Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận văn này là năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ, trong đó tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-*** -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM XUẤT
KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Quang Minh Sinh viên thực hiện : Đào Nguyệt Ánh
Lớp : A12 - K38D
HÀ NỘI – 2003
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI NÓI ĐẦU
Chương I Tổng quan về thị trường nông sản mỹ 1
I KHÁI NIỆM VỀ HÀNG NÔNG SẢN 1
1 Quan điểm về hàng nông sản của Việt Nam 1
2 Khái niệm hàng nông sản của FAO 2
3 Khái niệm hàng nông sản của bộ nông nghiệp Mỹ 2
II Đặc điểm chung về thị trường nông sản của Mỹ 4
1 Mỹ - một thị trường lớn đầy tiềm năng cho hàng nông sản và thực phẩm thế giới 4 1.1 Nhận định khái quát về quy mô thị trường 4
1.2 NHU CẦU NHẬP KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHÍNH CỦA MỸ 5
1.2.1 NHU CẦU NHẬP KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN THÔ 5
1.2.2 Nhu cầu nhập khẩu đối với các mặt hàng nông sản trung gian 6
1.2.3 Nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thực phẩm 7
2 Đặc điểm người tiêu dùng Mỹ đối với mặt hàng nông sản 9
2.1 Xu hướng tiêu dùng thực phẩm của người dân Mỹ 9
2.2 NHỮNG YÊU CẦU KHẮT KHE VỀ CHẤT LƯỢNG 10
2.3 NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHỦNG LOẠI HÀNG HOÁ VÀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THUẬN TIỆN 11
3 MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA MỸ ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU 11
3.1 HÀNG RÀO THUẾ QUAN CỦA MỸ ÁP DỤNG ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN NHẬP KHẨU 11
3.2.Các biện pháp phi thuế quan 14
Trang 33.2.1.Hạn ngạch nhập khẩu 14
3.2.2.Các biện pháp bảo hộ khẩn cấp 16
3.2.3 Hàng rào kỹ thuật 16
3.3 Quy định về ký mã hiệu và nhãn mác 18
4.Các phương thức xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường Mỹ 19
III Định hướng thị trường xuất khẩu lâm sản của Việt Nam 23
1 Thị trường ASEAN 23
2 Thị trường các nước Châu Á khác 23
3 Thị trường các nước SNG và Đông Âu 24
4.Thị trường EU 24
5 Thị trường Châu Mỹ 25
6 Thị trường Châu Phi 25
7.Thị trường Châu Đại Dương 25
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NÔNG SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU 26
I Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam 26
1.Tình hình suất khẩu chung các mặt hàng 26
1.1.Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 27
1.2 Về thị trường xuất khẩu 29
1.3 Giá xuất khẩu nông sản 30
2 Tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ 32
2.1 Quy mô và tốc độ phát trển 32
2.2 Về cơ cấu mặt hàng 36
II ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ TẠO NÊN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 38 1 Khái quát về năng lực cạnh tranh và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh 38
Trang 42 Các yếu tố chính tạo nên năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất
khẩu 40
2.1 Điều kiện sản xuất vốn có 40
2.2 Giống 41
2.3 Năng suất, sản lượng 42
2.4 Giá 42
2.5 Chất lượng 43
2.6 Công nghệ bảo quản sau thu hoạch 43
2.7 Công nghệ chế biến 44
2.8 Bao bì - bảo quản, vận chuyển 44
3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ MẶT HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CHỦ YẾU 45
3.1 GẠO 45
3.2 CÀ PHÊ 47
3.3 CHÈ 49
3.4 HẠT ĐIỀU 51
3.5 RAU QUẢ 51
III Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ 52
1.THÀNH TỰU 52
2.Hạn chế 54
2.1.Kim ngạch xuất khẩu quá nhỏ 54
2.2 Chủng loại hàng hóa còn đơn điệu 55
2.3.Không có khả năng cung cấp các lô hàng lớn 56
2.4.Chất lượng 56
2.5.Giá cả 58
2.6.Thương hiệu và mẫu mã nông sản 61
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÃNG NÔNG SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 63
Trang 5I Những thuận lợi và khó khăn khi xuất khẩu nông sản Việt Nam sang
thị trường Mỹ 63
1 Thuận lợi 63
1.1 Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 64
1.2 Các biện pháp khuyến khích hỗ trợ đẩy mạnh xuất khẩu nông sản.64 1.3.Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ đã mở hướng đi mới cho xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng 66
1.4 Cộng đồng người Việt tại Mỹ -thị trường và đối tác quan trọng đối với nông sản Việt Nam 68
2 Khó khăn 69
2.1 Những khó khăn mang tính khách quan 69
2.1.2- Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường Mỹ 70
2.1.3- Luật lệ và các quy định, thủ tục đối với hàng nông sản quá chi tiết và phức tạp 71
2.2 Khó khăn mang tính chủ quan 71
2.2.1- Vấn đề điều hành vĩ mô về quy hoạch sản xuất và xuất khẩu còn nhiều bất cập 71
2.2.2- Sự yếu kém của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản 72
2.2.3- Trình độ công nghệ chế biến lạc hậu 74
II Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ 75
1 Các giải pháp ở tầm vĩ mô 75
1.1 Tổ chức sản xuất tạo nguồn hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng nông sản 75
1.2 Đẩy mạnh các biện pháp xúc tiến xuất khẩu 77
1.2.1.Cỏc biện pháp về tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng nông nghiệp xuất khẩu 77
1.2.2 Đẩy mạnh hỗ trợ thông tin và xúc tiến thương mại 78
2 Giải pháp ở tầm vi mô 80
Trang 62.1 Khắc phục tập quán sản xuất lạc hậu và tăng cường năng lực chế biến 80 2.2 Tăng cường hoạt động Marketing quốc tế cho hàng nông sản 81 2.3 Từng bước phát triển thương mại điện tử hàng nông sản 84 2.4 Nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản sang Mỹ 84 2.5 Các doanh nghiệp Việt Nam tích cực tham gia vào các hiệp hội xuất khẩu nông sản quốc tế 85
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo, Thạc
sĩ Nguyễn Quang Minh giảng viên bộ môn Quan Hệ Kinh Tế Quốc Tế thuộc khoa Kinh Tế Ngoại Thương người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ em trong trong quá trình xử lý và thực hiện khoá luận tốt nghiệp này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo của trường đại học Ngoại Thương Hà Nội đặc biệt là các thầy cô thuộc khoa Kinh Tế Ngoại Thương đã dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt bốn năm học vừa qua tại trường
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể bạn bè, gia đình và người thân những ngườiđã động viên giúp đỡ em trong suốt thời gian em học tại trường để em có được thành tích như ngày hôm nay
Hà Nội, tháng12 năm 2003
Đào Nguyệt Ánh
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là một nước nông nghiệp có nhiều thuận lợi và tiềm năng
về đất đai, lao động và điều kiện sinh thái cho phép phát triển sản xuất nhiều loại nông sản có giá trị lớn Xuất khẩu nông sản từ lâu đã đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước ta Xuất khẩu nông sản là một trong những nguồn thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho khu vực nông thôn Hơn thế nữa xuất khẩu nông sản còn kích thích hàng loạt các nghề khác cùng phát triển đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, tạo ra một động lực quan trọng thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác phát triển, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá(CNH - HĐH) đất nước nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu nông sản thực sự là một trong những mũi nhọn trong phát triển kinh tế xã hội góp phần đẩy mạnh CNH - HĐH đảm bảo nền kinh tế phát triển hiệu quả và bền vững
Trong bối cảnh hiện nay xu thế hội nhập tự do hoá thương mại đang diễn ra mạnh mẽ trong mỗi khu vực và trên toàn thế giới Cùng với xu thế
đó trong những năm gần đây Việt Nam cũng đang tích cực hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Một trong những đối tác quan trọng cua Việt Nam phải kể đến đó là Mỹ Với dân số gần 280 triệu người và thu nhập quốc dân cao, thị trường Mỹ đang là thị trường tiêu thụ hàng hoá nói chung và hàng nông sản nói riêng lớn nhất thế giới Đây là một thị trường nhập khẩu các mặt hàng nông sản rất đa dạng và phong phú song thủ tục qui định cho hàng nông sản nhập khẩu cũng hết sức khắt khe Đối với Việt Nam, Mỹ là một thị trường rất mới mẻ.Việt Nam bắt đầu chính thức xuất khẩu nông sản sang thị trường Mỹ từ khi bình thường hoá quan hệ giữa hai nước năm 1995 tuy nhiên kim nghạch xuất khẩu nông sản Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt được những kết quả đáng khích lệ.Tuy nhiên so với thị trường có mức thu nhập bình quân đầu người tương đương Mỹ như EU và
