm FPA, trách nhiệm bảo hiểm bao gồm:

- TTTB do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng lánhnạn thuộc TTR

- TTTB vì thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển hoặc dỡ hàng tại cảng lánhnạn do rủi ro chính đem lại,

- Mất nguyên kiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải

- Bồi thường các chi phí sau:

+ Chi phí đóng góp tổn thất chung;

+ Chi phí cứu nạn;

+ Chi phí đề phòng, hạn chế tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm do người thứ

ba không phải là người được bảo hiểm hay người làm công của họ gây nên;

+ Chi phí giám định tổn thất nếu tổn thất này do rủi ro được bảo hiểm gây ra;+ Chi phí tố tụng khiếu nại

Trang 13

Để đảm bảo an toàn tài chính tối đa, tuỳ theo tính chất của hàng hoá, ngườimua bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm FPA còn có thể tham gia bảo hiểm các rủi rophụ: Rách vỡ, chảy, cong, hở, hẹp, bẹp, cẩu móc, hấp hơi, lây bẩn, nước mưa, nướcbiển, han rỉ,…

Ngoài ra, chủ hàng có trách nhiệm chứng minh tổn thất là thuộc rủi ro đượcbảo hiểm

b) Điều kiện bảo hiểm TTR (WA – With Particular Average)

Theo điều kiện bảo hiểm TTR, công ty bảo hiểm không những chịu tráchnhiệm về các rủi ro tổn thất và chi phí của điều kiện bảo hiểm FPA mà còn mở rộngthêm TTBP vì thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra không giới hạn trong bốn rủi ro chính

- Không cộng các chi phí để đạt mức miễn thường, chỉ tính tổn thất thực tế

- Được tính các tổn thất liên tiếp xảy ra để đạt được mức miễn thường

- Mỗi sà lan được coi là một con tàu để tính mức miễn thường

- Người được bảo hiểm có quyền chọn cách tính mức miễn thường có lợinhất cho mình để được bồi thường nhiều hơn

Như vậy, so với điều kiện bảo hiểm FPA thì điều kiện bảo hiểm WA cóphạm vi bảo hiểm rộng hơn và có áp dụng mức miễn thường

c) Điều kiện bảo hiểm mọi rủi ro (AR – All risks)

Phạm vi bảo hiểm của điều kiện bảo hiểm AR ngoài các rủi ro tổn thất vàchi phí của điệu kiện bảo hiểm WA thì còn mở rộng thêm các rủi ro phụ

Người bảo hiểm không áp dụng mức miễn thường

Như vậy, trong ba điều kiện bảo hiểm theo ICC 1963, chủ hàng đều có tráchnhiệm chứng minh tổn thất là thuộc rủi ro được bảo hiểm Nhưng điều kiện bảo

Trang 14

tham gia bảo hiểm các rủi ro phụ; điều kiện bảo hiểm AR không phân biệt TTTB vàTTBP như hai điều kiện bảo hiểm FPA và WA Chỉ điều kiện bảo hiểm WA có ápdụng mức miễn thường.

1.5.2.Nội dung cơ bản của ICC 1/1/1982

a) Điều kiện bảo hiểm C (ICC C)

- Phạm vi bảo hiểm theo điều kiện C bao gồm:

+ Tổn thất hay tổn hại của hàng hoá được bảo hiểm có nguyên nhân hợp lý

do cháy hoặc nổ; tàu bị mắc cạn, chìm đắm, bị lật; đâm va; dỡ hàng tại cảng lánhnạn

+ TTC

+ Phần trách nhiệm mà người được bảo hiểm phải chịu theo điều khoản haitàu đâm va nhau đều có lỗi

- Các rủi ro loài trừ bao gồm:

+ Tổn thất hay tổn hại do đóng gói bao bì không đủ điều kiện, không thích hợp.+ Tổn thất hoặc tổn hại mà nguyên nhân trực tiếp là chậm trễ

+ Tổn thất hoặc tổn hại do việc sử dụng bất kỳ một loại vũ khí chiến tranhnào có dùng phản ứng hạt nhân, phản ứng hoá học, chất phóng xạ…

+ Thiệt hại cố ý hoặc sự phá hoại cố ý đối tượng bảo hiểm do hành độngphạm pháp của bất kỳ người nào

+ Do tàu không đủ khả năng đi biển, hoặc không thích hợp cho việc vậnchuyển hàng hoá mà người được bảo hiểm đã biết tình trạng đó vào lúc hàng hoáđược sắp xếp lên phương tiện vận tải

+ Tổn thất xảy ra do chiến tranh, nội chiến, bạo loạn, hành động thù địch,tịch thu, bắt giữ, quản chế, giam cầm…

+ Tổn thất do mìn, thuỷ lôi, bom và các loại vũ khí chiến tranh khác

+ Tổn thất gây ra bởi người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặcnhững người tham gia gây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi loạn

+ Tổn thất xảy ra do bạo động chính trị, động cơ chính trị

Trách nhiệm chứng minh tổn thất thuộc về người được bảo hiểm

Trang 15

(chủ hàng)

Nhìn chung, điều kiện bảo hiểm C (ICC 1982) giống điều kiện bảo hiểmFPA (ICC 1963) Nhưng điều kiện bảo hiểm C không bồi thường tổn thất do mấtnguyên kiện hàng và cũng không phân biệt TTTB hay TTBP

b) Điều kiện bảo hiểm B (ICC B)

Theo điều kiện này, ngoài các rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện C, Công

ty bảo hiểm còn bồi thường tổn thất hay tổn hại đối với hàng hoá đựơc bảo hiểm dođộng đất, núi lửa, sét đánh, bị nước biển cuốn khỏi tàu; nước biển, nước sông; hồxâm nhập vào hầm tầu, vào côngtennơ hoặc nơi để hàng; tổn thất nguyên kiện hàngtrong quá trình xếp dỡ, chuyển tải

Người bảo hiểm có áp dụng mức miễn thường giống điều kiện bảo hiểm WA(ICC 1963), nhưng không phân biệt TTTB và TTBP

c) Điều kiện bảo hiểm A (ICC A)

Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất, bảo hiểm tất cả những hưhỏng, mất mát của hàng hoá, kể cả rủi ro cướp biển, chỉ trừ những rủi ro loại trùtheo quy định và không áp dụng mức miễn thường

Trong điều kiện bảo hiểm A, rủi ro cướp biển là phạm vi bảo hiểm rộng hơnđiều kiện bảo hiểm AR (ICC 1963)

Như vậy, ba điều kiện bảo hiểm C, B, A theo ICC 1982 đều không biệtTTTB và TTBP, chủ hàng đều có trách nhiệm chứng minh tổn thất là thuộc rủi rođược bảo hiểm Nhưng điều kiện bảo hiểm A có phạm vi bảo hiểm rộng nhất và chỉđiều kiện bảo hiểm B có áp dụng mức miễn thường

Các điều kiện bảo hiểm C, B, A có hiệu lực từ ngày 1/4/1983 và hiện nayđược áp dụng rộng rãi trên thị trường bảo hiểm thế giới

1.5.3.Điều kiện bảo hiểm đình công và chiến tranh.

a) Điều kiện bảo hiểm đình công.

