1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (m&a) phù hợp với các cam kết quốc tế của việt nam

21 773 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam
Tác giả Phùng Ngọc Việt Nga
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hồng Thao
Chuyên ngành Luật Quốc tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 328,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp M&A phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam Phùng Ngọc Việt Nga Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 3

Trang 1

Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) phù hợp với các cam kết

quốc tế của Việt Nam Phùng Ngọc Việt Nga

Khoa Luật Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hồng Thao

Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Làm sáng tỏ các quan điểm, khái niệm về đầu tư (sáp nhập và mua lại

doanh nghiệp) M&A, đặc điểm của hình thức đầu tư này và thực tiễn hoạt động M&A trên thế giới Nghiên cứu các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp Nghiên cứu đặc điểm, xu hướng của các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp qua các giai đoạn, tìm hiểu các yếu tố tác động đến xu hướng này Đưa ra các ưu điểm và nhược điểm của các quy định hiện hành của Việt Nam về M&A Nghiên cứu những điểm phù hợp và chưa phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp với các cam kết quốc tế Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật

Việt Nam về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Keywords: Luật Quốc tế; Doanh Nghiệp; Luật kinh doanh; Đầu tư

Content

MỞ ĐẦU

Việt Nam đang gia nhập ngày càng sâu và rộng với nền kinh tế thế giới Thông qua các cam kết quốc tế, đặc biệt là các cam kết với WTO, Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số Hiệp định song phương với các quốc gia khác, Việt Nam thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới được thực hiện theo hai kênh cơ bản là đầu tư mới (Greenfield Investment) và mua lại và sáp nhập (mergers and acquisitions - M&A)

Sáp nhập và mua lại là hình thức đầu tư rất quan trọng của FDI Trong 10 năm trở lại đây, số lượng FDI được thực hiện theo hình thức này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng FDI trên thế giới (từ 57 đến trên 80% tổng FDI hàng năm trên toàn cầu) Tuy nhiên, ở Việt Nam, do thiếu hành lang pháp lý và những hạn chế về cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các công ty trong nước trong khi cam kết mở cửa thị trường hầu như không còn hạn chế, chỉ trừ

Trang 2

một số lĩnh vực chuyên ngành, hình thức đầu tư này mới chỉ được thực hiện qua một số ít dự

án FDI Vì vậy, vấn đề cần thiết hiện nay là phải xây dựng hành lang pháp lý phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam đảm bảo thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn FDI, góp phần minh bạch hóa thị trường M&A trong nước góp phần tái cơ cấu doanh nghiệp trong nước trong việc quản trị, điều hành cũng như việc tiếp cận các công nghệ tiên tiến trên thế giới

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ M&A

1.1 Khái niệm M&A

M&A, được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh: Mergers and Acquisitions được dịch là “sáp nhập và mua lại” hoặc “sáp nhập và thâu tóm” Đây là thuật ngữ để chỉ sự mua bán, sáp nhập, hợp nhất, mua cổ phần, mua tài sản giữa hai hay nhiều công ty với nhau

Mặc dù thuật ngữ “M&A” được sử dụng rất thông dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng các nước chưa có sự thống nhất một định nghĩa pháp lý chung đối với thuật ngữ này Ở mỗi nước, có một hệ thống pháp luật khác nhau, một cách hiểu khác nhau về M&A

1.1.1 Định nghĩa theo quy định pháp luật của một số nước

1.1.1.1 Hoa kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia Liên bang nên tồn tại hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang Do đó, hoạt động M&A chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật là pháp luật liên bang và pháp luật của từng bang

Theo pháp luật liên bang, sáp nhập có nghĩa là sự kết hợp giữa hai công ty mà một bên hoàn toàn

bị thâu tóm bởi công ty kia Công ty kém quan trọng hơn sẽ mất đi đặc điểm nhận diện của mình và trở thành một phần của công ty quan trọng hơn nơi vẫn giữ được đặc điểm nhận diện của mình Hoạt động sáp nhập làm lu mờ công ty bị sáp nhập và công ty được sáp nhập sẽ nắm giữ các quyền, lợi ích và trách nhiệm của công ty bị sáp nhập Một hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất mà hai công ty cùng bị mất đi những đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn

mới

1.1.1.2 Cộng đồng chung Châu Âu

Cộng đồng Châu Âu đã có một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và mua lại tại Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC Merger Regulation) như sau: (i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc (ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới Quy định về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu đã đưa ra cách tính về doanh số, thủ tục cần thiết để tiến hành việc sáp nhập và mua lại một cách cụ thể