Trang 9Nhật Bản thì xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn.Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó
là do năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam vẫn còn thấp Theo quan điểm thị trường, Việt Nam muốn hội nhập nhanh chóng vào nền kinh
tế khu vực và thế giới thì một yếu tố quan trọng là phải đưa ra được những sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay có lợi thế so sánh với các sản phẩm cùng loại của các nước khác
Vì vậy việc nghiên cứu đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam đặc biệt là hàng nông sản để tăng kim nghạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ nói riêng và thị trường thế giới nói chung là vấn đề mà người viết đặt ra khi nghiên cứu đề tài này Trên cơ sở phân tích đặc điểm thị trường nông sản Mỹ cũng như thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu nhằm đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam nói chung và hàng nông sản nói riêng, đồng thời góp phần đưa Việt Nam hội nhập thực sự với nền kinh tế thế giới
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những nét tổng quan về thị trường nông sản Mỹ
Đánh giá năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam
ĐƯA RA CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI NÓI CHUNG VÀ THỊ TRƯỜNG MỸ NÓI
RIÊNG
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận văn này là năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ, trong đó tập trung đánh giá năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm chủ yếu là: gạo, cà phê, chè, hạt điều và rau quả
4 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp người viết đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, kết hợp lý luận với thực tiễn Phương pháp này góp ích nhiều để khoá luận hoàn thành với sự chính xác và mang tính khoa học
Trang 105 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương: CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN MỸ
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
Chương III: Một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ nói riêng và thị trường thế giới nói chung
Khoá luận dược hoàn thành đúng thời hạn là nhờ sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Kinh Tế Ngoại Thương, đặc biệt là Thạc Sĩ Nguyễn Quang Minh đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ trong việc xử lý và thực hiện đề tài
Do những hạn chế về khả năng của người viết cũng như hạn chế về thời gian và tài liệu nghiên cứu, Khoá luận này khó tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết Người viết rất mong nhận được sự chỉ dẫn ân cần của các thầy cô giáo, sự góp ý của các đọc giả và xin chân thành cảm ơn
Trang 11CHương I
Tổng quan về thị trường nông sản mỹ
I KHÁI NIỆM VỀ HÀNG NÔNG SẢN
1 Quan điểm về hàng nông sản của Việt Nam
Theo khái niệm của Việt Nam : nông sản hàng hoá là thành phần tổng sản lượng giao nộp nhà nước và bán ra ngoài, sau khi đã trừ đi phần tiêu dùng cá nhân và mở rộng tái sản xuất nông nghiệp (giống,thức ăn)1
Trong định nghĩa trên khái niệm sản phẩm nông nghiệp bao gồm các sản phẩm trong trồng trọt và chăn nuôi cụ thể là mhóm mặt hàng rau củ quả; các loại sản phẩm ngũ cốc như gạo, ngô, sắn ; các sản phẩm từ thịt trứng Như vậy theo quan điểm của Việt Nam, nông sản hàng hoá chỉ bao gồm các sản phẩm thu hoạch trực tiếp từ cậy trồng vật nuôi chứ không bao gồm các sản phẩm chế biến từ cây trồng vật nuôi đó như bánh kẹo, rượu bia Quan điểm này có những khác biệt rất rõ so với quan điểm của tổ chức nông lương thế giới (FAO) và đặc biệt của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ(USDA- United Stated Department of Agriculture) sẽ được trình bày dưới đây
2.Khái niệm hàng nông sản của FAO
Theo FAO, hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng hoá khác nhau bao gồm : nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc, nhóm hàng thịt và các sản phẩm từ thịt, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu, nhóm hàng sữa và các sản phẩm từ sữa, nhóm hàng nông sản nguyên liệu, nhóm hàng rau quả.2
Nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới bao gồm các sản phẩm chủ yếu
như cà phê, ca cao, chè đường, chuối, các loại quả có múi, hạt tiêu
Nhóm hàng ngũ cốc và sắn bao gồm lúa mì, lúa gạo, các loại ngũ cốc
hạt thô(kê, ngô )và sắn
Nhóm hàng thịt bao gồm các sản phẩm chủ yếu như thịt bò, thịt lợn,
thịt gia cầm và các loại thịt khác
Nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu bao gồm các sản phẩm
chủ yếu như các loại các hạt có dầu (đậu tương, hạt cải dầu, hạt hướng dương ), các loại dầu thực vật và chất béo(dầu đỗ tương, dầu cọ dầu cải,
1 Theo từ điển Bách khoa Nông nghiệp Trung tâm Quốc gia biên soạn từ điểnBách khoa Việt
Nam- Hà Nội 1991
1
Trang 12dầu hướng dương, dầu cọ, dầu dừa, dầu hạt bông, dầu lanh và các loại dầu
từ sinh vật biển (bao gồm cả dầu cá),các sản phẩm từ dầu ( khô dầu đậu tương,khô dầu hướng dương, khô dầu cải, khô dầu cọ, bột đậu tương, bột cá )
Nhóm hàng sữa và các sản phẩm sữa bao gồm : bơ, phomat và các
sản phẩm làm phomat, sữa đặc, sữa bột và các sản phẩm khác
Nhóm hàng nông sản nguyên liệu thô bao gồm : bông đay, sợi, cao
su thiên nhiên, các loại da thú,
Nhóm hàng rau quả bao gồm : các loại rau, củ và quả ( không phải là
các loại quả nhiệt đới)
Nhóm hàng động vật sống ( không tính các loại động vật hoang dã và
quý hiếm)
3.Khái niệm hàng nông sản của bộ nông nghiệp Mỹ
THEO ĐỊNH NGHĨA CỦA BỘ NÔNG NGHIỆP MỸ: SẢN PHẨM NÔNG SẢN, ĐÔI KHI CÒN ĐƯỢC ĐỀ CẬP NHƯ LÀ CÁC SẢN PHẨM THỰC PHẨM VÀ SỢI BAO GỒM TẬP HỢP NHIỀU MẶT HÀNG KHÁC NHAU TỪ CÁC SẢN PHẨM CHƯA CHẾ BIẾN NHƯ ĐẬU TƯƠNG, NGŨ CỐC, LÚA MÌ, GẠO, BÔNG THÔ, TỚI CÁC THỰC PHẨM ĐÃ QUA CHẾ BIẾN VÀ CÓ GIÁ TRỊ NHƯ XÚC XÍCH, BÁNH NGỌT, KEM, BIA, RƯỢU VÀ CÁC ĐỒ GIA VỊ DƯỢC BÁN TRONG CÁC CỬA HÀNG BÁN LẺ HOẶC NHÀ
HÀNG 3
Tất cả các sản phẩm thuộc các chương từ chương 1 đến chương 24 ( trừ các sản phẩm thuỷ sản trong chương 3 và chương 16 trong biểu thuế hài hoà - xem phụ lục các sản phẩm nông sản trong biểu thức hài hoà) là các sản phẩm nông sản Các sản phẩm này thường là những nhóm mặt hàng sau: các mặt hàng ngũ cốc; các mặt hàng cho chăn nuôi; các sản phẩm từ ngũ cốc như bánh mỳ và mì ống; Các sản phẩm chăn nuôi bao gồm động vậ sống, thịt, da động vật chưa thuộc, trứng Các sản phẩm trồng trọt bao gồm hoa quả tươi, hoa quả chế biến, rau, quả rừa cũng như các sản phẩm từ vườn ươm và bia rượu, thuốc lá chưa chế biến; các sản phẩm nhiệt đới như đường, càc phê, ca cao Một số các sản phẩm khác ngoài các chương từ 1 đến 24 cũng được coi là cá sản phẩm nông nghiệp bao gồm các sản phẩm
Trang 13dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu(chương 13), cao su thô sơ (chương 40), da thú sơ(chương41), len và bông(chương 51-52)4
Một số sản phẩm được sản xuất từ cây trồng và động vật nhưng không được coi là hàng nông sản bao gồm: sản phẩm sợi cotton, sợi chỉ, vải, sợi dệt và quần áo, da và các sản phẩm trang trí làm bằng da, thuốc lá điếu, xì gà, rượu mạnh Tuy nhiên những sản phẩm này vẫn được đưa vào
cơ sở dữ liệu thương mại của USDA bên cạnh nững sản phẩm được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp như hoá chất nông nghiệp, phân bón, máy móc nông nghiệp
Các sản phẩm nuôi trồng, đánh bắt là những mặt hàng phi nông nghiệp vì giá trị thực phẩm của nó có những khác biệt căn bản so với những sản phẩm nông sản nêu trên và trên thực tế các sản phẩm này được FAS ( cơ quan hải quan ngoại) hợp tác với nghành công nghiệp để đẩy mạnh xuất khẩu Các sản phẩm gỗ rắn cũng là các sản phẩm phi nông nghiệp bởi vì FAS hợp tác với ngành công nghiệp Mỹ để đẩy mạnh xuất khẩu