Theo điều kiện bảo hiểm này chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hư hỏng củahàng hoá được bảo hiểm do:

Trang 16

- Người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặc những người tham giagây rối loạn lao động, bạo động hoặc nổi dậy.

- Hành động khủng bố hoặc vì mục đích chính trị;

- TTC và chi phí cứu nạn;

Người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất do hành động trực tiếp củangười đình công mà không chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hậu quả của đình công

b) Điều kiện bảo hiểm chiến tranh

Theo điều kiện bảo hiểm này, người bảo hiểm phải bồi thường những mấtmát, hư hỏng của hàng hoá do:

- Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn, khởi nghĩa hoặc xung độtdân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳ hành động thù địch nào

- Chiếm đoạt, bắt giữ, kiềm chế hoặc cầm giữ

- Mìn, thuỷ lôi, bom hoặc các vũ khí chiến tranh khác

Đối với rủi ro do mìn và ngư lôi, trách nhiệm của người bảo hiểm được mởrổng ra cả khi hàng hoá còn ở trên xà lan để vận chuyển ra tàu hoặc từ tàu vào bờnhưng không vượt quá 60 ngày kể từ ngày dỡ hàng khỏi tàu, trừ khi có thoả thuậnđặc biệt khác

1.6 Hợp đồng bảo hiểm

1.6.1 Khái niệm

HĐBH hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là một vănbản, trong đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người tham gia bảo hiểm

Trang 17

các tổn thất của hàng hóa theo các điều kiện bảo hiểm đã cam kết, còn người thamgia bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm

1.6.2 Các loại hợp đồng bảo hiểm

HĐBH có hai loại: HĐBH chuyến và HĐBH bao

 HĐBH chuyến

HĐBH chuyến là HĐBH cho một chuyến hàng chuyên chở từ địa điểm nàyđến địa điểm khác ghi trong HĐBH Công ty bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hànghoá trong phạm vi một chuyến

HĐBH chuyến thường được trình bày dưới hình thức đơn bảo hiểm hay giấychứng nhận bảo hiểm do Công ty bảo hiểm cấp Đơn bảo hiểm chính là một HĐBHchuyến đầy đủ Nội dung gồm hai phần: Mặt trước và mặt sau của đơn bảo hiểm.Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng, tàu, hành trình Mặt sau thương ghi cácđiều lệ hay qui tắc bảo hiểm của Công ty bảo hiểm Nội dung HĐBH chủ yếu baogồm:

- Ngày cấp đơn bảo hiểm

- Nơi ký kết HĐBH

- Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm

- Tên hàng được bảo hiểm

- Qui cách đóng gói, loại bao bì và ký mã hiệu của hàng

- Tên tàu hoặc phương tiện vận chuyển hàng

- Cách xếp hàng trên tàu

- Cảng khởi hành, cảng chuyển tải và cảng cuối Trong trường hợp nơi đếncửa hàng ghi trong đơn bảo hiểm là một điểm nằm sâu trong nội địa, nghĩa là saukhi đến cảng cuối, phải chuyển tiếp hàng bằng phương tiện khác đến điểm đã định

và đến đây mới hết trách nhiệm của Công ty bảo hiểm, thì phải tăng thêm phụ phíbảo hiểm vì ngoài rủi ro trên đoạn đường phụ trong toàn bộ hành trình được bảohiểm

- Ngày tàu khởi hành

Trang 18

- Điều kiện bảo hiểm

- Phí bảo hiểm

- Địa chỉ của giám định viên bảo hiểm

- Phương thức và địa điểm trả tiền bồi thường, do người được bảo hiểm chọn

- Số bản đơn được phát hành

 HĐBH bao (HĐBH mở)

HĐBH bao là HĐBH cho một khối lượng hàng vận chuyển trong nhiềuchuyến kế tiếp nhau trong một thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc nhậnbảo hiểm cho một lượng hàng vận chuyển nhất định (không kể đến thời gian)

Nội dung bao gồm: Nguyên tắc chung, phạm vi trách nhiệm, tên hàng đượcbảo hiểm, việc đóng gói hàng, loại phương tiện vận chuyển, cách tính GTBH vàSTBH tối đa cho mỗi chuyến hàng, điều kiện bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm và thanhtoán phí bảo hiểm, giám định, khiếu nại đòi bồi thường, hiệu lực của hợp đồng, xử

lý tranh chấp…Trong hợp đồng, phải có ba điều kiện cơ bản sau:

- Điều kiện xếp hạng tàu được thuê chuyên chở hàng hoá sẽ được bảo hiểm:Tàu phải có cấp hạng cao và nếu do 10 hãng đăng kiểm nổi tiếng trên thếgiới cấp mới được chấp nhận một cách tuyệt đối

Tàu phải có khả năng đi biển bình thường và tuổi tàu thấp (dưới 15 năm)

- Điều kiện về GTBH: Người được bảo hiểm phải kê khai giá trị hàng theotừng chuyến vế số kiện, giá CIF hoặc giá FOB, số hợp đồng mua bán, số thư tíndụng (L/C), ngày mở và trị giá L/C, số vận đơn B/L

- Điều kiện về quan hệ trên tinh thần thiện chí: Nghĩa là đã mua bảo hiểmbao của người bảo hiểm nào thì trong thời gian đó người được bảo hiểm khôngđược phép mua bảo hiểm hàng hoá của người bảo hiểm khác

Trong thời gian có hiệu lực của HĐBH bao, mỗi lần vận chuyển hàng hoá,người tham gia bảo hiểm phải gửi giấy báo vận chuyển cho người bảo hiểm Nếu cóthay đổi đặc biệt về số lượng, giá trị hàng…phải tiến hành ký kết HĐBH khác

Sau khi cấp đơn bảo hiểm hoặc HĐBH, nếu người được bảo hiểm thấy cần

bổ sung, sửa đổi một số điều và công ty bảo hiểm đồng ý thì công ty bảo hiểm sẽ

Trang 19

cấp giấy bổ sung Giấy này cũng có giá trị như một đơn bảo hiểm, là một bộ phậnđược kèm theo và không thể tách rời của đơn bảo hiểm (hoặc HĐBH ) ban đầu.

Ngoài ra đơn bảo hiểm có thể chuyển nhượng từ người đứng tên trong đơncho một người khác được hưởng quyền lợi của đơn bảo hiểm Người được bảo hiểmchỉ cần ký hậu vào đơn rồi trao lại đơn và các giấy tờ liên quan khác cho ngườiđược nhượng Ví dụ bán hàng theo giá CIF, người bán hàng sau khi mua bảo hiểmcho hàng sẽ ký hậu vào đơn bảo hiểm rồi chuyển nhượng cho người mua

1.7 Gía trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, Phí bảo hiểm.

Nếu GTBH không chỉ tính bằng giá CIF mà còn tính thêm phần lãi dự tính(tối đa là 10% giá CIF), nghĩa là GTBH của hàng lớn nhất bằng 110% CIF

Công thức xác định giá CIF:

R

F C CIF

1 Trong đó:

C (Cost) - Giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi;

F (Freight) - Cước phí vận chuyển;

R (Rate) - Tỷ lệ phí bảo hiểm

GTBH được xác định theo công thức:

