PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU I.1. Lý do chọn đề tài. Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động. Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh, trong khi đó thời gian đào tạo thì có hạn. Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời.... Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ dạy học trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Nghị quyết số 29NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”. Thực hiện bước chuyển này cần đổi mới đồng bộ các bộ phận hợp thành hệ thống giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng; đây chính là khâu có ảnh hưởng quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh làm được cái gì qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục. Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến. Việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện, song không thường xuyên và còn mang nặng tính hình thức vì thế tính hiệu quả khi sử dụng một số phương pháp còn nhiều hạn chế. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm rèn luyện các kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh chưa được thực sự quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy chưa được thực hiện rộng rãi (chủ yếu khi có giáo viên dự giờ). Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học theo đinh hướng phát triển năng lực người học là tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế của phương pháp dạy học hiện nay, góp phần vào đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Chương trình Sinh học THPT được biên soạn theo hướng nghiên cứu các đặc điểm của các cấp độ tổ chức sống từ thấp đến cao, trong đó phần sinh học cơ thể thuộc chương trình sinh học 11 bao gồm các kiến thức về các dấu hiệu của sự sống ở cấp độ cơ thể kèm theo đó là các hiện tượng thực tế rất gần gũi với học sinh, dễ gây hứng thú và kích thích sự khả năng khám phá, tìm tòi của học sinh. Các kiến thức phần này cũng giúp giáo viên có thể xây dựng bài dạy theo hướng tích hợp giáo dục giới tính, bảo vệ sức khỏe cơ thể. Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học trong dạy học chủ đề: Sinh sản ở động vật ở trường THPT.
Trang 1PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài.
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh, trong khi đó thời gian đào tạo thì có hạn Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời
Nghị quyết hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo nêu rõ: “tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ dạy học trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu
rõ quan điểm, chủ trương của Đảng “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Thực hiện bước chuyển này cần đổi mới đồng bộ các bộ phận hợp thành hệ thống giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa vô cùng quan trọng; đây chính là khâu có ảnh hưởng quyết định đến việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh làm được cái gì qua việc học Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục
Trong những năm học vừa qua, nhận thức của đội ngũ giáo viên về tính cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy học đã thay đổi và có nhiều chuyển biến Việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực đã được thực hiện, song không thường xuyên và còn mang nặng tính hình thức vì thế tính hiệu quả khi sử dụng một số phương pháp còn nhiều hạn chế Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức Việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực nhằm rèn luyện các kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh chưa được thực sự quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy chưa được thực hiện rộng rãi (chủ yếu khi có giáo viên dự giờ) Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học theo đinh hướng phát triển năng lực người học là tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế của phương pháp dạy học hiện nay,góp phần vào đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
Chương trình Sinh học THPT được biên soạn theo hướng nghiên cứu các đặc điểmcủa các cấp độ tổ chức sống từ thấp đến cao, trong đó phần sinh học cơ thể thuộc chươngtrình sinh học 11 bao gồm các kiến thức về các dấu hiệu của sự sống ở cấp độ cơ thể kèmtheo đó là các hiện tượng thực tế rất gần gũi với học sinh, dễ gây hứng thú và kích thích sự
Trang 2khả năng khám phá, tìm tòi của học sinh Các kiến thức phần này cũng giúp giáo viên cóthể xây dựng bài dạy theo hướng tích hợp giáo dục giới tính, bảo vệ sức khỏe cơ thể Vì
những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học trong dạy học chủ đề: Sinh sản ở động vật ở trường THPT” làm đối tượng
nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học của bản thân, từ đó đóng góp một phần nhỏ
bé vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện của ngành giáo dục nước nhà
I.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
- Tìm hiểu, nghiên cứu quy trình xây dựng một chủ đề dạy học trong Sinh học
- Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề cốt lõi trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
- Vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học chủ đề: Sinh sản ở động vật
I.3 Đối tượng nghiên cứu.
Trong phạm vi đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dụng chương trình sinh học 11để xây dựng các nội dung của chủ đề
: Sinh sản ở động vật.
- Nghiên cứu, vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế các hoạt động dạy học phù hợp nhằm định hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 11-
trường THPT Trường Chinh trong dạy học chủ đề: Sinh sản ở động vật Từ đó đưa ra những
cách tiếp cận, giảng dạy có hiệu quả làm tiền đề áp dụng rộng rãi hơn cho những năm sau
I.4 Giới hạn của đề tài.