Qua các định nghĩa hàng nông sản (Agricultural product) trên ta thấy mỗi nước và tổ chức có các định nghĩa riêng của mình về hàng nông sản,
có thể thấy quan điểm về hàng nông sản của Mỹ rộng hơn so với quan điểm của chúng ta rất nhiều Nếu như ở Việt Nam các mặt hàng như bánh kẹo, rượu bia chưa được xếp vào các mặt hàng công nghiệp nhẹ thì theo quan điểm của Mỹ đây lại là các mặt hàng nông sản Nghiên cứu khái niệm nông sản của Mỹ là việc làm cần thiết cho phép các nhà xuất khẩu Việt Nam biết được nhóm hàng, mặt hàng nào được xếp vào hàng nông sản để
có thể xác định được mức thuế và yêu cầu đối với hàng nông sản của Mỹ khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Việc hiểu rõ khái niệm nông sản của Mỹ cũng là tiền đề quan trọng giúp chúng ta nghiên cứu tốt hơn các đặc điểm của thị trường nông sản Mỹ như phần trình bày ở mục II dưới đây
II.Đặc điểm chung về thị trường nông sản của Mỹ
1 Mỹ - một thị trường lớn đầy tiềm năng cho hàng nông sản và thực phẩm thế giới
3 Defition of Agricutual Products of USDA
2
Trang 141.1 Nhận định khái quát về quy mô thị trường
Với dân số khoảng 280 triệu người, tổng thu nhập GDP hàng năm đạt 10.000 tỷ USD, thu nhập GDP bình quân đầu người là 29.270USD, kim ngạch nhập khẩu năm 2000 là 1200 tỷ USD có thể nói Mỹ là một khách hàng khổng lồ của thế giới Chỉ xét riêng đối với mặt hàng nông sản, hàng năm người Mỹ chi khoảng 715 tỷ USD cho tiêu dùng thực phẩm và 95 tỷ USD để tiêu dùng các đồ uống có cồn Nhu cầu nhập khẩu hàng nông sản của Mỹ đạt trung bình 40 tỷ USD/năm
Mặc dù là nước xuất khẩu hàng nông sản hàng đầu Mỹ đồng thời cũng là một trong số các nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng nông sản Năm 1998, Mỹ là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản kim ngạch đạt 51,7 tỷ USD và nhập khẩu là 36,7 tỷ USD.Năm 1999 Mỹ nhập khẩu 37,673 tỷ USD và con số này của năm 2001 là 39,366 tỷ USD hàng nông sản Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu hàng năm là 10%
Trong ba nhóm hàng nông sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ nhóm hàng nông sản thô chiếm kim ngạch nhập khẩu lớn nhất và ngày càng giảm Năm 1998 kim ngạch nhập khẩu hàng nông sản thô đạt 7,3 tỷ USD nhưng đến năm 2001 kim nghạch nhập khẩu mặt hàng này giảm khoảng 34,5% so với năm 1998.Tốc độ nhập khẩu trung bình đối với mặt hàng nông sản thô giảm 12%/năm Những mặt hàng nông sản thô mà Mỹ nhập khẩu nhiều nhất là cà phê thô 1,176 tỷ USD (năm2001), cao su 852 triệu USD (năm 2000), thuốc lá 675 triệu USD ( năm 2001), đường thô từ củ cải
và mía 480 triệu USD (năm2001)
KIM NGẠCH NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN TRUNG GIAN NĂM 1998 ĐẠT 7,147 TỶ USD NHƯNG ĐẾN NĂM 2001 KIM NGẠCH CHỈ ĐẠT 7,019 TỶ USD GIẢM 1,8% SO VỚI NĂM 1998.TUY NHIÊN TÍNH TRUNG BÌNH CHO CẢ GIAI ĐOẠN 1998-
2001 THÌ KIM NGẠCH NHẬP KHẨU HÀNG NÔNG SẢN TRUNG GIAN VẪN TĂNG 0,8%.CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN SƠ CHẾ VÀ CHẾ BIẾN CÓ NHU CẦU NHẬP KHẨU CAO LÀ ĐỘNG VẬT SỐNG: 2,269 TỶ USD, DẦU THỰC VẬT ĐẠT 837 TRIỆU USD, VÀ CÁC LOẠI HẠT TRỒNG ĐẠT 418 TRIỆU USD NĂM 2001
4 Phụ lục 1
3
Trang 15TRONG KHI KIM NGẠCH CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN THÔ GIẢM MẠNH CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN TRUNG GIAN TĂNG NHẸ THÌ KIM NGẠCH CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM TIÊU DÙNG TĂNG MẠNH NĂM 1998, KIM NGẠCH NHẬP KHẨU NHÓM MẶT HÀNG NÀY CỦA MỸ LÀ 22,43 TỶ USD NHƯNG ĐẾN NĂM 2001 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU ĐẠT 27,56 TỶ USD TĂNG 23% NHU CẦU NHẬP KHẨU HÀNG NĂM ĐỐI VỚI NHÓM MẶT HÀNG NÀY TĂNG 5,6% CÁC MẶT HÀNG CÓ NHU CẦU NHẬP KHẨU LỚN NHẤT TRONG NHÓM NÀY LÀ THỊT 3,309 TỶ USD NĂM 2001; RAU QUẢ CHẾ BIẾN, RAU SẠCH (BAO GỒM RAU QUẢ KHÔ VÀ ĐÓNG HỘP) 2,448 TỶ USD; RƯỢU BIA, ĐỒ ĂN
NHẸ, GIA VỊ
1.2 NHU CẦU NHẬP KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHÍNH CỦA
MỸ5 1.2.1 NHU CẦU NHẬP KHẨU CÁC MẶT HÀNG NÔNG SẢN
THÔ
MẶT HÀNG CÀ PHÊ THÔ
HIỆN NAY MỸ LÀ NƯỚC ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI VÀ NHU CẦU NHẬP KHẨU CÀ PHÊ NĂM 1999 KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU CÀ PHÊ CỦA THỊ TRƯỜNG NÀY ĐẠT 2,282 TỶ USD THÌ ĐẾN NĂM 2000 CON SỐ ĐỐ ĐÃ TĂNG 37,3% TỨC ĐẠT KHOẢNG 3,133 TỶ USD TUY NHIÊN, ĐẾN NĂM 2001 KIM NGẠCH NHẬP KHẨU CÀ PHÊ GIẢM XUỐNG CHỈ CÒN 1,171 TỶ USD DO MỸ ĐƯỢC MÙA SẢN XUẤT CÀ PHÊ BA NƯỚC ĐỨNG ĐẦU TRONG DANH SÁCH CÁC NƯỚC XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VÀO MỸ LÀ COLOMBIA, BRAZIN, VÀ MEHICÔ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY NHU CẦU NHẬP KHẨU CÀ PHÊ THÔ TIẾP TỤC GIẢM THAY VÀO ĐÓ NHU CẦU ĐỐI VỚI CÀ PHÊ ĐÃ QUA CHẾ BIẾN
Trang 16KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU CAO SU CỦA THỊ TRƯỜNG
MỸ NĂM 1999 LÀ 716 TRIỆU USD, NĂM 2000 ĐẠT 852 TRIỆU USD, TĂNG GẦN 19% TUY NHIÊN KIM NGHẠCH NHẬP KHẨU NĂM 2001 LẠI GIẢM 27,1% HIỆN NAY, NHU CẦU TIÊU THỤ CÁC SẢN PHẨM XE HƠI GIẢM XUỐNG VÀ XĂM LỐP CŨNG GIẢM ĐÂY LÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG CÁC CÔNG TY SẢN XUẤT CAO SU HẠN CHẾ NHẬP NGUYÊN LIỆU ĐẦU VÀO CHO SẢN XUẤT THEO CHIẾN LƯỢC NHẬP KHẨU GIAI ĐOẠN 2000-2005 CỦA USDA THÌ NHU CẦU NHẬP KHẨU
CAO SU TIẾP TỤC GIẢM 11%NĂM
CÁC NƯỚC XUẤT KHẨU CAO SU LỚN NHẤT VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ LÀ THÁI LAN VÀ INĐÔNÊXIA
NHU CẦU NHẬP KHẨU ĐƯỜNG THÔ
Theo các số liệu thống kê gần đây cho thấy nhu cầu nhập khẩu đường thô của Mỹ có xu hướng giảm dần và trong các năm tới sẽ tiếp tục giảm mặc dù trong ba năm gần đây do nhu cầu cho ngành chế biến đồ ăn nhẹ và nguội ở Mỹ tăng lên Năm 2000 kim ngạch nhập khẩu đường thô của Mỹ đạt 471,2 triệu USD, năm 2001 tăng lên 480 triệu và năm 2002 đạt 487,6 triệu USD.Những nước xuất khẩu đường thô vào Mỹ lớn nhất là Trung Quốc, Mêhicô và Australia
Theo dự báo của USDA thì từ nay cho đến năm 2005 nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này vẫn sẽ giảm khoảng 18%/năm
NHU CẦU NHẬP KHẨU CHÈ
Hàng năm kim ngạch nhập khẩu chè của Mỹ đạt 224 triệu USD và bình quân tăng với tốc độ 4%/năm Những nước xuất khẩu chè chủ yếu vào
Mỹ là Canada(trung bình 50triệu USD/năm ), Achentina( 32triệu /năm), và
Ấn Độ (23triệu USD/năm) Do nhu cầu tiêu dùng đối với mặt hàng này vẫn còn tiếp tục tăng lên nên theo dự báo của USDA nhu cầu nhập khẩu chè của Mỹ trong thời gian tới vẫn sẽ tiếp tục tăng với tốc độ 4%/năm
1.1.2 Nhu cầu nhập khẩu đối với các mặt hàng nông sản trung gian
Nhu cầu nhập khẩu đối với mặt hàng dầu thực vật
Hiện nay do xu hướng ăn kiêng và ăn ít các chất có hàm lượng cholesterol cao nên nhu cầu tiêu dùng của người Mỹ đối với các mặt hàng
5
Tổng hợp từ US census bureau trade
Trang 17này tăng mạnh, tốc độ tăng trung bình là 7,6%/năm Chính vì vậy mà từ năm 2000 trở lại đây và theo dự báo của USDA thì cho đến năm 2005 nhu cầu nhập khẩu đối với các mặt hàng này vẫn tiếp tục tăng ở mức 10%/năm.Chilê và Thái Lan là hai nước đứng đầu trong danh sách các xuất khẩu các mặt hàng dầu thực vật vào thị trường Mỹ
Nhu cầu nhập khẩu hạt giống
Với chủ trương nhập khẩu hạt giống tốt để tăng nhanh năng xuất cây trồng, giảm chi phí nghiên cứu giống mới, tiếp tục nâng cao chất lượng giống mới dựa trên giống ngoại nhập mà trong những năm vừa qua nhu cầu nhập khẩu giống của Mỹ tiếp tục tăng : năm 1998-1999 tốc độ tăng trung bình là 7,6%, năm 2000 là 6,14%, năm 2001-2002 là 5,3% Trong giai đoạn
từ 2003 trở về sau theo USDA thì nhu cầu nhập khẩu giống vẫn sẽ tăng song tốc độ tăng giảm dần, trung bình đạt khoảng 0,8%/năm
Những nước xuất khẩu hạt giống lớn nhất vào thị trường Mỹ là Ấn
Độ, Inđônesia, Thái Lan và Canada
Nhu cầu nhập khẩu bột Cacao nhão và bơ cacao
Trong những năm gần đây nhu cầu nhập khẩu Cacao phục vụ cho ngành sản xuất chế biến đồ ăn nhẹ đã giảm, do vậy theo dự báo nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng này trong thời gian tới sẽ giảm khoảng 2%/năm Những nước xuất khẩu nhiều mặt hàng này vào thị trường Mỹ là Achentina
và Bzasin
Nhu cầu nhập khẩu thức ăn chăn nuôi