R

F C V

 1

a F C V

(

Trang 20

Trong đó: V- Giá trị bảo hiểm

STBH được xác định dựa trên cơ sở GTBH

Hoá đơn hàng là tài liệu chắc chắn nhất để xác định GTBH của hàng hoá.Nếu STBH bằng GTBH, đó là “bảo hiểm ngang giá trị”, còn gọi là “bảo hiểm toànphần”

Nếu STBH cao hơn GTBH, đó là “bảo hiểm ngang giá trị”, còn gọi là “bảo hiểmvượt mức”

Nếu STBH thấp hơn GTBH, đó là “bảo hiểm dưới giá trị”, còn gọi là “bảo hiểmdưới mức”

Trong thực tế, chủ hàng thường bảo hiểm ngang giá trị

Trang 21

P = CIF x R (nếu không bảo hiểm lãi dự tính)

Hoặc: P = CIF (a+1) x R (nếu bảo hiểm thêm lãi dự tính a)

Tỷ lệ phí bảo hiểm được ghi trong HĐBH theo thoả thuận giữa người bảo hiểm

và người tham gia bảo hiểm

Tỷ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Loại hàng hoá: Hàng dễ bị tổn thất như dễ vỡ, dễ bị mất cắp thì tỷ lệ phí bảo hiểm

sẽ cao hơn

Loại bao bì: Bao bì càng chắc chắn, tỷ lệ phí bảo hiểm càng hạ;

Phương tiện vận chuyển: Hàng được chở trên tàu trẻ có tỷ lệ phí bảo hiểm thấp hơn

hàng được chở bằng tàu già

Hành trình: Tỷ lệ phí tăng lên đối với những hành trình có nhiều rủi ro (theo thống

kê kinh nghiệm) hoặc hành trình qua các vùng có xung đột vũ trang…

Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ lệ phí bảo hiểm

càng thấp

Trong một số trường hợp có nguy cơ gia tăng rủi ro (ví dụ: Hàng được vậnchuyển trên tàu già,…), tỷ lệ phí bảo hiểm bao gồm hai phần như sau:

R = Rgốc + Rphụ Với Rgốc: Tỷ lệ phí gốc;

R phụ: Tỷ lệ phí phụ (phụ thuộc vào tuổi tàu, quốc tịch tàu, bảo hiểmchiến tranh…)

Như vậy, thực chất phí bảo hiểm gồm hai phần:

- Phí gốc: Pgốc = Sb x Rgốc

Phí phụ: Ví dụ trường hợp phát sinh phụ phí tàu già:

Ptàu già = Sb x Rtàu già

Trong đó Sb là STBH

Lúc này: Ptổng cộng = Pgốc + Ptàu già

Các bộ luật và qui tắc bảo hiểm hàng hải đều lưu ý HĐBH chỉ có hiệu lựcngay sau khi phí bảo hiểm được trả, Công ty bảo hiểm có quyền huỷ HĐBH nếu

Trang 22

người được bảo hiểm không thực hiện đúng nghĩa vụ trả phí bảo hiểm hoặc cóquyền từ chối bồi thường khi rủi ro xảy ra.

1.8 Giám định và bồi thường tổn thất

1.8.1.Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất

Trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm ngườiđược bảo hiểm hay người làm công cho họ hoặc đại diện của họ phải:

- Khai báo ngay với cơ quan chức năng địa phương để xử lý và lập biên bản theoluật hiện hành

- Thông báo ngay cho người bảo hiểm hay đại diện của họ tại địa phương gần nhấtđến giám định trong thời gian sớm nhất

- Phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để cứu chữa và bảo quản hàng hoá nhằmhạn chế tổn thất

- Làm các thủ tục cần thiết để bảo lưu quyền đòi bồi thường đối với người chuyênchở hay người thứ ba khác có trách nhiệm đối với tổn thất, mất mát hàng hoá trongtai nạn ấy

Người bảo hiểm có quyền từ chối giải quyết bồi thường một phần hoặc toàn

bộ tổn thất nếu người được bảo hiểm không thi hành đầy đủ những nghĩa vụ trên

1.8.2 Khiếu nại đòi bồi thường

Khi khiếu nại người bảo hiểm về những mất mát hư hỏng thuộc trách nhiệmhợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm cần nộp đủ những giấy tờ chứng minh:

- Bản chính “Giấy chứng nhận bảo hiểm”

- Bản chính hợp đồng vận chuyển, giấy vận chuyển hàng hoá do chủ phương tiện cấp

- Hoá đơn bán hàng kèm theo bản kê chi tiết hàng hoá, phiếu ghi trọng lượng và sốlượng hàng hoá

- Biên bản điều tra tai nạn cơ quan chức trách địa phương

- Biên bản giám định hàng tổn thất ghi rõ mức độ tổn thất

- Văn bản khiếu nại, người chuyên chở hay người thứ ba khác về trách nhiệm đốivới tổn thất do họ gây ra

Trang 23

- Thư đòi bổi thường

- Các chứng từ giao nhận hàng của cảng hoặc của cơ quan chức năng;

- HĐBH và giấy sửa đổi bổ sung (nếu có) bản chính;

- Phiếu đóng gói bản chính;

Trong trường hợp các chứng từ trong bộ hồ sơ khiếu nại không làm rõ được tổnthất có thuộc trách nhiệm của người bảo hiểm hay không, người bảo hiểm yêu cầucung cấp thêm các chứng từ sau:

1.8.3 Giám định và bồi thường tổn thất.

Giám định là công việc của người bảo hiểm hoặc người được uỷ thác Trongquá trình giám định cần phải làm rõ: nguyên nhân, mức độ và trách nhiệm đối vớitổn thất của hàng hoá Đôi khi phải quy định cụ thể thời gian Sau khi giám địnhxong cán bộ giám định sẽ cấp chứng từ giám định, trong giấy này có: xác định mức

độ tổn thất, mức giảm giá trị thương mại nếu có để nhà bảo hiểm có cơ sở bồithường chính xác Nhà bảo hiểm bồi thường theo ba nguyên tắc sau đây:

Trang 24

- Số tiền bồi thường tối đa chỉ bằng STBH Tuy nhiên có một số khoản tiền để chiphí: cứu nạn, bán đấu giá hàng hoá, tiền đóng góp TTC hầu như đều được nhà bảohiểm bồi thường.