Đề tài được thực nghiệm đối với học Sinh lớp 11 - Trường THPT Trường Chinh – Huyện Ea H’Leo – Tỉnh Đăk Lăk
I.5 Phương pháp nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước , của Bộ GD- ĐT, các tài liệu có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
- Nghiên cứu nội dung chương trình Sinh học lớp 11 THPT để xây dựng nội dungcủa chủ đề nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Quan sát sư phạm : dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh
- Điều tra khảo sát việc thực trạng dạy và học sinh học phổ thông và thực tế hiệu quả của việc vận dụng dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học trong dạy học môn Sinh học
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG II.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Trang 31 Khái niệm năng lực, chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học:
1.1 Khái niệm năng lực.
Khái niệm năng lực được hiểu dưới những góc độ khác nhau:
Theo từ điển Tiếng việt “năng lực” là “”khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên
sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” Từ điển Tâm lí học ghi rõ “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là từ điển bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định” {30, tr.13}
Nghiên cứu về cơ sở tâm lí giáo dục, tôi nhận thấy rằng, năng lực của học sinh là tổ hợp những thuộc tính, khả năng và giá trị cơ bản được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả Hay cụ thể hơn, năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với một hoạt động nhất định, đó là sự kết hợp một cách linh hoạt giữa kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ…nhằm đáp ứng yêu cầu của một hoạt
động nào đó trong một bối cảnh nhất định Dự thảo chương trình giáo dục phổ Chương trình tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo (tháng 4/2017), năng lực được hiểu “là
thông-thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cụ thể” {3, tr.15}
Như vậy, năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân có được, cá nhân thể hiện ra khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định; là khả năng con người huy động mọi nguồn lực(gồm những tố chất sẵn có, kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) để thực hiện thành công một hoạt động nào đó trong một bối cảnh nhất định.
1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực.
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra) được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Vì vậy phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học không chỉ chú trọng tích cực hóa hoạt động nhận thức
mà còn chú ý rèn luyện kĩ năng, năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống khác nhau của cuộc sống thực tiễn Bởi vì năng lực sẽ rất khó hình thành và phát triển nếu chỉ bằng con đường truyền giảng thụ động một chiều; kiến thức có thể được tiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ được kiến thức, biết vận dụng kiến thức đó khi được trải nghiệm qua hoạt động Đổi mới phương pháp dạy học để giúp người học không chỉ biết học, hiểu, ghi nhớ kiến thức mà quan trọng hơn phải biết cách học, cách sử dụng những tri thức đã học để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên-học sinh theo hướng hợp tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực cá nhân Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng
lực người học sẽ làm gia tăng mức độ hoạt động, sự tương tác giữa học sinh với giáo viên
và giữa học sinh với nhau trong giờ học Sinh học.
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập của học sinh được thể hiện rõ ở hoạt động,
ở sự tương tác giữa các cá nhân trong quá trình dạy và học Mỗi một hoạt động, tương tác của học sinh đều được hình thành và phát triển một năng lực nhất định Sự tương tác giữa hoạt động cá nhân và phát triển năng lực tỉ lệ thuận với nhau Thông qua mức độ hoạt động của cá nhân học sinh thể hiện rõ học sinh có phát huy và tận dụng được vai trò trung tâm vàhoạt động dạy học Đây là yếu tố kiểm tra năng lực của học sinh, có một số năng lực được hình thành và phát triển qua hoạt động tương tác như năng lực hợp tác, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy,…Như vậy, khác với chương trình dạy học theo định hướng nội dung, chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
Trang 4tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản phẩm cuối cùng” của quá trìnhdạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.
Khảo sát thực tế giảng dạy môn Sinh học tại trường THPT, tôi nhận thấy rằng có sự khác biệt giữa dạy học theo định hướng nội dung và dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học Sự khác biệt đó cũng chính là ưu điểm của dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học so với dạy học theo định hướng nội dung, sự khác biệt đó được thể hiện như sau:
-Mô tả chi tiết, có thể quan sát và đánh giá được
-Tự tìm hiểu của mình học sinh tích lũy được kiến thức, năng lực
Nội dung dạy
-Chỉ quy định những nội dung chính không quy định chi tiết
-Sắp xếp theo cấu trúc lĩnh vực học tập môn học, năng lực cần hình thành trong hoạt động giáo dục
Vai trò của
giáo viên Giáo viên là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học
– Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hướng dẫn
– Là người thúc đẩy và hỗ trợ, học sinh tích cực, tự lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng
-Không quan trọng học sinh có vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề, tình huống thực tiễn, có tính phức hợp
-Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực Có sự tương tác giữa học sinh và giáo viên, giữa học sinh với nhau
-Khuyến khích học sinh tự lực nghiên cứu, tìm tòi khám phá, lập luận và giảiquyết vấn đề, tình huống thực tiễn
-Chủ động chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực.-Độc lập, trách nhiệm và tự giám sát
-Vận dụng (nếu có) một cách máy móccác tình huống thực tiễn
-Chủ động khám phá và tiếp cận tri thức từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
-Vận dụng kiến thức và giải quyết vấn
đề, tình huống trong thực tiễn một
Trang 5Tiêu trí đánh giá dựa vào năng lực đầu
ra, có tiến đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
2 Các năng lực trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói chung và dạy
học Sinh học nói riêng.