Mỹ là nước có ngành chăn nuôi rất phát triển, được xây dựng theo kiểu nông trang với quy mô lớn chuyên sản xuất thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Năm 1999, kim ngạch nhập khẩu đạt 264 triệu USD nhưng đến năm 2001 đạt 294 triệuUSD, tăng 30 triệu.Theo dự báo trong giai đoạn 2000-2005 nhập khẩu tiếp tục tăng 5%/năm
1.2.3 Nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thực phẩm
Nhu cầu nhập khẩu hàng rau quả chế biến
Hàng năm, Mỹ nhập khẩu khoảng hơn 2 tỷ USD rau và quả chế biến ( bao gồm cả quả khô và đóng hộp) Năm 1998 Mỹ nhập khẩu gần 2,034 tỷ USD thì đến năm 2001 kim ngạch nhập khẩu tăng lên 2,448 tỷ tăng 20,35% Trong những năm tới nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng nhóm này sẽ tăng khoảng 6%/năm Trong số các nước xuất khẩu rau quả vào Mỹ, đứng đầu là Canada (đạt kim ngạch 336 triệu USD năm 2001), Mehicô (266 triệu), Tây Ban Nha (262 triệu) và Thái Lan (45 triệu)
6
Trang 18Nhu cầu nhập khẩu hàng rau sạch
Năm 1998 Mỹ nhập khẩu 2,177 tỷ USD rau sạch các loại tăng 126%
so với năm 1992 và tăng 26,7 % so với năm 1997 Trong ba năm gần đây
từ 2000 đến 2002 số lượng nhập khẩu tiếp tục tăng và theo dự báo nhu cầu nhập khẩu hàng rau sạch sẽ còn tăng với tốc độ nhanh trong những năm tới Tuy nhiên để xuất khẩu các mặt hàng này đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải chú ý đến điều kiện vận chuyển, bảo quản cũng như các điều kiện về
vệ sinh an toàn thực phẩm vì đặc điểm dễ bị hỏng khi để lâu và sự kiểm soát ngặt nghèo về vệ sinh thực phẩm và sâu bệnh Mehicô và Canada là những bạn hàng lớn nhất của Mỹ trong việc cung cấp nhóm mặt hàng này
Nhu cầu nhập khẩu hoa quả
Hoa quả tươi là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu khá lớn của Mỹ Năm 2001, thị trường này tiêu thụ khoảng 3,146 tỷ USD quả ăn được trong
đó chuối chiếm tới 36,4 % với kim ngạch đạt 1,146 tỷ USD Trong 3 năm gần đây nhu cầu nhập khẩu hoa quả của Mỹ liên tục tăng năm 2000 tăng 4%, năm 2001 tăng 5% và năm 2002 tăng gần 6% Theo dự đoán trong những năm tới nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng trung bình 4,5%/năm Mehico,Australiavà Newzealand và các nước Châu Á trong đó có Việt Nam là những nước xuất khẩu nhiều nhất vào Mỹ
Nhu cầu nhập khẩu thịt
Nhu cầu đối với các mặt hàng này ngày càng tăng đặc biệt là thịt từ gia cầm Tốc độ tăng trung bình khoảng 12%/năm Năm2000, Mỹ nhập khẩu khoảng 3,766 tỷ USD, năm 2001 nhập 4,168 tỷ USD tăng 10,69% Những nước xuất khẩu nhiều thịt nhất vào Mỹ là Anh, Pháp, Đức vì đây là những nước đã xây dựng được hệ thống chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho sản phẩm thịt đảm bảo được sự kiểm tra gắt gao của cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm – FDA( Food and Drug Administration )
Nhu cầu nhập khẩu rượu bia và đồ uống
Tại Mỹ cũng như các nước phát triển khác bia và đồ uống được sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày nên nhu cầu đối với nhóm mặt hàng này rất lớn và liên tục tăng qua các năm, trung bình khoảng 9%/năm Chính vì vậy có thể thấy rằng Mỹ là một thị trường tiêu thụ lớn đối với nhóm sản
7
Trang 19phẩm này Năm 2001 với kim ngạch nhập khẩu đạt 4,649 tỷ USD Mỹ đứng
ở vị trí số một thế giới về nhập khẩu rượu, bia và đồ uống
Nhu cầu nhập khẩu đồ ăn nguội
Nhu cầu nhập khẩu đồ ăn nguội được làm từ bột ngũ cốc tại Mỹ liên tục tăng lên trong những năm vừa qua, năm 2000 tăng 10,45%, năm 2001 tăng 9,05%, năm 2002 tăng 9,76% Nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng này còn tiếp tục tăng nhanh đặc biệt là các mặt hàng thuộc nhóm hàng ăn nhanh trung bình trên dưới 10%/năm Những nước xuất khẩu lớn cấc mặt hàng này vào thụ trường Mỹ là Italia, Nhật Bản, Canada
2.Đặc điểm người tiêu dùng Mỹ đối với mặt hàng nông sản
2.1.Xu hướng tiêu dùng thực phẩm của người dân Mỹ
Trước đây, quan điểm về sản xuất nông nghiệp ở Mỹ là sản xuất ra các loại hàng hoá với khối lượng lớn, giá rẻ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng nhanh do dân số phát triển và phục vụ các nhu cầu phát triển của khu vực công nghiệp Ngày nay, sự phát triển kinh tế phồn thịnh của nước
Mỹ nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung đã làm thay đổi quan niệm
và quan điểm sản xuất nông nghiệp cũng như nhu cầu tiêu dùng hàng hoá nông nghiệp Từ nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm thiết yếu chuyển sang tiêu dùng nhũng sản phẩm có độ dinh dưỡng cao với chủng loại hàng hoá
đa dạng, tính vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng, những yếu tố giảm thiểu tác động xấu đến môi trường tự nhiên, tính tiện dụng cao gơn bất kỳ thời kỳ nào trong quá trình phát triển nông nghiệp Mỹ
Mặc dù nền kinh tế hàng hoá đã tồn tại rất lâu ở Mỹ nhưng trong khu vực nông nghiệp vẫn có những đặc thù riêng, do nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp như ngũ cốc, thực phẩm là những nhu cầu cơ bản không thể thiếu
mà mọi người dân phải tiêu dùng Độ co dãn về cung và cầu là rất thấp, cho nên sản xuất hàng hoá nông nghiệp không phải lúc nào cũng tuân theo những yêu cầu của thị trường về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai? Tuy nhiên nhu cầu về hàng hoá thiết yếu này lại giảm khi thu nhập tăng lên Động thái sản xuất hiện nay đã thay đổi nhằm hướng tới người tiêu dùng nhiều hơn, đây là yếu tố thay đổi quan trọng cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế mới, khi mà sự thịnh vượng của nền kinh tế tăng nhanh trong khi tốc độ tăng dân số lại tăng chậm Điều này đã làm thay đổi bản chất nhu cầu tiêu dùng nông sản tại Mỹ cũng như trên nhiều nước khác trên thế giới Ngày nay nhu cầu tiêu dùng nông sản tại Mỹ chỉ tăng chậm cùng với tốc độ tăng dân số, thị trường trong nước gần như đã phát triển tới hạn Nhu cầu về một loại hàng hoá tăng lên sẽ kéo theo sự giảm đi về nhu
8
Trang 20cầu tiêu dùng một loại sản phẩm khác Năm 1949, tỷ trọng chi tiêu của thu nhập người dân Mỹ là 22% cho lương thực và đến năm 1999 tỷ trọng này giảm xuống chỉ còn 12% Người dân đòi hỏi nhũng hàng hoá có chất lượng cao hơn như cà phê không cafein thay vì cà phê thông thường hay những nhãn mác phải ghi “lượng béo thấp” hay “thực phẩm có lợi cho sức khoẻ”
NHU CẦU TIÊU DÙNG HÀNG THỰC PHẨM CỦA NGƯỜI DÂN MỸ NGÀY CÀNG TĂNG LÊN NĂM 1997, TRUNG BÌNH MỘT NGƯÒI DÂN MỸ TIÊU DÙNG CAO HƠN SO VỚI NĂM 1990
LÀ 37KG RAU, 30KG SẢN PHẨM NHŨ CỐC, 26KG HOA QUẢ, 31,45KG BÁNH KẸO, 16KG THỊT CÁC LOẠI, 8KG BƠ, 7KG CHẤT BÉO VÀ DẦU, 12 LÍT BIA, 70 QUẢ TRỨNG, 30 LÍT CÀ PHÊ
VÀ 26 LÍT SỮA
DO CUỘC SỐNG LUÔN BẬN RỘN VÀ CÔNG VIỆC HAY PHẢI DI CHUYỂN NÊN CÁC ĐỒ ĂN NHẸ VÀ ĐỒ ĂN NHANH PHỤC VỤ CHO CÁC CHUYẾN ĐI XA NHÀ (AWAY FROM HOME FOOD) CHIẾM 40% TRONG TỔNG SỐ TIỀN MUA THỰC PHẨM, TĂNG 39% SO VỚI NĂM 1980 TRONG NHỮNG NAM TỚI NHU CẦU TIÊU DÙNG CÁC MẶT HÀNG NÀY TIẾP TỤC TĂNG CAO ĐỐI VỚI TÂNG LỚP THƯỢNG LƯU MỸ NHU CẦU TIÊU DÙNG CÁC ĐỒ ĂN NGUỘI GIẢM XONG TẦNG LỚP NÀY CHỈ CHIẾM 5% DÂN SỐ NÊN KHÔNG ẢNH HƯỞNG LỚN ĐẾN NHU CẦU TIÊU DÙNG ĐỒ ĂN NGUỘI NGOÀI RA, CÁC MẶT HÀNG THỊT
VÀ RAU QUẢ TƯƠI HIỆN NAY CŨNG ĐANG ĐƯỢC NGƯỜI DÂN
MỸ ƯA CHUỘNG
2.2.NHỮNG YÊU CẦU KHẮT KHE VỀ CHẤT LƯỢNG
NGƯỜI TIÊU DÙNG MỸ CHI CHO MUA SẮM NHIỀU NHẤT THẾ GIỚI TUY NHIÊN ĐÒI HỎI CỦA NGƯỜI MỸ HẾT SỨC KHẮT KHE NGƯỜI TIÊU DÙNG MỸ KHÔNG CHỈ CHÚ Ý ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA HÀNG HOÁ MÀ CÒN CHÚ Ý ĐẾN CẢ CHẤT LƯỢNG BAO BÌ ĐỐI VỚI MẶT HÀNG NÔNG SẢN ĐẶC BIỆT LÀ HÀNG THỰC PHẨM YÊU CẦU ĐỐI VỚI SẢN PHẨM CÒN KHẮT KHE HƠN RẤT NHIỀU, SẢN PHẨM ĐÓ PHẢI VƯỢT QUA CÁC TIÊU CHUẨN VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM, CHẤT DINH
9
Trang 21DƯỠNG CHẲNG HẠN NHỮNG SẢN PHẨM NHƯ RAU QUẢ PHẢI ĐẢM BẢO ĐỘ TƯƠI NGON, ĐỦ CHẤT DINH DƯỠNG VÀ PHẢI
LÀ RAU QUẢ SẠCH ĐÃ ĐƯỢC FDA CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN HÀNG HOÁ PHẢI CUNG CẤP ĐẦY ĐỦ THÔNG TIN CHO NGƯỜI MUA HÀNG VỀ HẠN SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN, NGUỒN GỐC CỦA HÀNG HOÁ, ĐỘ CỒN(NẾU LÀ CÁC SẢN PHẨM ĐỒ UỐNG), GIA VỊ, MÀU SẮC, CHẤT PHỤ GIA NẾU HÀNG HOÁ KHÔNG ĐÁP ỨNG ĐỦ NHỮNG YÊU CẦU TRÊN THÌ CHẮC CHẮN SẼ KHÔNG THỂ THÂM NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