- Bồi thường bằng tiền không bồi thường bằng hiện vật, nộp phí bằng đồng tiền

nào thì được bồi thường bằng đồng tiền đó;

- Khi trả tiền bảo hiểm người bảo hiểm sẽ khấu trừ tất cả các khoản tiền mà chủhàng nhận được từ người thứ ba;

Trong quá trình bồi thường cần phải lưu ý:

 Bồi thường TTC:

+ TTC bao giờ cũng được bồi thường cho dù người mua bảo hiểm mua ở điều kiệnnào Nếu STBH thấp hơn giá trị phải đóng góp vào TTC, người bảo hiểm chỉ bồithường theo tỉ lệ giữa số tiền được bảo hiểm và giá trị phải đóng góp vào TTC.+ Không bồi thường trực tiếp cho các chủ hàng mà thanh toán cho người đứng ratính toán TTC Người này do chủ tàu chỉ định;

+ Số tiền bồi thường này được cộng thêm hay khấu trừ phần chênh lệch giữa sốtiền đã đóng góp vào TTC và số tiền phải đóng góp TTC theo như phân bổ

 Bồi thường TTR:

+ Đối với TTTB thực tế bồi thường đúng bằng STBH

+ Đối với TTTB ước tính sẽ bồi thường đúng bằng STBH nếu chủ hàng từ bỏ lôhàng

+ Đối với tổn thất bộ phận sẽ bồi thường như sau:

 Bồi thường số kiện, số bao bị thiếu, bị mất hoặc trọng lượng hàng rời bị thiếuhoặc mức giảm giá trị thương mại của hàng hoá;

 Trong quá trình bồi thường TTR phải hết sức chú ý đến chế độ miễn thường.Chế độ miễn thường áp dụng chỉ áp dụng đối với TTR không áp dụng đối với TTC Trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu có thể áp dụng hai chế độ miễn thường cókhấu trừ hoặc không khấu trừ tuỳ theo sự thoả thuận của các bê

Trang 25

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT

TRIỂN VIỆT NAM

I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Tên Việt Nam: Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam

Tên Tiếng Anh: Bank of Investing and Development Vietnam Insurance Company Tên viết tắt: BIC

Công ty bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC), tiền thân là

công ty liên doanh Bảo Hiểm Việt – Úc (là công ty liên doanh bảo hiểm giữa Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và công ty Bảo hiểm Quốc tế QBE thuộc tậpđoàn Bảo hiểm QBE của Úc) được cấp giấy phép thành lập theo giấy phép đầu tư số2126/GP của Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư ngày 16 tháng 07 năm 1999

- Theo Giấy phép điều chỉnh số 11/GPĐC4/KDBH ngày 27 tháng 12 năm 2005của Bộ trưởng Bộ tài chính, Công ty Liên doanh Bảo hiểm Việt – Úc đổi tên thànhcông ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam dựa trên cơ sở Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mua lại toàn bộ phần vốn góp của Công ty Bảohiểm Quốc tế QBE thuộc tập đoàn bảo hiểm QBE trong Công ty Liên doanh Bảohiểm Việt – Úc

- Theo giấy phép số 11GP/KDBH ngày 10 tháng 4 năm 2006 Công ty bảo hiểmNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam chính thức được cấp giấy phép thành lập

và hoạt động Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một

Trang 26

thành lập theo quyết định số 292/QĐ-HĐQT ngày 28/12/2005 của Hội đồng Quảntrị Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, có vốn điều lệ 200 tỷ đồng do Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đầu tư 100% vốn, có con dấu riêng và hạchtoán độc lập BIC chính thức hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.

- Thời hạn hoạt động: 89 năm

* Hiện nay BIC hoạt động với cơ cấu tổ chức theo sơ đồ sau:

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC

CÔNG TY BẢO HIỂM NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Mô hình tổ chức của BIC gồm các cấp độ như sau:

 Trụ sở chính tại Hà Nội: điều hành chung toàn bộ hoạt động của BIC và làđầu mối báo cáo, tiếp nhận thông tin với ban điều hành tại hội sở chính của BIDV

 Các chi nhánh BIC tại các vùng trọng điểm: sẽ là đơn vị trực tiếp kinhdoanh BIC sẽ giao địa bàn phụ trách cho từng chi nhánh của mình Các dịch vụphát sinh từ chi nhánh BIDV sẽ được gửi/liên hệ về chi nhánh BIC được giao phụtrách địa bàn

 Các văn phòng đại diện: Các văn phòng đại diện của BIC tại những vùngtiềm năng sẽ là cầu nối, cung cấp thông tin, hỗ trợ hoạt động khai thác bảo hiểm củachi nhánh BIDV

 BIC sẽ phân công/cử cán bộ hỗ trợ trực tiếp các chi nhánh BIDV cán bộchuyên quản lý đại lý là đầu mối liên hệ:

 Đào tạo nhân viên ngân hàng các kỹ năng, quy trình bán bảo hiểm vàkiến thức sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ

 Hỗ trợ các cán bộ bán bảo hiểm của ngân hàng xây dựng kế hoạch khaithác bảo hiểm, tìm kiếm khách hàng

CN NGHỆ AN

CN BÌNH ĐỊNH

CN CẦN THƠPHÓ GIÁM ĐỐC

GIÁM ĐỐC

Trang 27

 Trực tiếp phối hợp cùng cán bộ bán bảo hiểm của ngân hàng gặp gỡthuyết phục khách hàng tham gia bảo hiểm.

 BIC sẽ cử cán bộ hỗ trợ thông qua điên thoại, Email, fax:

 Trả lời những thắc mắc của cán bộ bán bảo hiểm của ngân hàng và kháchhàng liên quan về sản phẩm

 Trợ giúp cán bộ chuyên quản lý trong việc đào tạo nhân viên ngân hàng

 Tại trụ sở chính cũng như các chi nhánh của BIC đều có số điện thoại nóng(có cán bộ trực trong giờ hành chính và sẽ thực hiện chuyển cuộc gọi sang máy diđộng ngoài giờ hành chính) Các cán bộ bảo hiểm của ngân hàng, khách hàng có thểliên hệ với số điện thoại nóng để thông báo tổn thất và sẽ được hướng dẫn các thủtục giải quyết khiếu nại nhanh chóng Số điện thoại nóng tại trụ sở chính BIC là042200286

BIC có chức năng kinh doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ; tái bảohiểm phi nhân thọ trong và ngoài nước; hoạt động đầu tư tài chính, cụ thể như sau:

- Kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo hiểm tài sản và bảohiểm thiệt hại; Bảo hiểm thân tàu; Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đườngbiển, đường sông, đường sắt và đường hàng không; Bảo hiểm trách nhiệm chung;Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy; Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; Bảohiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểm con người và các loại hình bảo hiểm phi nhânthọ khác

- Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ: BIC đã xây dựng được mối quan hệhợp tác kinh doanh với các công ty bảo hiểm có uy tín trên thế giới như Swiss Re,Labuan Re, B.E.S.T Re, Malaysian Re Berhad, Caisse Centrale De Reassurance và

ở Việt nam như Tổng công ty tái bảo hiểm quốc gia Vinare Tái bảo hiểm là mộttrong những công cụ quản lý rủi ro, đảm bảo khả năng tài chính cho các hợp đồng

có giá trị bảo hiểm lớn và tăng doanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng từnhượng tái bảo hiểm

Trang 28

- Đầu tư tài chính: Công tư bảo hiểm BIDV sẽ thực hiện hoạt động đầu tư tàichính theo hướng chuyên nghiệp hoá nhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty,

hỗ trợ hoạt động khai thác Ngoài ra, hoạt động đầu tư tài chính là một kênh chínhtạo ra lợi nhuận cho công ty điều hoà nguồn vốn và sử dụng hợp lý tối đa nguồn vốnnhàn rỗi Với nghiệp vụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp Công ty bảo hiểm BIDV sẽ

có điều kiện thực hiện chiến lược mở rộng đầu tư, chiến lượcvào các doanh nghiệptrong lĩnh vực bảo hiểm cũng như lĩnh vực có nhiều tiềm năng

- Các dịch vụ có liên quan: Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất, đại

lý giám định, xét giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba

* Kết quả hoạt động của BIC:

Sau năm đầu chính thức đi vào hoạt động BIC đã đạt được một số kết quả rất khả quan như sau:

- Hoàn thành giao dịch chuyển nhượng vốn, chuyển giao và bàn giao thànhcông Đây là lần đầu tiên một Ngân hàng mua một công ty bảo hiểm có vốn nướcngoài nhưng việc chuyển giao đã đáp ứng yêu cầu pháp lý, không ảnh hưởng tới sự

ổn định của thị trường bảo hiểm, đáp ứng được mục tiêu của từng bên tham gia vàkhách hàng, đáp ứng được yêu cầu của Bộ Tài chính

- Tiếp nối hoạt động của công ty cũ, đặc biệt trong việc giữ cam kết với kháchhàng và đối tác, không để xảy ra phàn nàn, khiếu nại trong việc xử lý bồi thường.BIC đã nỗ lực tối đa để tái tục những hợp đồng bảo hiểm có khả năng tái tục để giữquan hệ với khách hàng

- Đã xác định, xây dựng được định hướng hoạt động phù hợp với mô hình vàđiều kiện hoạt động mới Ổn định tư tưởng cán bộ, những cán bộ ở lại đã yên tâmcông tác Đã xây dựng hoạt động các cơ cấu tổ chức chính theo quy định: Chi bộ,Công đoàn, Đoàn thanh niên

Trang 29

- Phát triển mạnh mạng lưới hoạt động: với định hướng kinh doanh mới (tậpchung khai thác bảo hiểm gốc, thương mại hoá hoạt động, …) đòi hỏi BIC phải mởrộng mạng lưới để gia tăng cơ hội khai thác và nâng cao chất lượng dịch vụ, đặcbiệt là ứng xử ngay khi có tổn thất Trong năm 2006, BIC đã phát triển được 9 chinhánh tại tất cả các trung tâm vùng trong toàn quốc Đây là “xương sống” để pháttriển mạnh mạng lưới các phòng dịch vụ khách hàng khu vực, hệ thống đại lý đểđảm bảo có thể phục vụ khách hàng nhanh chóng khắp các tỉnh thành trong toànquốc Đến cuối tháng 12 năm 2006 BIC đã đào tạo, phát triển được 440 đại lý bảohiểm trong toàn quốc.

- Kết quả kinh doanh đáng khích lệ, đặc biệt là về lợi nhuận: mặc dù có nhiềukhó khăn trong năm đầu tiên hoạt động nhưng doanh thu đạt cao hơn năm trước (đạt

49217 triệu đồng), lợi nhuận 12460 triệu đồng Nếu không phải chịu khoản lỗ tỷ giá

và điều chuyển vốn vượt mức thực có tại thời điểm 31/12/2005 gần 6 tỷ đồng thìmức lợi nhuận của năm 2006 của BIC còn cao hơn nữa Công ty đã có lãi ngay từnăm hoạt động đầu tiên Tổng quỹ dự phòng (nghiệp vụ và phải thu) tại thời điểm31/12/2006 đã đạt 43 799 triệu đồng, tăng 26% so với năm 2005

- Đã xây dựng và chuyển đổi mô hình tổ chức, mô hình kinh doanh phù hợpvới định hướng hoạt động mới Từ đầu năm 2007, BIC sẽ hoạt động theo mô hình

tổ chức mới Theo đó, toàn bộ hoạt động kinh doanh, cung cấp dịch vụ trực tiếp chokhách hàng sẽ được tách ra khỏi trụ sở chính công ty để trụ sở chính tập chung chovai trò định hướng, điều hành, quản lý, hỗ trợ, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới,kiểm tra, giám sát và chi nhánh tập trung cho việc phát triển, quan hệ khách hàng,phát triển thị trường và xử lý sau bán hàng

- Bước đầu đã gây dựng, đào tạo được đội ngũ cán bộ có tâm huyết, năng động,gắn bó với hoạt động của BIC Đến cuối năm 2006, toàn công ty có 118 cán bộ, đa

số đều còn trẻ, được đào tạo cơ bản, là nền tảng phát triển rất tốt cho BIC nếu cóchính sách đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ tốt

Trang 30

Những kết quả trên được biểu hiện cụ thể qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Tổng hợp kết quả kinh doanh của BIC đến 31/12/2006

1 Tổng doanh thu phí bảo hiểm Triệu đồng 45000 49217

6

Lợi nhuận sau thuế bình quân

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của BIC trong năm 2006)

Tổng quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm đến 31/12/2006 đạt 38620 triệu đồng

- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

+ Tổng doanh thu phí đạt 49.2 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2005 Với việc mất đinhiều lợi thế sau chuyển giao, doanh thu khai thác chủ yếu từ bảo hiểm gốc thì kếtquả này đã khẳng định sự nỗ lực rất lớn của BIC trong việc không để mất thị phần

Trang 31

Nếu so sánh trên chỉ tiêu bảo hiểm gốc thì thị phần của BIC đã tăng từ 0,45% năm

2005 lên 0,75% vào cuối năm 2006

+ Tỷ lệ nhượng tái bảo hiểm năm 2006 là 53%, năm 2005 là 21% nhưng tỷ lệ doanhthu phí thuần trên tổng doanh thu năm 2006 đạt 71%, cao hơn nhiều so với 2005 là21% Nguyên nhân chính là do một lượng lớn dự phòng phí chưa được hưởng củacác đơn cấp vào cuối năm 2005 nay được chuyển vào phí được hưởng của năm 2006.+ Khiếu nại, bồi thường: do có các quy định khai thác, quy trình giải quyết bồithường chặt chẽ nên chất lượng rủi ro của công ty khá tốt so với các công ty kháctrên thị trường Tỷ lệ bồi thường của công ty chiếm 41,26% tổng phí giữ lại ròng

- Hoạt động đầu tư:

Sau khi chuyển giao và giao nhận vốn, công ty đã chú trọng công tác đầu tưnguồn vốn nhàn rỗi để gia tăng lợi nhuận Tuy nhiên, vì mất 4 tháng đầu năm chờchuyển đổi ngoại tệ và giao vốn chính thức, và là năm đầu hoạt động nên BIC đãtập trung cho các kênh đầu tư an toàn (tiền gửi, trái phiếu) nên kết quả đạt được cònkhiêm tốn so với cơ hội của thị trường Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tài chính

2006 đạt 19983 triệu đồng Ngoài ra chênh lệch giá trị trên danh mục đầu tư tại thờiđiểm 31/12/2006 là 19926 triệu đồng

Bảng 2: Doanh thu theo khu vực của BIC đến 31/12/2006

STT Đơn vị khai thác Doanh thu thực hiện 31/12/2006

(Tr.đ)

Tỷ trọng (%)

Trang 32

9 Chi nhánh Cần Thơ 148 0,32

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của BIC trong năm 2006) Mặc dù mạng lưới khai thác đã được mở rộng, nhưng những chi nhánh mới đượcthành lập của BIC chưa có kết quả kinh doanh do phải tập trung cho việc ổn định tổchức nhân sự, thiết lập quan hệ, nghiên cứu học hỏi nghiệp vụ… Khu vực có doanhthu cao nhất vẫn là trụ sở chính tại Hà Nội và BIC – HCM

Trong năm 2006, thu từ nhận tái bảo hiểm tạm thời của BIC chiếm tỷ trọng khônglớn (khoảng 21%) vì năng lực nhận tái bảo hiểm do nhà tái bảo hiểm cho phép nhỏ,điều khoản, điều kiện hạn chế BIC nhận nguồn dịch vụ này từ nhiều công ty và chủyếu là các công ty trong nước do có sự trao đổi và chia sẻ dịch vụ Các công ty có tỷtrọng nhượng tái cao sang BIC chủ yếu từ PVI (21,8%), Bảo Việt (20,4%) và BảoMinh (16,9%)

Doanh thu từ hoạt động môi giới chỉ chiếm 8.24% tổng doanh thu phí của công

ty Thu từ hoạt động môi giới có được chủ yếu là dịch vụ nhỏ hoặc một số dịch vụ

từ những năm trước tái tục

Bảng 3: Phân chia phí bảo hiểm theo loại hình nghiệp vụ của BIC đến

31/12/2006 (chỉ tính phí bảo hiểm gốc).