Mặc dù hệ thống pháp luật của từng quốc gia thuộc thành viên của Cộng đồng chung

Trang 3

Châu Âu là khác nhau, nhưng Quy chế về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu được áp dụng chung và là văn bản có hiệu lực điều chỉnh cao hơn pháp luật của từng quốc gia phê chuẩn

1.1.3 Định nghĩa của Việt Nam

Khái niệm M&A được đề cập đến trong một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt

Nam như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật cạnh tranh như sau

"Sát nhập doanh nghiệp" là việc một hay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gọi là doanh nghiệp bị sát nhập) chuyển toàn bộ bằng tiền và tài sản của mình để sát nhập vào một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác (gọi là doanh nghiệp nhận sát nhập) "Hợp nhất doanh nghiệp" là việc hai hay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gọi là doanh nghiệp bị hợp nhất) mang toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mình để hợp nhất với nhau chuyển thành một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới (gọi là doanh nghiệp hợp nhất)”

3 Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”

Quy định khái niệm về sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp không thống nhất với nhau giữa các văn bản quy phạm pháp luật Cụ thể nếu so sánh về mặt từ ngữ thấy theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì các công ty sáp nhập, hợp nhất phải là công ty “cùng loại nhau” còn ở Luật Cạnh tranh 2004 thì không quy định cụm từ này

1.2 Phân biệt sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Mặc dù sáp nhập và mua lại doanh nghiệp thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua lại và sáp nhập vẫn có sự khác biệt về bản chất

Mua lại doanh nghiệp xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác và trở thành chủ

sở hữu mới của công ty bị mua lại thì thương vụ đó được gọi là mua bán Về khía cạnh pháp

lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bên bán và cổ phiếu của bên mua không bị ảnh hưởng

Theo nghĩa đen thì sáp nhập diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng” Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch

và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành Việc sáp nhập này gần giống với hình hợp nhất doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam

1.3 Đặc điểm hoạt động M&A

- Về chủ thể: Hai hoặc nhiều công ty cùng loại (theo pháp luật Việt Nam);

- Hai hoặc nhiều công ty khác loại (pháp luật nước ngoài)

Trang 4

- Về hình thức, được chia thành: Sáp nhập (merger); Thâu tóm (acquisition); Thôn tính (take – over); Mua lại (buy – out); Hợp nhất (consolidation)

- Về đối tượng: Đối tượng mua bán, sáp nhập là quyền sở hữu tài sản; nghĩa vụ nợ và các nghĩa vụ khác; cổ phần; quyền điều hành; thương hiệu

- Về địa vị pháp lý của công ty sau khi sáp nhập: Công ty chủ động thực hiện sáp nhập, mua lại vẫn giữ bản sắc và thương hiệu, công ty mục tiêu chấm dứt sự tồn tại; hoặc gộp chung thương hiệu

- Mục tiêu: Lợi ích kinh tế (thường trong các trường hợp thân thiện, tự nguyện); thôn tính hoặc tiêu diệt đối thủ cạnh tranh (trong các trường hợp thù địch)

1.4 Phân loại M&A

1.4.1 Dựa trên mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thực hiện M&A

1.4.2 Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính

1.4.2.1 Sáp nhập mua

Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra khi một công ty mua lại một công ty khác

Trang 5

1.4.2.2 Sáp nhập hợp nhất

Với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới Tài chính của hai công ty sẽ được hợp nhất trong công ty mới

Như vậy, hợp nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam là một trong những hình thức sáp nhập