2.3.NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI CHỦNG LOẠI HÀNG HOÁ VÀ
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THUẬN TIỆN
NHU CẦU TIÊU DÙNG MẶT HÀNG NÔNG SẢN CỦA NGƯỜI DÂN MỸ RẤT PHONG PHÚ, YÊU CẦU ĐỐI VỚI SẢN PHẨM CŨNG HẾT SỨC ĐA DẠNG BÊN CẠNH ĐÓ, NGƯỜI TIÊU DÙNG MỸ CÒN YÊU CẦU HÀNG HOÁ PHẢI CÓ CÁC DỊCH VỤ MUA HÀNG THUẬN TIỆN NHƯ CÁC DỊCH VỤ MUA HÀNG QUA MẠNG, MUA HÀNG ĐẾN TẬN NHÀ (DOOR TO DOOR SELLING)
DO CUỘC SỐNG LUÔN BẬN RỘN NÊN NGƯỜI MỸ ĐẶC BIỆT CHÚ TRỌNG ĐẾN DỊCH VỤ BÁN HÀNG TẬN NHÀ VÀ ĐẶC BIỆT
QUAN TRỌNG LÀ PHẢI KỊP THỜI (JUST IN TIME)
3.MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA MỸ ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN
NHẬP KHẨU 3.1.HÀNG RÀO THUẾ QUAN CỦA MỸ ÁP DỤNG ĐỐI VỚI HÀNG
NÔNG SẢN NHẬP KHẨU
NĂM 2001 NÔNG NGHIỆP MỸ ĐÓNG GÓP 1.4% VÀO TỔNG SẢN LƯỢNG TRONG NƯỚC TUY TỶ TRỌNG CỦA NÔNG NGHIỆP TRONG TỔNG GDP NHỎ NHƯNG DO THIÊN NHIÊN
ƯU ĐÃI VÀ TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT CAO, NÔNG NGHIỆP MỸ VẪN ĐỨNG HÀNG ĐẦU THẾ GIỚI HÀNG NÔNG SẢN MỸ CÓ SỨC CẠNH TRANH CAO TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CẢ VỀ
CHẤT LƯỢNG CŨNG NHƯ GIÁ CẢ
Tuy vậy nông nghiệp Mỹ cũng đang bị cạnh tranh gay gắt, nhất là với EU, Nhật Bản và một số quốc gia đang phát triển Do đó, chính phủ Mỹ
10
Trang 22đã và đang áp dụng nhiều biện pháp bảo hộ để duy trì sản lượng trước sự cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường trong nước và quốc tế Bảo hộ nông nghiệp là một đặc điểm nổi bật trong chính sách thương mại của Mỹ Bảo hộ nông nghiệp ở Mỹ không chỉ được thực hiện bằng các công cụ quản
lỹ nhập khẩu mà còn được thực hiện thông qua các biện pháp hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu nông sản
Thuế quan là một công cụ hết sức cần thiết để bảo hộ nông nghiệp
Mỹ Theo hiệp định nông nghiệp, Mỹ cam kết ràng buộc 100% số dòng thuế trong biểu thuế của mình bao gồm cả hàng công nghiệp và hàng nông sản Biểu thuế điều hoà và mô tả, mã hoá hàng hoá HS (Hamonized System) trong đó các mặt hàng nông sản bao gồm gần 300 dòng thuế
Tuy nhiên, Mỹ cũng có một tỷ lệ khá lớn số dòng thuế được quy định dưới hình thức thuế đặc định và thuế kết hợp Những dòng thuế này đã che giấu được mức bảo hộ thuế quan của Mỹ Bởi vì, việc quy định đổi những dòng đặc định và thuế kết hợp sang thuế theo giá tương đương là không dễ dàng
Nếu so sánh với thuế nhập khẩu nông sản của các nước phát triển khác thì mức thuế của Mỹ là thấp, chỉ cao hơn Canada Nếu như thuế suất ràng buộc của Mỹ chỉ có 5.5% thì con số tương ứng của Nhật Bản là 11.7%
và của EU là 19.5% Bên cạnh đó mức độ phân tán của các mức thuế suất cũng rất thấp (độ chênh lệch chuẩn chỉ có 5.5% so với 12.6% của Nhật và 22.1% của EU) Đặc biệt Mỹ cam kết áp dụng 97.6% số dòng thuế có thuế suất dưới 15% và đặc biệt có tới 27.9% số dòng thuế 0%
Khác với các nước trên thế giới trị giá tính thuế nhập khẩu của Mỹ dựa trên giá FOB của hàng nhập khẩu chứ không phải là giá CIF do đó các chi phí về bảo hiểm và vận tải không bị gộp vào tính thuế hải quan Trong thực tế, hàng rào thuế quan của Mỹ còn thấp hơn rất nhiều Nếu xét chung cho cả 3 loại thuế (thuế theo giá, thuế theo lượng và thuế kết hợp) thì năm
2000, thuế suất trung bình đơn giản của Mỹ là 5.4% Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp vẫn là lĩnh vực được Chính phủ Mỹ bảo hộ với mức độ cao hơn so với công nghiệp Điều này thể hiện ở thuế suất trung bình áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp là 10.4% và áp dụng cho các sản phẩm công nghiệp chỉ có 4.5% Tuy nhiên, những dòng thuế có thuế suất cao chính là
11
Trang 23những mặt hàng được bảo hộ cao, giá trị nhập khẩu thấp nên nếu tính theo bình quân gia quyền với quyền số là lượng nhập khẩu thì mức thuế suất trung bình của Mỹ còn thấp hơn, chỉ có 4,6% năm 2000 và 4,3% năm 2001
Mỹ là nước tham gia tích cực vào quá trình tự do hoá thương mại trên thế giới Vì thế, hàng rào thuế quan của nước này có rất nhiều ưu đãi theo các thoả thuận khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương Phần lớn các thoả thuận này đều đã nới lỏng hàng rào thuế quan của Mỹ đối với các sản phẩm nhập khẩu, đặc biệt là mức độ ưu đãi lớn hơn rất nhiều đối vời các sản phẩm nông sản Chính việc này đã làm cho các nước chỉ hưởng thuế suất MFN của Mỹ khó khăn hơn trong việc thâm nhập thị trường Mỹ Khung thuế suất của Mỹ có rất nhiều mức thuế suất khác nhau trong đó gồm các loại cơ bản sau: Thuế MFN (Most Favoured Nation), Thuế đặc định và Thuế ưu đãi
Thuế MFN:
Trong khi mức thuế trung bình đối với các mặt hàng phi công nghiệp
là 5.7% thì mức thuế MFN trung bình đối với hàng nông nghiệp là gần 10% Điều đó một lần nữa cho thấy mức độ bảo hộ của Mỹ đối với các sản phẩm nông nghiệp là rất cao Trong số các mặt hàng nông sản thì các mặt hàng được bảo hộ như đường, sữa, bông thuế suất rất cao so với các mặt hàng không được bảo hộ khác, điều này thể hiện rõ qua bảng số liệu sau:
BẢNG 1: THUẾ SUẤT MFN CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI MỘT SỐ
19 14,9 55,3 14,9 55,3
232,3 168,7 191,5 151,7 109,8 350,0 109,8 350,0
Nguồn: Tổng cục Hải quan Mỹ
12
Trang 24Hiện nay Việt Nam đã được hưởng mức thuế MFN nên sẽ có điều kiện mở rộng xuất khẩu vào thị trường Mỹ
Cà phê Sợi có nguồn gốc thực
vật Điều Lúa Chè Quế
17 0,6 5,4 8,2 3,4 3,7
0 0,3
0 5,8
0
0
Nguồn: Tổng cục Hải quan Mỹ Hạn ngạch thuế quan
Là hạn ngạch theo mức thuế cho phép nhập khẩu một lượng hàng
hoá vào Mỹ với một mức thuế được giảm bớt trong một thời hạn nhất định Nếu số lượng nhập khẩu vào Mỹ quá hạn ngạch thì số vượt quá phải chịu mức thuế cao hơn
Hiện nay, Mỹ áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với các sản phẩm
thịt bò, pho mat, sữa, một số sản phẩm đường, lạc, thuốc lá và bông…có khoảng trên 100 dòng thuế chịu biện pháp này Mức thuế trong hạn ngạch trung bình là 9,5% trong khi mức thuế quan ngoài hạn ngạch trung bình là 55,8% Trên 90% mức thuế ngoài hạn ngạch là thuế không tính theo phần trăm, đối với thuế trong hạn ngạch thì con số này là 28%6
3.2.Các biện pháp phi thuế quan
Trang 25Vì thế hiện nay, đối với nông sản nhập khẩu vào Mỹ, chỉ có rất ít các mặt hàng chịu sự kiểm soát của hạn ngạch
-Hạn ngạch theo số lượng (hạn ngạch tuyệt đối) được áp dụng với những mặt hàng sau:
+Một số loại cồn ethyl
+Sữa và kem đặc và khô
+Các chất thay thế bơ (có trên 45% bơ)
+Thức ăn động vật có sữa hoặc chất dẫn xuất từ sữa
+Bơ tổng hợp có trên 5.5% nhưng không quá 45% thành phần là bơ
+CÁC LOẠI KẸO BỌC SÔCÔLA VÀ CÁC KẸO TƯƠNG TỰ CÓ TRÊN 5.5% TRỌNG
LƯỢNG LÀ BƠ
+Sữa khô có tối đa 5.5% là bơ
+Lạc bóc hoặc chưa bóc, tẩy trắng hoặc đã được gia công hay bảo quản (trừ bơ lạc)
+Một số loại pho mát cứng
+Bông chưa chải hoặc chuốt hoặc qua gia công khác
+Sợi bông chải có độ dài trung bình dưới 30.1625mm và các phế liệu bông chải, bông rối
là thuế theo giá (chỉ có 28% là thuế suất không theo giá) thì thuế suất ngoài hạn ngạch chủ yếu là thuế theo lượng và thuế kết hợp (chiếm tới 92%) Điều này phản ánh mức độ cao của thuế suất theo giá (AVE) thì thuế suât
Trang 26trung bình trong hạn ngạch chỉ có 9% còn thuế suất ngoài hạn ngạch là 53%
Trên thực tế, mức độ hạn ngạch được thực hiện khác nhau giữa các sản phẩm và giữa các năm Mặc dù nhờ kết quả của vòng đàm phán Urugoay, Mỹ phải thực hiện cam kết mở cửa thị trường tối thiểu và mở cửa thị trường hiện tại, lượng hạn ngạch đã tăng dần lên qua các năm Tuy nhiên, hạn ngạch thuế quan vẫn là công cụ bảo hộ chính của Mỹ
Ngoài ra, phần lớn các lượng hạn ngạch thuế quan đều đã được phân
bổ cho các nước nhập khẩu theo Hiệp định nông nghiệp Có những mặt hàng, lượng hạn ngạch nhập khẩu đã được phân bổ trước cho một số nước nhất định tới trên 90% lượng hạn ngạch quy định Nói một cách khác thì
Mỹ đã quy định rõ xuất xứ của những mặt hàng nông sản nhập khẩu vào nước mình Đây sẽ là rào cản rất lớn đố với những nước xuất khẩu nông sản đang tìm cách thâm nhập thị trường Mỹ, nếu như nước đó chưa có hạn ngạch theo kết quả vòng đàm phán Urugoay