(Tr.đ)

Phần trăm tổng phí thu (%)

Trang 33

Tổng cộng 46859 100

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của BIC trong năm 2006)

Doanh thu phí từ loại hình bảo hiểm kỹ thuật chiếm tỷ trọng lớn nhất (32,37%),sau đó đến loại hình bảo hiểm cháy / mọi rủi ro tài sản (22,95%), bảo hiểm tiền(19,07%) Doanh thu phí từ bảo hiểm trách nhiệm (0,84%) và bảo hiểm thiệt hạikinh doanh (0,46%) chiếm tỷ trọng không đáng kể vì đây là loại hình không phải làthế mạnh khai thác của BIC So với năm 2005, BIC đẩy mạnh khai thác mảng dịch

vụ bảo hiểm xe cơ giới (13,54%) và mở rộng khai thác bảo hiểm tàu (2,08%)

* Bên cạnh những thàng tích đã đạt được, BIC cũng còn rất nhiều mặt hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới:

- Công ty chuyển đổi từ mô hình liên doanh sang mô hình công ty Nhà nước nêncũng có những thay đổi, ảnh hưởng đáng kể đến tỷ trọng doanh thu Định hướngkhai thác là lựa chọn khách hàng, lựa chọn rủi ro, doanh thu chủ yếu từ kênh khaithác qua môi giới và nhận tái Khi chuyển sang hình thức sở hữu Nhà nước, môhình kinh doanh tương đối giống như các công ty bảo hiểm nội địa khác, doanh thuphí bảo hiểm khai thác trực tiếp và thông qua hệ thống BIDV ngày càng chiếm tỷtrọng nhiều hơn Điều này đòi hỏi lực lượng cán bộ khai thác phải gia tăng cả về sốlượng và chất lượng, loại hình sản phẩm bảo hiểm đa dạng, mạng lưới kênh phânphối phải phát triển

- Lực lượng cán bộ được bổ sung nhanh từ thị trường nên việc xây dựng văn hoácông ty và văn hoá kinh doanh phải được đặt ra và kiên quyết duy trì Hiện tại, lựclượng cán bộ tâm huyết, làm việc vì sự phát triển chung của công ty còn chưa nhiều

- Quan hệ với các đơn vị thành viên BIDV còn chưa chặt chẽ, hình thức liên kết,hợp tác nhiều nơi còn mang tính chất văn bản, giấy tờ; vì vậy hiệu quả hợp tác chưacao Thực tế chỉ còn 1/3 doanh thu khai thác năm 2006 của BIC là từ các chi nhánhBIDV, phần còn lại là do BIC tự khai thác Kết quả này chưa thực sự thể hiện lợithế, tiềm năng và hiệu quả chỉ đạo của ban lãnh đạo

Trang 34

- Cơ chế làm việc chưa khuyến khích được cán bộ công ty, lương và các chínhsách khác chưa thu hút được nguồn nhân lực tốt từ thị trường, chưa cạnh tranh, kếtquả khai thác chưa thực sự tác động trực tiếp và tích cực tới lợi ích của người laođộng Trong năm tới, BIC cần phải xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế lươngtheo kết quả kinh doanh để thúc đẩy hoạt động khai thác nhưng vẫn phải quan tâmđến chất lượng dịch vụ.

- Hoạt động tuyên truyền, quảng bá hình ảnh của công ty còn đang trong giaiđoạn xây dựng bước đầu Trong thời gian tới, BIC sẽ phải xây dựng chương trìnhquảng bá hình ảnh và thương hiệu mang tính chuyên nghiệp hơn

- Mạng lưới đại lý khai thác là các chi nhánh BIDV trong những năm qua chưathực sự phát huy hết hiệu quả, hoạt động đại lý chỉ mang tính chất giới thiệu kháchhàng tham gia bảo hiểm tại công ty chứ chưa có tính chuyên nghiệp Hạn chế nàyxuất phát từ mô hình tổ chức, cơ chế, chính sách đại lý chưa phù hợp BIC đangnghiên cứu để đưa ra được chính sách hấp dẫn hơn nhằm tăng số lượng dịch vụ vàdoanh thu phí bảo hiểm từ kênh phân phối này

- Một số sản phẩm mới, cao cấp (như bảo hiểm trách nhiệm), BIC còn lúng túngtrong cách xử lý kỹ thuật và không hấp dẫn khách hàng vì đây không phải là thếmạnh khai thác của công ty Tuy nhiên xét về lâu dài, đây là những sản phẩm sẽ cónhu cầu lớn trong những năm tới khi thị trường bảo hiểm Việt Nam hội nhập vàphát triển, BIC sẽ có kế hoạch để nghiên cứu và đào tạo cho cán bộ tiếp cận

- Khâu giải quyết khiếu nại còn nhiều bất cập, mạng lưới mỏng, dẫn đến việcchậm trễ thanh toán bồi thường nên đã xảy ra tình trạng khách hàng không hài lòngvới chất lượng dịch vụ và cũng có trường hợp khách hàng từ chối tái tục bảo hiểmsau đó

- Chương trình quản lý dữ liệu lạc hậu, chưa đồng bộ vì vậy còn nhiều khó khăntrong công tác quản lý dữ liệu, theo dõi việc thanh toán phí bảo hiểm, chi trả hoahồng…

Trang 35

- Hoạt động đầu tư có kết quả khá tốt Khả năng cạnh tranh về lĩnh vực này là tốt

và sẽ hỗ trợ rất nhiều cho chiến lược phát triển của công ty

- Sau thời gian hoạt động, khối lượng khách hàng có sự thay đổi, tuy nhiên BICđang hình thành cho mình một khối lượng khách hàng nhất định, cơ cấu khách hàngcũng bắt đầu ổn định, tạo sự thuận lợi cho công ty khai thác và quản lý

Kết quả hoạt động năm 2006 còn rất nhiều khiêm tốn nhưng có thể nói, BIC đãvượt qua được giai đoạn khó khăn ban đầu Đây là năm được BIC xác định là thời

kỳ “củng cố”, chuẩn bị hành tranh, tiền đề cho sự phát triển lâu dài, đặc biệt là nămhoạt động thứ 2 – năm 2007 sẽ được BIC xác định là năm “tăng tốc”