2.2 Các năng lực chuyên biệt trong môn Sinh học:
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, chuyên biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như toán học, địa lý, lịch sử…Năng lực ở bộ môn sin học, theo nghiên cứu đề xuất của trường Đại học Victoria (ÚC) thì bao gồm có 4 nhóm năng lực chính: Năng lực kiến thức về Sinh học, năng lực nghiên cứu, năng lực thực địa và năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm
3 Hai vấn đề cốt lõi trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực
3.1 Đổi mới phương pháp dạy, hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
Phương pháp dạy học (PPDH) theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn vớinhững tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.Theo tôi để phát triển năng lực của học sinh trong dạy học sinh học, giáo viên có thể thực hiện các biện pháp sau:
- Cải tiến các phương pháp dạy học (PPDH) truyền thống: Đổi mới PPDH không có
nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống Cần sử dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, phù hợp vì phương pháp dạy học truyền thống không phải lúc nào cũng hạn chế, phương pháp mới cũng không phải lúc nào cũng tốt Làm sao để học sinh tự mình làm chủ kiến thức, tự ghi bài theo hướng dẫn của giáo viên
Để có thể phát triển năng lực học sinh, giáo viên cần chú ý đến hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh đi từ dễ đến khó, hạn chế hỏi học sinh những câu hỏi đúng hay sai Nếu có hỏi dạng này, giáo viên cần yêu cầu học sinh giải thích tại sao đúng, tại sao không? Giáo viên nên tăng cường những câu hỏi dạng hiểu, vận dụng
- Kết hợp đa dạng các PPDH : Phương pháp dạy học là cách thức giáo viên hướng dẫn học sinh tìm kiến thức Nếu giáo viên chỉ chọn một PPDH nhất định nào đó thì sẽ không mang lại hiệu quả cao trong dạy học Vì vậy, đòi hỏi cần phải kết hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học để phát huy tính tích cựcchủ động của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học
Trang 6Tùy vào nội dung của bài học, giáo viên lựa chọn PPDH phù hợp; tùy vào cách đặt câu hỏi, nội dung của câu hỏi, giáo viên có thể cho từng cá nhân trả lời trực tiếp, hay cho học sinh thảo luận nhóm trả lời câu hỏi trong phiếu học tập với thời gian qui định (theo nhóm 2 học sinh hay nhóm lớn có nhiều học sinh).
+ Dạy học giải quyết vấn đề : Dạy học giải quyết vấn đề có nghĩa là giáo viên giới thiệu 1 tình huống có vấn đề hoặc cho 1 bài tập có vấn đề, tạo sự mâu thuẫn giữa kiến thức
cũ với kiến thức mới để kích thích học sinh phải tư duy tìm ra đáp án, giải thích tại sao lại xảy ra như vậy
+Dạy học theo chủ đề : Dạy học theo chủ đề là quan điểm dạy học gắn lý thuyết với thực tiễn, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Dạy học theo chủ đề bao gồm dạy học theo chủ
đề đơn môn hoặc dạy học theo chủ đề liên môn
Dạy học theo chủ đề đơn môn có nghĩa là giáo viên hệ thống kiến thức lại thành những chủ đề riêng biệt, các chủ đề này có thể nằm trong chương trình một khối lớp, hai khối lớp hoặc ba khối lớp Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận
và báo cáo các chủ để của mỗi nhóm, giáo viên nhận xét và bổ sung kiến thức Ví dụ sinh học 12, giáo viên có thể sắp xếp mỗi chương là 1 chủ đề để dạy
Dạy học theo chủ đề liên môn có nghĩa là giáo viên có thể hệ thống kiến thức lại thành những chủ đề riêng biệt, có nội dung kiến thức liên quan đến 2 môn hoặc 3 môn Các chủ đề này có nội dung kiến thức nằm trong chương trình 1 khối lớp, 2 khối lớp hoặc 3 khốilớp Giáo viên có thể chia nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm thảo luận và báo cáo các chủ để chủa mỗi nhóm, giáo viên nhận xét và bổ sung kiến thức
Qua việc dạy học theo chủ đề, học sinh có thể vận dụng kiến thức học được ở 1 môn,
2 môn hoặc 3 môn để giải quyết những tình huống trong thực tiễn trong cuộc sống
Ví dụ, giáo viên sắp xếp kiến thức môn Sinh học thành những chủ đề có liên quan