1.5 Các phương thức M&A

1.5.1 Phương thức chào thầu

1.5.2 Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn

1.5.3 Phương thức thương lượng giữa các ban quản trị

1.5.4 Phương thức thu gom cổ phiếu

1.5.5 Phương thức mua lại tài sản công ty

1.6 Động cơ thực hiện M&A

1.6.1 Thâm nhập vào thị trường

1.6.2 Giảm chi phí gia nhập thị trường

1.6.3 Chiếm hữu tri thức và tài sản con người

1.6.4 Giảm bớt đối thủ cạnh tranh trên thị trường

1.6.5 Giảm thiểu chi phí và nâng cao hiệu quả

1.6.6 Đa dạng hóa và bành trướng thị trường

1.6.7 Đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược thương hiệu

Trang 6

Điều 95 Bộ luật Dân sự, các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh

và các văn bản pháp luật chuyên ngành tài chính, ngân hàng

2.1.2 Quy định về M&A trong một số ngành luật cụ thể

2.1.2.1 M&A theo quy định của Luật Doanh nghiệp

Như đã trình bày ở trên, Luật doanh nghiệp đưa ra khái niệm và trình tự thủ tục sáp nhập, hợp nhất, doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2005 xem xét sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp như hình thức tổ chức lại doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa về mua, bán doanh nghiệp Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp có một Điều riêng quy định về việc bán doanh nghiệp tư nhân

2.1.2.2 M&A theo quy định của Luật Đầu tư

Luật Đầu tư năm 2005 thừa nhận hai hình thức M&A là sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được coi là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp Việc mua lại doanh nghiệp có thể được thực hiện dưới hình thức mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp hoặc chi nhánh

2.1.2.3 M&A theo quy định của Luật Cạnh tranh

Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số

doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”

Luật Cạnh tranh cũng đề cập đến hợp nhất doanh nghiệp - là việc “hai hoặc nhiều doanh

nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, việc sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp và mua lại doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế Do đó, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp tạo

ra thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan

2.1.2.4 M&A theo quy định của Luật Chứng khoán

Luật Chứng khoán quy định việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải được chấp thuận của Ủy ban chứng khoán nhà nước trước khi thực hiện

Trang 7

2.1.2.5 M&A theo quy định của luật Các tổ chức tín dụng

Như vậy, việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập của tổ chức tín dụng phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Thông tư số 04/2010/TT-NHNN quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD

2.1.2.6 Các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến M&A

Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam; Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày 15/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2 Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến M&A

Đến nay Việt Nam đã ký kết và tham gia rất nhiều cam kết quốc tế về đầu tư hoặc liên quan đến đầu tư, bao gồm: các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ký kết với 55 nước; các Hiệp định/Chương Đầu tư trong khuôn khổ FTA; và các cam kết khác liên quan đến đầu

tư như Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs) của WTO, các hiệp định về dịch vụ trong WTO và các FTA, hiệp định thành lập tổ chức bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA), Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, v v…

Nhìn chung, các Hiệp định, cam kết của Việt Nam liên quan đến hoạt động M&A đều thể hiện dưới hình thức tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp Việt Nam hoặc được thể hiện dưới dạng cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài hiện diện thương mại, thâm nhập trong các ngành, lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam

2.2.1.Cam kết trong GATS/ WTO

Việt Nam đã gia nhập WTO được gần 5 năm với cam kết mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình Kể từ năm 2009, nhiều lĩnh vực dịch vụ đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài được tham gia cung cấp như kiến trúc, nghiên cứu thị trường, giáo dục, phân phối hàng hóa và quảng cáo Sự mở rộng này là cơ hội cho hoạt động đầu tư thông qua hình thức sáp nhập và mua lại mặc dù hiện nay nhiều quy định của WTO cần được hướng dẫn

cụ thể khi áp dụng

Cho đến nay, các hạn chế đối với tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam đã bị xóa bỏ, trừ một số lĩnh vực đặc thù như ngân hàng và chứng khoán Ngoài ra, một số hạn chế về tỷ lệ sở hữu cổ phần hạn chế không có thời hạn dỡ bỏ:

- Dịch vụ liên quan đến lâm nghiệp, săn bắn và nông nghiệp: Chỉ cho phép thành lập liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh

Trang 8

- Dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh

2.2.2 Cam kết trong khu vực ASEAN

Các các kết quốc tế của Việt Nam trong khu vực ASEAN về M&A chủ yếu được thể hiện ở Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN Một trong những mục tiêu của Hiệp định

là xây dựng một Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) có môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn giữa các quốc gia thành viên, nhằm đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ các nguồn cả trong và ngoài ASEAN

Theo Hiệp định khung về đầu tư ASEAN, các quốc gia thành viên cam kết thực hiện các biện pháp thích hợp để bảo đảm tính rõ ràng và nhất quán trong việc áp dụng và giải thích các luật, quy định và thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư của nước mình nhằm tạo ra và duy trì một chế độ đầu tư có thể dự đoán trước được trong ASEAN Đồng thời, các bên phải

mở ngay lập tức tất cả các ngành nghề của nước mình cho đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN

và dành ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN và đầu tư của họ, đối với tất cả các ngành nghề và các biện pháp có tác động tới các đầu tư đó, bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn ở việc tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản lý, vận hành và định đoạt đầu tư, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các nhà đầu tư và đầu tư tương tự của nước mình ("đối xử quốc gia") (khoản 1 Điều 7)

2.2.3 Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư

Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết (với 54/55 quốc gia) có nội dung tương đối thống nhất theo mô hình các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu

tư truyền thống trên thế giới

2.2.4 Các cam kết quốc tế về đầu tư song phương có yếu tố tự do hoá liên quan đến M&A

Các cam kết này bao gồm Hiệp định khuyến khích, bảo hộ và tự do hoá đầu tư Việt Nam - Nhật Bản và trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) Bên cạnh cam kết về bảo hộ đầu tư, Việt Nam còn cam kết về quyền thành lập đối với nhà đầu tư nước ngoài Hai hiệp định này đều sử dụng phương pháp chọn bỏ (negative list approach), tức là đưa ra các cam kết chung và các Bên ký kết có quyền duy trì hoặc ban hành các biện pháp không phù hợp với các nghĩa vụ chung này và phải liệt kê các biện pháp đó trong một hoặc một số phụ lục

Tại Phụ lục H của Hiệp định BTA, Việt Nam cam kết với Hoa Kỳ hóa bỏ mọi hạn chế

về việc chuyển nhượng vốn đầu tư Theo đó, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không bắt buộc phải ưu tiên chuyển nhượng cho doanh nghiệp Việt Nam Ngoài ra, Phụ lục H cũng cam kết về việc cho phép nhà đầu tư Hoa Kỳ thành lập công ty cổ phần có vốn ĐTNN và nới lỏng các hạn chế về sở hữu vốn của nhà đầu tư Hoa Kỳ Theo quy định của BTA, trong vòng 3 năm kể

Trang 9

từ khi Hiệp định có hiệu lực, nhà đầu tư Hoa Kỳ được phép thành lập công ty cổ phần có vốn ĐTNN tại

Việt Nam

Ngoài ra, tại Hiệp định Tự do hóa, khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản Việt Nam không cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực khai thác hải sản ở vùng lãnh hải, nội thủy, đặc quyền kinh tế Vì vậy, Nhật Bản không được tham gia vào các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trên tại Việt Nam

2.2.5 Hiệp định thương mại tự do có cam kết về đầu tư

Các Hiệp định thương mại tư do có cam kết về Đầu tư mà Việt Nam không liên quan nhiều đến việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp Việc tham gia góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp Việt Nam theo Hiệp định này được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam

2.3 Quy định về M&A của một số nước trên thế giới

là cách thức quản lý công ty mới Trung Quốc yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp kế hoạch để cải tiến cơ cấu quản lý và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp nhà nước

Về vấn đề giá cả mua lại doanh nghiệp: Trung Quốc quyết định giá mua lại doanh nghiệp phải dựa trên giá trị tài sản hoặc giá trị cổ phần do một công ty đánh giá tài sản ở Trung Quốc đưa ra Phương pháp đánh giá tài sản hoặc cổ phần phải là phương pháp được quốc tế công nhận Nếu như giá mua lại doanh nghiệp thấp hơn giá trị đó thì cuộc chuyển nhượng này không được phép thực hiện