II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BHHHXNKVCBĐB TỪ KHI THÀNH LẬP ĐẾN NAY

2.1 Khái quát thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu

2.1.1 Hoạt động XNK của Việt Nam trong năm 2006.

Xuất khẩu hàng hoá năm 2006 đạt 39,98 tỷ USD và đã vượt 4,9% so với kế

hoạch cả năm, trong đó khu vực kinh tế trong 16,7 tỷ USD, tăng 20,5% so với nămtrước, đóng góp 39,8% vào mức tăng chung; khu vực có vốn đầu tư nước ngoàikhông kể dầu thô 14,5 tỷ USD, tăng 30,1%, đóng góp 46,9% và dầu thô 8,3 tỷ USD,tăng 12,9%, đóng góp 13,3% Năm nay, có thêm cao su và cà phê đạt kim ngạch xuấtkhẩu trên 1 tỷ USD nâng tổng số các mặt hàng có kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên là 9,trong đó 4 mặt hàng lớn truyền thống là dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản kim

ngạch mỗi mặt hàng đạt trên 3,3 tỷ USD Xuất khẩu một số mặt hàng nông sản năm

nay tăng mạnh, do phát triển nông nghiệp đúng hướng, đồng thời giá thế giới tăngcao, trong đó kim ngạch cao su tăng cao nhất (+58,3%); cà phê tăng tới 49,9%(hoàn toàn do được lợi về giá); riêng gạo giảm cả kim ngạch và lượng, chủ yếu donguồn cung không tăng

Nhập khẩu hàng hoá năm 2006 đạt 45,48 tỷ USD, vượt 4,5% so với kế hoạch

năm 2006 và tăng 20,1% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt

Trang 36

27,99 tỷ USD, tăng 19,9% và đóng góp 62,6% vào mức tăng chung; khu vực có vốnđầu tư nước ngoài 16,42 tỷ USD, tăng 20,4%, đóng góp 37,4%.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị và hầu hết các vật tư, nguyên liệu cho sản xuấttrong nước đều tăng so với năm trước, đặc biệt là nhiều loại vật tư chủ yếu (trừ xăngdầu, phôi thép và phân u rê)

2.1.2.Thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam

Từ 1991 đến nay, kim ngạch xuất khẩu nước ta tăng nhanh, trung bình khoảng19,6% Nếu năm 1991 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 2,087 tỷ USD thì năm 2003 đạthơn 17,1 tỷ USD, gấp 7 lần so với 1991 Riêng năm 2002, kim ngạch xuất khẩubình quân theo đầu người của nước ta đạt khoảng 200 USD, bằng chuẩn của cácnước có nền ngoại thương phát triển ổn định.Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩucủa nước ta tăng nhanh điều hiển nhiên sẽ kéo theo việc vận chyển hàng hoá xuấtnhập bằng đường biển tăng cao nhưng đến nay hoạt động bảo hiểm cho hàng hoáxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển do các công ty bảo hiểm Việt Namtiến hành vẫn còn rất ít, tốc độ tăng trưởng không cao Tính hết năm 2006, các hãngbảo hiểm Việt Nam mới bảo hiểm được khoảng 16,7% kim ngạch hàng xuất khẩu

và 35,3% kim ngạch hàng nhập khẩu Có thể nói đây là con số bảo hiểm nhỏ béchưa tương xứng với tiềm năng xuất nhập khẩu của nước ta Và sau đây là kết quả

cụ thể được thể hiện ở bảng sau:

Thực tế bảo hiểm hàng hoá XNKVCBĐB của Việt Nam chưa xứng tầm vớitiềm năng cũng xuất phát từ những nguyên nhân nội tại của nó Thứ nhất đây là mộtnghề non trẻ, ngoại trừ Công ty bảo hiểm Bảo Việt được thành lập từ năm 1965 thìcác công ty bảo hiểm khác mới được “khai sinh” sau Nghị định 100/CP của Chínhphủ ngày 18-12-1993 Thêm nữa, vốn kinh doanh của các Công ty bảo hiểm ViệtNam còn rất khiêm tốn nếu không muốn nói rằng quá nhỏ bé Vốn thường dao độngphổ biến từ 20-50 tỷ đồng Chẳng hạn Công ty Bảo Minh thành lập cuối 1994, vớivốn khoảng 45 tỷ đồng Công ty Bảo Long ra đời tháng 7-1995 với số vốn 22 tỷđồng Đấy là chưa kể tới việc tỷ lệ bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoáxuất nhập khẩu của ta trong những năm qua luôn ở mức cao, từ 60-70% Điều này

Trang 37

đặt cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trước những nguy cơ tiềm ẩn khó lường.Thêm vào đó, công nghệ bảo hiểm của ta còn lạc hậu Việc triển khai nghiệp vụ bảohiểm qua các khâu như đánh giá rủi ro, giám định, thu phí bảo hiểm, bồi thường phần lớn còn thủ công Trình độ cán bộ bảo hiểm chưa đáp ứng được những đòi hỏikhắt khe nhưng cũng rất linh hoạt của cơ chế thị trường Vừa qua, ý kiến đánh giácủa giới chuyên môn cũng cho rằng: Các nhà xuất nhập khẩu thực sự chưa yên tâmkhi tham gia mua bảo hiểm của Việt Nam.

Như vậy là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tới đặt ra chongành bảo hiểm Việt Nam nhiều thách thức mới Vấn đề này đòi hỏi phải nâng caonăng lực, chất lượng bảo hiểm của Việt Nam ngang tầm với các nước, tương xứngvới những điều kiện đặt ra của hội nhập Muốn vậy nhất thiết phải có chiến lược đàotạo một đội ngũ cán bộ bảo hiểm am hiểu nghiệp vụ, tinh thông luật pháp trongnước và quốc tế Về phía các công ty bảo hiểm Việt Nam, cần khai thác triệt để thịtrường trong nước, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đa dạng hoá sảnphẩm Đồng thời phải có những chiến lược để nâng cao năng lực tài chính Nhờ đó

có khả năng, uy tín tham gia các hợp đồng bảo hiểm trong và ngoài nước có giá trịcao, đủ sức cạnh tranh với các công ty bảo hiểm nước ngoài Qua đó nâng cao tỷtrọng kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển của ViệtNam tham gia bảo hiểm trong nước.