3.2.2.Các biện pháp bảo hộ khẩn cấp
Các biện pháp bảo hộ khẩn cấp gồm thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá Đây là những công cụ quản lý nhập khẩu được Mỹ rất ưa thích Tuy nhiên, trong lĩnh vực nông sản thì phạm vi áp dụng của những công cụ này rất hạn chế Tại thời điểm 31/12/2000, các sản phẩm nông nghiệp chỉ chiếm 6.6% tổng số trường hợp áp dụng thuế chống bán phá giá, đối với thuế đối kháng con số này là 14.6%
Ngoài ra, theo kết quả Hiệp định nông nghiệp, Mỹ cũng sử dụng biện pháp bảo hộ nông nghiệp đặc biệt (Special Safeguard Measures) Tuy nhiên phạm vi áp dụng không nhiều nếu so sánh với các nước khác Hai nhóm hàng được Mỹ quan tâm là sữa, các sản phẩm sữa và cà phê
3.2.3.Hàng rào kỹ thuật
Hiện nay, có thể nói rằng đây là công cụ bảo hộ nông sản chủ yếu của chính phủ Mỹ Dưới đây là một số quy định kỹ thuật mang tính rào cản của Mỹ đối với sản phẩm nông sản:
-Pho mát và các sản phẩm pho mát phải tuân theo các quy định của
cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (Food and Drug Administration)
và Bộ Nông nghiệp (US Department of agricultural) Phần lớn việc nhập
14
Trang 27khẩu pho mát phải có giấy phép nhập khẩu và xin hạn ngạch của Bộ Nông nghiệp, Cục nông sản nước ngoài
-Việc nhập khẩu sữa và kem phải tuân thủ các quy định của Luật
thực phẩm dược phẩm và mỹ phẩm và Luật nhập khẩu sữa Ngoài ra, việc nhập khẩu sữa và kem cũng phải chịu sự quản lý của hạn ngạch thuế quan
-Một số loại rau quả và hạt nhất định (gồm cà chua tươi, quả bơ,
xoài, chanh, cam, bưởi, hạt tiêu xanh, khoai tây Ailen, dưa chuột, cà, hành khô, quả hồ đào, quả chà là đã chế biến, mận, nho khô, dầu ôliu đóng hộp) phải đáp ứng các yêu cầu nhập khẩu của Mỹ về phẩm cấp, kích thước, chất lượng và độ chín Những sản phẩm này sẽ được kiểm định và phải có giấy chứng nhận của Cục an toàn thực phẩm và kiểm định- Bộ Nông nghiệp
-Các loại côn trùng sống có hại cho cây trồng (gồm rau, cây canh
tác, quả, cây ăn quả, cây rừng hoặc cây bóng mát) và trứng, nhộng hoặc ấu trùng của những côn trùng đó bị cấm nhập khẩu trừ lý do vì mục đích khoa học Tất cả các kiện hàng có côn trùng sống hoặc trứng, nhộng hoặc ấu trùng của chúng không có hại cho cây cối được phép nhập khẩu vào Mỹ chỉ khi có giấy phép của Cục kiểm định động vật và không bị Cục quản lý cá
và động vật hoang dã cấm
-Gia súc và động vật phải thoả mãn các quy định của Cục kiểm định
động thực vật Ngoài ra tất cả động vật được nhập khẩu đều phải có giấy chứng nhận sức khoẻ Thủ tục nhập khẩu gia súc và động vật từ Canada và Mehico không chặt chẽ như đối với các nước khác, đặc biệt là các nước có các bệnh lở mồm long móng hoặc các bệnh dịch động thực vật khác không
có ở Mỹ
-Mọi chuyến hàng thương mại chở thịt và các sản phẩm từ thịt (thịt
bò cừu, lợn, dê và ngựa) nhập khẩu vào Mỹ đều phải tuân thủ các quy định của Luật thực phẩm dược phẩm và mỹ phẩm Liên bang và phải được Cục kiểm định động thực vật và Cục an toàn kiểm định thực phẩm của Bộ nông nghiệp kiểm tra trước khi hải quan giải phóng hàng
-Thực vật và các sản phẩm từ thực vật bao gồm rau quả, cây, cây
non, củ, rễ hạt, một số loại thực vật sợi như bông, hoa, mía, một số ngũ cốc, gỗ khối và xẻ còn vỏ phải tuân theo các quy định của Bộ nông nghiệp
và có thể bị hạn chế hoặc cấm Tất cả đều phải có giấy phép nhập khẩu của
15
Trang 28Cục kiểm định động thực vật Một số loại cây có nguy cơ tuyệt chủng có thể bị cấm
-Gia cầm làm sẵn hoặc đóng hộp: trứng bao gồm trứng để ấp và các
chế phẩm từ trứng phải tuân theo các yêu cầu và quy định của cục kiểm định động thực vật Cục an toàn và kiểm định thực vật của Bộ nông nghiệp, phải có giấy phép và phải theo các yêu cầu ký mã hiệu và nhãn hiệu đặc biệt, trong một số trường hợp phải có chứng nhận kiểm định của nước ngoài
Ngoài những quy định trên, điểm khó vượt qua nhất trong hàng rào
kỹ thuật nông sản Mỹ chính là việc chậm chễ trong thủ tục lấy mẫu và kiểm tra của hải quan Mỹ Một số nông phẩm như táo, lê phải thực hiện các chương trình kiểm tra trước khi thông quan để đảm bảo rằng lô hàng đó không mang những mầm bệnh không tồn tại hoặc không phổ biến trên đất
Mỹ Việc quy định không rõ ràng danh mục này là trái với tính minh bạch của Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (International Plants Protection Convention) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (Sanitery and Phytosanitory Measure - SPS) của WTO Trên thực tế tiêu chuẩn trong hàng rào kỹ thuật của Mỹ đối với nông sản không cao nhưng điểm mấu chốt là sự phức tạp, thiếu rõ ràng trong các quy định này mới chính là khó khăn đối với các nhà xuất khẩu
3.3.Quy định về ký mã hiệu và nhãn mác
Theo đạo luật của liên bang về thực phẩm và mỹ phẩm nhãn hàng thực phẩm phải chứa những thông tin chi tiết vê hàng hoá, từ ngữ phải rõ ràng mà một người mua hàng bình thường cũng có thể đọc và hiểu được về cách sử dụng và công dụng của sản phẩm
Theo quy định của đạo luật liên bang về thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm (điều 21 trong CFR 101 ) và đạo luật đoạ luật đóng gói và nhãn sản phẩm thì trên nhãn sản phẩm phải có các nội dung như sau:
+ Tên của sản phẩm, vị trí kích cỡ chữ trên mặt bao gói
+ Trọng lượng tịnh
+ Tên,địa chỉ của nhà sản xuất, nhà đóng gói hoặc của nhà phân phối + Các thành phần của sản phẩm
16
Trang 29+ Các chất phụ gia như chất bảo quản, gia vị, mầu sắc đối với các sản phẩm từ bơ, phomat, kem
+ Thông tin về dinh dưỡng trong sản phẩm theo đạo luật giáo dục và nhãn mác dinh dương(NL&E Act)
+ Nguồn gốc của sản phẩm
+ Yêu cầu về hạn sử dụng và cách bảo quản
Ngoài ra, tên hàng hoá phải ghi bằng tiếng Anh theo quy định của FSIS (cơ quan kiểm tra an toàn thực phẩm)
Trong trường hợp nhà sản xuất không tuân thủ các quy định về ghi nhãn mác thì sẽ không được hải quan chấp nhận, không đựoc phép lưu thông trên thị trương Mỹ và có thể bị phạt rất nặng
4.Các phương thức xuất khẩu hàng nông sản vào thị trường Mỹ
ĐỂ XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ, CÁC NHÀ XUẤT KHẨU CÓ THỂ XUẤT HÀNG THEO CÁC KÊNH PHÂN PHỐI KHÁC NHAU TUỲ THUỘC VÀO TỪNG LOẠI HÀNG
SƠ ĐỒ KÊNH PHÂN PHỐI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU ĐỐI
VỚI MẶT HÀNG NÔNG SẢN THÔ VÀ SƠ CHẾ:
17
Trang 30Trong trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu không biết rõ được nhu cầu và các thông tin về nhà nhập khẩu thì doanh nghiệp có thể thông qua môi giới Tuy nhiên muốn thông qua thông qua người môi để bán hàng thẳng đến nhà sản xuất thì mặt hàng nông sản đó thường phải có tính đồng nhất cao, hàng phải đáp ưng được các tiêu chuẩn về mặt chất lượng
* Sơ đồ phân phối mặt hàng nhập khẩu thực phẩm tiêu dùng:
NGƯỜI MÔI
NGƯỜITIÊUDÙN NHÀ BÁN LẺ NHÀ BÁN BUÔN NHÀ SẢN XUẤT NHÀ NHẬP NHÀ XUẤT
19
Trang 31Cũng như đối với hàng nông sản thô, nhà xuất khẩu có thể xuất khẩu trực tiếp hoặc thông qua môi giới Người nhập khẩu cũng có thể bán hàng trực tiếp cho các nhà phân phối
Đối với một số mặt hàng thực phẩm tiêu dùng chế biến thì sơ đồ phân phối như sau:
Đối với các mặt hàng dễ hư hỏng như rau quả tươi, hoa tươi nhà xuất khẩu xuất khẩu hàng hoá đến người bán lẻ để cung câp cho người tiêu dùng và để xuất khẩu theo quy trình này thì hàng hoá phải đạt tiêu chuẩn
vệ sinh an toàn thực phẩm cao
Qua ba sơ đồ trên ta có thể thấy một số điểm đáng lưu ý sau:
Nhà nhập khẩu là những tổ chức bán hàng và thực hiện hoạt động Marketing,họ cũng có thể là những nhà xuất nhập khẩu hàng hoá để bán lại Nhà nhập khẩu Mỹ thường nhập các lô hàng lớn do đố khi muốn xuất khẩu vào thị trường này thì nhà xuất khẩu phải có các lô hàng có số lượng lớn đảm bảo yêu cầu về mặt chất lượng, vệ sinh an toàn thực phâm của FDA thậm chí họ còn phải có các chứng chỉ như ISO 14000, SA8000…Do đó các doanh nghiệp mới xuất khẩu thường không qua đường này Các doanh nghiệp Việt Nam thường ít xuất khẩu theo con đuờng này vì không chỉ họ
Nhà môi giới
Ngươi tiêu Nhà bán lẻ Nhà phân phối Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu
Người tiêu dùng
Nhà nhập khẩu
Nhà phân phối
20
Trang 32thiếu thông tin về thị trường mà còn bởi phần lớn không thể đáp ứng được yêu cầu về mặt số lượng và tiêu chuẩn mà nhà nhập khẩu Mỹ đưa ra
Người môi giới hoạt động như một đại diện của nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu Người môi giới đứng ra tổ chức hoạt động bán hàng, duy trì hoạt động với nhà phân phối Các nhà môi giới hoạt động như một lực lượng bán hàng ở thị trường Mỹ của nhà xuất khẩu, họ có thể là môi giới khu vực, môi giới đặc biệt hoặc môi giới tư nhân Ưu điểm của việc xuất khẩu thông qua môi giới là chi phí đầu tư thấp hơn vì họ có những nghiệp
vụ đặc thù, kỹ năng và dịch vụ bán hàng Tuy nhiên để hàng nông sản xuất sang thị trường Mỹ thông qua môi giới thì hàng phải đồng nhất về chất lưọng và mẫu mã, khối lượng hàng phải lớn
Nhà sản xuất sau khi mua hàng nhập từ những nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối tiến hành sản xuất sau đó thông qua mạng lưới bán lẻ để cung cấp hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Nhà phân phối đóng vai trò như một khách hàng, không phải là người đại diện cho nhà nhập khẩu Nhà phân phối có thể phân phối một hoặc nhiều mặt hàng Các nhà phân phối Mỹ thường là những nhà đầu tư lớn có tiềm lực về vốn và có uy tín Họ là những người sẽ cung cấp hàng hoá cho các cửa hàng bán lẻ hoặc phân phối hàng nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất chế biến hàng nông sản (đối với hàng nông sản thô)
Ở CẤP BÁN LẺ, HÀNG HOÁ MUA TỪ CÁC NHÀ BÁN BUÔN, ĐƯỢC CÁC NHÀ BÁN LẺ BÁN LẠI CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG CÓ 7 DẠNG CỬA HÀNG BÁN LẺ Ở MỸ ĐÓ LÀ CỬA HÀNG CHUYÊN DOANH, CỬA HÀNG BÁCH HOÁ TỔNG HỢP, CÁC SIÊU THỊ BÌNH DÂN, CỬA HÀNG TỰ PHỤC VỤ NHU CẦU THƯỜNG NGÀY, SIÊU THỊ LIÊN HỢP, CÁC TỔ HỢP THƯƠNG MẠI, CÁC CỬA HÀNG DỊCH VỤ BÁN LẺ NHỮNG NGƯỜI MỸ THƯỜNG MUA THỰC PHẨM Ở CÁC SIÊU THỊ CON SỐ NÀY CHIẾM TỚI 60% ĐIỀU ĐÁNG CHÚ Ý LÀ Ở MỸ PHẦN LỚN MẠNG LƯỚI BÁN LẺ CÓ QUY MÔ LỚN TRONG KHI ĐÓ Ở CÁC NƯỚC KHÁC PHẦN LỚN KHU VỰC BÁN LẺ LẠI THUỘC MỘT
SỐ ĐÔNG CÁC TIỂU THƯƠNG ĐỘC LẬP
Trang 33Tuỳ từng đặc điểm của mặt hàng và khả năng của mình mà các nhà xuất khẩu lựa chọn cho mình một kênh phân phối phù hợp để thâm nhập có hiệu quả nhất vào thị trường nông sản Mỹ
III Định hướng thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Trong thời gian tới, thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ không chỉ phụ thuộc vào các sản phẩm đựoc xuất khẩu mà còn phụ thuộc vào triển vọng thị trường các nước, các khu vực và nhiều yếu tố khác Từ nay đến năm 2010 định hướng thị trường xuất khẩu của Việt Nam như sau:
Thứ hai, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam thường là sản phẩm thô ít qua chế biến nên việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước này không có tác động lớn đến khối lượng xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam trong tương lai Tuy nhiên, thị trường các nước ASEAN vẫn là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất là đối với mặt hàng gạo của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2001
2 Thị trường các nước Châu Á khác
Nhìn chung triển vọng mậu dịch hàng nông sản của thị trường các nước Châu Á khác trong giai đoạn từ nay đến năm 2001 là rất lớn, đặc biệt
ở các nước Trung- Cận Đông Các sản phẩm có khả năng nhập khẩu lớn của khu vực là gạo, chè Đối với Việt Nam mặc dù những năm gần đây xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang khu vực này đã có những dấu hiệu tích cực nhưng khu vực Trung- Cận Đông vẫn chưa được khai thác và
21
Trang 34xem là khu vực thị trường tiềm tàng đối với các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam, nhất là chè và gạo.Thị trường các nước Châu Á khác như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản…có khả năng sẽ tăng nhập khẩu nông sản thô để phục vụ cho công nghiệp chế biến Có thể nói đây sẽ là khu vực thị trường hàng nông sản sôi động nhất trên thế giới trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 Triển vọng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang khu vực thị trường này sẽ tiếp tục được mở rộng cả về khối lượng và số lượng
3 Thị trường các nước SNG và Đông Âu
Có thể khẳng định đây là khu vực thị trường “dễ tính” nhất đối với các sản phẩm xuất khẩu Việt Nam Đó là yếu tố thuận lợi cho việc phục hồi thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam trong tương lai Hiện nay tình hình của khu vực này đã dần đi vào ổn định và phát triển,
do đó kéo theo sự phục hồi của quan hệ mậu dịch trong và ngoài khu vực Đối với Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo cần phải đẩy nhanh quá trình phục hồi quan hệ mậu dịch với khu vực này vì đây là một thị trường rất lớn Nếu xử lý tốt phương thức thanh toán sẽ mở ra triển vọng lớn cho khả năng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang khu vực này, đặc biệt là các sản phẩm ở giai đoạn đầu của sự nghiệp phát triển công nghiệp chế biến hàng nông sản trong nước
4.Thị trường EU
So với thị trường các nước SNG và Đông Âu thì EU là một thị trường “khó tính” với chế độ nông nghiệp chặt chẽ và mức bảo hộ cao Các cản trở về mậu dịch hàng nông sản của EU đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vẫn rất lớn mặc dù đã áp dụng các cách giảm áp lực theo Hiệp định nông nghiệp đã dỡ bỏ một phần các rào chắn Bên cạnh đó, phần lớn các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam hiện nay và trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 vẫn chưa thích ứng với điều kiện mậu dịch của khu vực này Tuy nhiên, đây là khu vực thị trường mà Việt Nam
có thể thu được hiệu quả xuất khẩu cao, rất cần thiết cho sự phát triển nền nông nghiệp hàng hoá Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2010
Các nước EU hiện nay vẫn đóng vai trò trung gian trong xuất khẩu của Việt Nam về mặt hàng gạo sang những nước nghèo Châu Phi
Trang 355 Thị trường Châu Mỹ
Các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam xuất khẩu sang khu vực thị trường Châu Mỹ trong giai đoạn vừa qua chủ yếu tập trung vào thị trường Cuba và gần đây là thị trường Mỹ
Đối với thị trường Mỹ, cũng như thị trường EU, đây là thị trường tiêu thụ lớn và có thể thu được lợi ích xuất khẩu cao, tuy nhiên chế độ mậu dịch hết sức chặt chẽ nên khả năng tiếp cận thị trường bị hạn chế Do đó triển vọng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường này sẽ phụ thuộc nhiều vào chính sách mậu dịch của Mỹ nhất là việc áp dụng quy chế Tối huệ quốc đối với các sản phẩm xuất khẩu nói chung và các sản phẩm nông nghiệp nói riêng của Việt Nam trong những năm tới
Đối với thị trường CuBa và các nước châu Mỹ La Tinh khác triển vọng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong giai đoạn tới không lớn
6 Thị trường Châu Phi
Châu Phi là châu lục nghèo, chiến tranh liên miên, do đó rủi ro thương mại cao trong khi lợi ích xuất khẩu thu được thấp và thường phải qua các tổ chức, các nước trung gian, vì vậy triển vọng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam sang khu vực này không lớn và chủ yếu là mặt hàng gạo Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, thị trường các nước Châu Phi vẫn chỉ được xem là thị trường tiềm tàng cho triển vọng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam
7.Thị trường Châu Đại Dương
Thị trường này bao gồm 2 nước Australia và New Zealand Khối lượng hàng nông sản Việt Nam xuất sang các nước này chưa nhiều Trong giai đoạn từ nay đến 2010, khả năng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam sang các thị trường này cũng không lớn do dung lượng thị trường nhỏ và nhu cầu nhập khẩu thấp
23
Trang 36CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NÔNG SẢN VIỆT
NAM XUẤT KHẨU
I Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
Những thành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế của Việt Nam kể