Về thuế áp dụng cho các giao dịch M&A, Trung Quốc căn cứ vào từng hình thức M&A để áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với từng giao dịch

2.3.2 Thái Lan

Mua lại và sáp nhập hai hoặc nhiều công ty có thể dưới các hình thức sau: i, Sáp nhập (hợp nhất) ii, Mua lại cổ phần iii, Mua lại tài sản Trong ba hình thức trên thì hình thức hợp nhất là ít phổ biến tại Thái Lan do Thái Lan không khuyến khích hình thức hợp nhất các công

ty

Trang 10

Trong một số lĩnh vực nhất định (Ngân hàng, tài chính tín dụng, bảo hiểm nhân thọ, đại lý du lịch, hàng hải, hàng không…) Thái Lan đều có những giới hạn về vốn và số lượng người nước ngoài tham gia vào hoạt động quản lý

Về thuế, Thái Lan dành nhiều ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài Thuế doanh lợi là 30% đối với sáp nhập và mua lại bằng hình thức tài sản Còn đối với mua lại cổ phiếu, Thái Lan áp dụng thuế lũy tiến từ 5% - 37% đối với công dân Thái và 30% cho các công ty nội địa và 15% khấu trừ trước cho công dân và công ty nước ngoài

Thuế trước bạ là 0,5 % trên số bất động sản ( được miễn nếu như các điều kiện đặt ra được đáp ứng ) đối với hình thức đầu tư mua lại bằng tài sản và sáp nhập Và 0,1% giá bán ra hoặc giá trị cổ phiếu

đã trả ( tùy theo giá trị nào lớn hơn )

Hình thức đầu tư bằng cách mua lại cổ phiếu và sáp nhập được miễn thuế VAT, còn mua lại tài sản chỉ bị đánh 7% trên bất động sản và được miễn nếu chuyển nhượng toàn bộ công ty

Về vấn đề người lao động, Thái Lan quy định tất cả người lao động phải đồng ý với bản kế hoạch nhân sự do bên mua đưa ra Bản kế hoạch đó phải đảm bảo được quyền lợi của người lao động Đối với những người xin thôi việc, công ty phải đền bù cho họ theo quy định của luật lao động tùy theo thời gian làm việc cho công ty

2.3.3 Malaysia

Mặc dù, luôn chào đón các nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính phủ Malaysia vẫn cố gắng tăng tỷ lệ sở hữu của công dân Malaysia và Bumiputra (người Malaysia bản địa ) ở các công ty bị M&A Với mục đích đó, Malaysia luôn đảm bảo rằng tỷ lệ sở hữu trong nền kinh tế Malaysia theo tỷ lệ tối thiểu là 30% sở hữu thuộc về Bumiputra, 40% thuộc về người Malaysia khác và tối đa 30% thuộc về người nước ngoài

Đối với hình thức đầu tư mua lại cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài phải xin phép Cục đầu tư nước ngoài nếu như mua mua lại hơn 15% cổ phiếu của công ty nội địa hoặc mua cổ phiếu với tổng giá trị hơn 10 triệu ringgit Malaysia ( RM 10.000.000) Đối với hình thức đầu

tư mua lại tài sản, nhà đầu tư nước ngoài cũng phải xin phép cục đầu tư nước ngoài và chỉ được phép mua tài sản có giá trị lớn hơn 150.000 Ringgít Malaysia, đồng thời không bị giới hạn số tài sản được mua

Về vấn đề người lao động, trước khi tiến hành M&A thì nhà đầu tư nước ngoài không cần phải lấy ý kiến người lao động Công ty mới chỉ cần đảm bảo sao cho người lao động vẫn giữ được các điều kiện làm việc như trước đây Các công ty phải cố gắng tuyển dụng và đào tạo người Malaysia sao cho họ có thể tham gia vào các vị trí trong công ty

Nói chung, Malaysia không có luật chống độc quyền áp dụng với tất cả các ngành Tuy nhiên, trong lĩnh vực truyền thông và viễn thông thì có luật về chống độc quyền theo đó

Ngày đăng: 12/02/2014, 10:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w