2.2 Thuận lợi và khó khăn của BIC trong kinh doanh bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

2.2.1 Thuận lợi.

● BIC là công ty bảo hiểm non trẻ mới gia nhập thị trường, tiền thân là từ công

ty bảo hiểm QBE (công ty bảo hiểm liên doanh Việt – Úc giữa Ngân hàng Đầu tư

và Phát triển Việt Nam và công ty bảo hiểm phi nhân thọ của Úc) Tuy mới chínhthức gia nhập thị trường với thương hiệu BIC vào 1/1/2006 nhưng thực chất đã hoạtđộng được một thời gian khá dài trước đó với thương hiệu QBE Và hiện nay BIC là

Trang 38

nhiều ưu đãi cho những bước đi khởi điểm ban đầu, được Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam cung cấp các cơ sở vật chất ban đầu như máy vi tính, trang thiết bịvăn phòng…Đồng thời họ còn được cử các lãnh đạo chủ chốt có khả năng lãnh đạo

từ lĩnh vực ngân hàng sang làm việc, hướng dẫn, chỉ đạo tại BIC

● Trong một môi trường diễn biến sôi động cạnh tranh ngày càng khốc liệt thìmột công ty bảo hiểm mới, quy mô nhỏ cũng có lợi thế riêng như dễ dàng thay đổi

cơ chế, chính sách, số lượng nhân viên để có thể điều chỉnh theo diễn biến của thịtrường Hay nói cách khác, Nó là mô hình linh hoạt dễ thay đổi, thích nghi với thịtrường hơn (một đặc tính không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường)

● Kênh khai thác chủ yếu của BIC hiện nay là khai thác trực tiếp của nhân viênphòng kinh doanh trong công ty Vì là công ty con trực thuộc Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam (BIDV) nên mọi chi nhánh của BIC được mở tương ứng vớicác chi nhánh mà BIDV đã mở Khi có một khách hàng gửi tiền tại tại BIDV cótiềm năng tài chính, có nhu cầu bảo hiểm thì cán bộ ngân hàng sẽ thông báo choBIC, thông qua đó BIC sẽ cử người đến tư vấn cho khách hàng và ký HĐBH trựctiếp Đây là một điểm rất thuận lợi của BIC mà các công ty bảo hiểm khác không cóđược bởi vô hình chung BIC đã có được một kênh khai thác ổn định, và đem lạinguồn doanh thu đáng kể

● Vì BIDV là một trong những ngân hàng nhà nước hoạt động hiệu quả nhấthiện nay nên BIC có thể sử dụng thương hiệu của BIDV trong những bước đi khởiđầu của mình tạo đà cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu của BIC sau này ● Việt Nam đã là thành viên của WTO nên nền kinh tế Việt Nam ngày càng hộinhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ngày mộttăng lên, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng sẽ kéo theo nghiệp vụ bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu phát triển theo bởi đây là quan hệ tất yếu Nếu BICtận dụng được vận hội mới thì nó sẽ là một nhân tố giúp BIC đạt được vị trí công tybảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu trong tổng số 16 công ty bảo hiểm phi nhân thọ củaViệt Nam hiện nay

Trang 39

● Đội ngũ cán bộ nhân viên của BIC đều là những cán bộ có năng lực được giữlại từ QBE, những cán bộ có kinh nghiệm từ BIDV chuyển sang và những cán bộmới đều là những cán bộ trẻ năng động, nhiệt tình tốt nghiệp loại xuất sắc của cáctrường đại học nổi tiếng.

2.2.2.Khó khăn

● BIC là công ty con của BIDV nên quan hệ giữa BIDV và BIC là quan hệ mẹcon, BIDV cấp gì thì BIC được hưởng đó, và hoạt động phải theo sự chỉ đạo củaBIDV Đặc biệt vì BIC là một công ty thuộc sở hữu nhà nước nên không thể tránhkhỏi tình trạng quan liêu Đây là vấn đề cần phải giải quyết hiện nay, bởi bảo hiểm

là một ngành đòi hỏi phải có uy tính cao, hoạt động nhanh nhạy, độc lập

● Việc chuyển từ QBE sang BIC đã có sự thay đổi nhân sự rất lớn Sau khi BICđược thành lập thì có rất nhiều cán bộ chủ chốt của QBE rời bỏ công ty gây ra sựxáo trộn, hoang mang cho những nhân viên còn lại Vì có sự khác biệt về cơ chếhoạt động từ Liên doanh khi chuyển thành DNNN nên đến cuối tháng 4/2006 BICmới ký được Hợp đồng lao động với nhân viên, đến 5/2006 mới ban hành được cơchế và thực hiện trả lương chính thức cho nhân viên Điều này đã tạo sự không ổnđịnh và gần như sáu tháng đầu năm 2006, hoạt động của BIC chỉ là cầm chừng.Đồng thời có tới 2/3 khách hàng bỏ không tiếp tục tham gia bảo hiểm tại BIC nữabởi đây là đặc thù của ngành bảo hiểm

● BIC là một công ty mới gia nhập thị trường bảo hiểm, một thị trường mà ràocản gia nhập thị trường rất cao, mức độ cạnh tranh rất khốc liệt nếu không có nhữngbước đi ban đầu đúng đắn thì sẽ rất dễ bị loại khỏi thị trường

● Hiện nay BIC đang đứng ở vị trí thứ 15 trong tổng số 16 công ty bảo hiểm phinhân thọ tại Việt Nam, với thị phần chiếm được rất nhỏ bé 0,81%, uy tín trên thịtrường mới tạo dựng được trong một thời gian ngắn trong khi đó ngành bảo hiểm làngành kinh doanh lời hứa khách hàng chỉ có thể mua bảo hiểm khi họ đặt niềm tinvào uy tín của nhà bảo hiểm thông qua thời gian hoạt động lầu dài có thể lên tớihàng thế kỷ và tái tục tại các công ty bảo hiểm mà họ quen biết

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. “Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hoá”- GSTS Trương Mộc Lâm, Nhà xuất bản thống kê 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm hàng hoá
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê 2002
1. Bản tin số 4-năm 2005 và số 4-2006 của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam Khác
2. Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ BHHHXNK của BIC Khác
3. Giáo trình kinh tế bảo hiểm Khác
4. Giáo trình kinh tế quốc tế Khác
6. Thời báo kinh tế Việt Nam –Chuyên san kinh tế Việt Nam 2005-2006 7. Tạp chí bảo hiểm 2004-2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC (Trang 26)
Bảng 1: Tổng hợp kết quả kinh doanh của BIC đến 31/12/2006 - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Tổng hợp kết quả kinh doanh của BIC đến 31/12/2006 (Trang 30)
Bảng 3: Phân chia phí bảo hiểm theo loại hình nghiệp vụ của BIC đến  31/12/2006. (chỉ tính phí bảo hiểm gốc). - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Phân chia phí bảo hiểm theo loại hình nghiệp vụ của BIC đến 31/12/2006. (chỉ tính phí bảo hiểm gốc) (Trang 32)
Bảng 6: Kim ngạch XNK tham gia bảo hiểm tại BIC năm 2005-2006 - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Kim ngạch XNK tham gia bảo hiểm tại BIC năm 2005-2006 (Trang 44)
Bảng 7: Tốc độ tăng phí bảo hiểm  gốc theo nghiệp vụ BHHHXNKVCBĐB  của   toàn thị trường - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Tốc độ tăng phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ BHHHXNKVCBĐB của toàn thị trường (Trang 45)
Bảng 8: Doanh thu phí bảo hiểm của BIC và toàn thị trường - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 8 Doanh thu phí bảo hiểm của BIC và toàn thị trường (Trang 47)
Bảng 9: Hiệu quả khai thác của nghiệp vụ BHHHXNKVCBĐB theo phí bảo   hiểm thực thu. - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 9 Hiệu quả khai thác của nghiệp vụ BHHHXNKVCBĐB theo phí bảo hiểm thực thu (Trang 49)
Bảng 10: Bồi thường bảo hiểm của BIC và toàn thị trường - bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - thực trạng và giải pháp
Bảng 10 Bồi thường bảo hiểm của BIC và toàn thị trường (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w