từ khi đổi mới có đóng góp rất lớn của hoạt động xuất khẩu hàng hoá Trong giai đoạn từ năm 1990 - 1999 giá trị xuất khẩu hàng hoá nói chung tăng trung bình trên 20%/năm, trong đó giá trị xuất khẩu hàng nông sản tăng bình quân 16,7 %/ năm Điều này cho thấy rằng nhịp độ phát triển giá trị xuất khẩu nông sản có sự thua kém so với giá trị xuất khẩu hàng hoá nói chung và do đó làm giảm tỷ trọng giá trị xuất khẩu hàng nông sản so với giá trị xuất khẩu chung Sự thay đổi này mặc dù rất phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước tuy nhiên điều đó cũng chứa đựng những hạn chế trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu nông sản đó là chưa phản ánh hết tiềm năng sản xuất các sản phẩm nông sản ở nước ta
1.Tình hình suất khẩu chung các mặt hàng
Trong những năm vừa qua sản xuất nông nghiệp của Việt Nam liên tục đổi mới, phát triển và đạt được những thành tựu hết sức to lớn Liên tục trong nhiều năm, sản xuất nông nghiệp đạt mức tăng trưởng trên 4,5% Nông nghiệp Việt Nam đang trong quá trình chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá trên cơ sở khai thác lợi thế và tài nguyên sinh học đa dạng Sản xuất lương thực, chăn nuôi, rau quả và cây công nghiệp đều có những bước phát triển mạnh mẽ Cùng với việc đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thị trường nội địa, xuất khẩu nông sản cũng tăng nhanh cả về sản lượng và kim ngạch, đóng góp một phần khá lớn vào quá trình phát triển kinh tế nói chung của đất nước
24
Trang 371.1.Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
Danh mục và khối lượng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp chủ
lực của Việt Nam trong giai đoạn từ 1995 đến 2002 được trình bày ở bảng
số liệu dưới đây:
Bảng 3: Một số nông sản xuất khẩu chủ lực
3.003
284 25,3 16,5 194,5 90,0 20,8 127,0
3.575
392 24,7 33,3 194,2 71,0 32,9 86,0
3.720
382 15,1 25,7 191,0 53,0 33,0 87,0
4.508
482 34,8 18,4 263,0 106,5 36,0 56,0
3.476
733 37,0 34,2 273,4 213,1 55,6 76,1
3.729
931 57,0 43,7 308,1 330,0 68,2 78,2
3.241
711 77,0 62,8 444,0 200,0 75,0 107,0
Nguồn : Thời báo Kinh Tế Việt Nam số 3 năm 2003
Qua bảng số liệu trên ta có thể nhận thấy:
Thứ nhất, các mặt hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam còn đơn
điệu, chủ yếu là các sản phẩm thô, ít qua chế biến Nếu so sánh với danh
mục hàng nông sản được buôn bán trên thị trường trế giới cho thấy trong
danh mục hàng nông sản suất khẩu của Việt Nam không có nhóm hàng sữa
và các sản phẩm từ sữa cho đến tận đầu những năm 2000, nhóm hàng dầu
mỡ thì hầu như chỉ có một số loại hạt có dầu; nhóm hàng thịt chế biến thì
hầu như chỉ có thịt lợn
Thứ hai, trong nhóm các mặt hàng nông sản được xếp vào nhóm
các mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì chỉ có gạo, cao su và cà phê là những
sản phẩm có tỉ lệ xuất khẩu cao, trong đó chỉ có cao su là mặt hàng có tốc
độ tăng trưởng liên tục trong nhiều năm về khối lượng xuất khẩu
Thứ ba, về tốc độ gia tăng xuất khẩu thì hạt điều, cà phê, hạt tiêu,
cao su, gạo có mức tăng trưởng cao nhất nhưng bản thân các sản phẩm này
lại có sự gia tăng không đều giữa các năm và có hiện tượng giảm sút về
25
Trang 38khối lượng xuất khẩu Trừ gạo và cao su ra thì trên thực tế hầu hết các sản phẩm chủ lực của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu tăng cao thì lại có tốc
độ giảm trong xuất khẩu của thế giới và ngược lại đặc biệt là trong giai đoạn những năm đầu thập kỷ 90 Điều này chứng tỏ rằng khả năng phản ứng của Việt Nam với nhu cầu của thị trường thế giới rất thụ động và chậm chạp Hoạt động xuất khẩu vẫn theo lối truyền thống tức là “có gì xuất nấy” chứ việc chuyển sang cách tiếp cận “ xuất cái gì thế giới cần”, cụ thể là chúng ta chỉ tập trung vào các sản phẩm có quy mô lớn để khai thác
Thứ tư, khi so sánh tốc độ tăng khối lượng xuất khẩu với tốc độ gia tăng giá trị xuất của Việt Nam từ đầu những năm 90 đến nay thì có sự khác biệt trong từng giai đoạn Trong giai đoạn từ đầu 1990 đến 1995 thì giá trị xuất khẩu nông sản tăng nhanh hơn khối lượng xuất khẩu Chẳng hạn trong giai đoạn này khối lượng xuất khẩu lạc nhân tăng bình quân 10,24% trong khi đó giá trị xuất khẩu tăng bình quân 11,43%; gạo tương ứng là 4,13% và 11,7% Điều này chính là nhờ xu hướng phục hồi giá trên thị trường thế giới bắt đầu từ năm 1993 và một phần cũng là do giá trị của sản phẩm được nâng lên nhờ chất lượng được cải thiện làm thu hẹp dần khoảng cách giữa giá xuất khẩu bình quân của Việt Nam với giá trên thị trường thế giới Trước đây giá xuất khẩu gạo của Việt Nam thường thấp hơn giá trên thị trường thế giới từ 80 đến 100 USD/tấn thì nay đã giảm xuống ở mức 20 đến 30 USD/ tấn.Tuy nhiên trong nhưng năm cuối thập kỉ 90 trở lại đây, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam vẫn tiếp tục tăng lên nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn tốc độ tăng sản lượng xuất khẩu Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do xuất khẩu nông sản của Việt Nam ( trừ gạo) còn chiêm khối lượng nhỏ so với các đối thủ cạnh tranh, chưa đủ sức để chi phối đến sự biến động giá cả trên thị trường thế giới và nông sản Việt Nam vẫn phải chịu tác động của giá cả thế giới và lấy đó làm tiêu chuẩn phấn đấu cho mình trong khi do giá nông sản trên thế giới lại có xu hướng biến động theo kiểu giá cánh kéo ngày càng lớn
Nhìn chung trong cơ cấu trị giá xuất khẩu hàng hoá, tỷ trọng giá trị hàng nông sản xuất khẩu còn chiếm vị trí khiêm tốn và có xu hướng giảm: nếu năm 1995 chiếm tới 32% thì năm 2002 chỉ còn 20% Cùng với tiến bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ CNH-HĐH và phát triển công nghiệp chế
Trang 39biến thì sự giảm dần tỷ trọng này được coi là hợp lý Song điều đáng quan tâm là sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới còn thấp kém Do vậy, hiệu quả xuất khẩu chưa cao, chưa tạo được thế
đứng vững chắc trên thị trường
27
Trang 401.2 Về thị trường xuất khẩu
Cũng giống như thị trường xuất khẩu hàng hoá thị trường xuất khẩu hàng nông sản trong thời gian qua đã có sự thay đổi lớn: đó là sự thay đổi từ khu vực thị trường Đông Âu sang các khu vực thị trường khác Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển mậu dịch hàng nông sản của cá khu vực khác nhau trên thế giới những năm qua sự giảm sút về khối lượng nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp của các nước Đông Âu trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế là một thực tế khách quan, không chỉ ảnh hưởng quan hệ mậu dịch với Việt Nam mà với mọi nước khác có quan hệ mậu dịch trong khu vực này tuy nhiên do quan hệ mậu dịch của Việt Nam trước đây qua tập trung vào khu vực này, nên đối với nhiều nông sản xuất khẩu của Việt Nam như vừng, đỗ tương, đay tơ, rau quả chế biến, thịt chế biến… sự sụp đổ thị trường này cũng đồng nghĩa với sự giảm về khối lựơng xuất khẩu Những năm gần đây, một số thị trường xuất khẩu mới thu hút tỷ lệ lớn trong khối lượng xuất khẩu nông sản của Việt Nam là Trung Quốc, Singapore và một số nước Châu á khác Hiện nay, Châu Á đã trở thành thị trường chính trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam Điều này cho thất sự chuyển biến tích cực, linh hoạt của chúng ta trước diễn biến của thị trường hàng hoá nông sản
Tuy nhiên cơ cấu thị trường hàng nông sản hiện nay cũng bộc lộ những điểm bất lợi:
Một là hàng nông sản xuất khẩu của ta hiện vào các nước trung gian vẫn
còn chiếm tỷ lệ cao là làm cho hiệu quả xuất khẩu thấp chẳng hạn đối với mặt hàng gạo, Thuỵ Sỹ và Hà Lan là những nước không có truyền thống tiêu thụ với số lượng lớn, lại thường đứng trong số 10 nước bạn hàng mua gạo lớn nhất của Việt Nam Thực tế những nước này thường nhập gạo của
ta để tái xuất sang Châu Phi
Hai là giống với thị trường hàng hoá nói chung, thị trường xuất khẩu
hàng hoá nói chung thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam đang ngày càng phụ thuộc vào thị trường Châu Á mặc dù đã có thêm nhiều thị trường mới với dung lượng ngày càng tăng lên Đối với thị trường hạt điều: Hạt điều là sản phẩm có tốc độ tăng xuất khẩu cao nhất, đồng thời cũng là sản phẩm xuất khẩu được phát triển rộng giai đoạn 1990 - 1995 Trong đó thị
28