đến những môn học khác (như Vật lí, Hóa học, ) như chủ đề đột biến nhiễm sắc thể, đột biến gen, gen, prôtêin,
+ Dạy học theo dự án: Dạy học theo dự án là hình thức dạy học mà học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Mỗi nhóm cùng nhau thảo luận tìm kiếm thông tin, hình ảnh, số liệu,… tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập mà giáo viên phân công Mỗi nhóm có tạo ra các sản phẩm có thể công bố sản phẩm
Trong dạy học theo dự án, có thể vận dụng nhiều nguyên lý và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo,…
Ví dụ, khi dạy bài 46 sinh học 12, giáo viên có thể cho mỗi nhóm hoàn thành 1 chủ
đề (như tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước khí,.) ở địa phương mà các em đang sinh sống, có tìm, số liệu minh chứng và báo cáo
- Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và CNTT hợp lý hỗ trợ dạy học: Môn Sinh học là một môn gắn lý thuyết với thực tiễn, vì vậy phương tiện dạy học có vai trò quantrọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học Nhằm tăng cường tính tích cực và trải nghiệm sáng tạo của học sinh, các phương tiện trực quan và thí nghiệm, thực hành có ý nghĩa rất quan trọng
Phương tiện dạy học sinh học rất đa dạng, giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh, sơ đồ, biểu
đồ, mẫu vật thật như cây, con, hoặc kết hợp các phương tiện công nghệ thông tin như video, trình chiếu, e-learning, trường học kết nối, Bằng cách riêng, giáo viên có thể đặt câuhỏi gợi mở giúp học sinh khai thác kiến thức từ những phương tiện hoặc công nghệ thông tin trong dạy học
Ví dụ, để dạy nội dung kiến thức về cấu tạo hoa trong sinh sản hữu tính ở thực vật,
giáo viên có thể đưa mâu vật là 1 cành hoa hoặc chiếu hình ảnh 1 cành hoa Giáo viên đặt
Trang 7câu hỏi giúp học sinh gợi mở để rút ra nội dung kiến thức về cơ quan sinh sản đực và cái của hoa.
- Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học: Sơ đồ tư duy trong dạy học môn Sinh học là một trong những hình thức dạy học giúp học sinh có thể hệ thống được kiến thức môn sinh học 1 cách tổng thể và vận dụng kiến thức môn học 1 cách linh hoạt để giải các đề thi
Ví dụ, để dạy nội kiến thức phần biến dị trong chương trình sinh học 12, giáo viên có
thể đưa sơ đồ tư duy giúp học sinh hệ thống kiến thức, hiểu và vận dụng kiến thức tốt hơn
- Sử dụng thí nghiệm, thực hành: Thí nghiệm, thực hành trong dạy học môn Sinh học là 1 phương pháp dạy học có thể phát triển năng lực của học sinh, giúp học sinh chủ động tìm kiến thức và vận dụng kiến thức linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống
Ví dụ, để dạy kiến thức khuếch tán trong chương trình Sinh học 10, 11, giáo viên có
thể đưa ví dụ hoặc làm thí nghiệm, yêu cầu học sinh rút ra đặc điểm cơ bản của khuếch tán
và vận dụng nó linh hoạt đời sống hàng ngày như rửa rau, trái cây,
3.2 Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tập trung vào các hướng sau:
- Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học sang đánh giátoàn quá trình học, đánh giá của giáo viên dạy với tự đánh giá của người học
Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của người học Tức
là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực
tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo;
- Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt,
độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá
Với những xu hướng trên, đánh giá kết quả học tập các môn học, hoạt động giáo dục của học sinh ở mỗi lớp và sau cấp học trong bối cảnh hiện nay cần phải:
- Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của học sinh của cấp học
- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của giáo viên và
tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng
- Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này
- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học
II.2 THỰC TRẠNG
Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, tôi đã tiến hành điều tra thực trạng dạy họcSinh học theo định hướng phát triển năng lực của GV và khảo sát năng lực của học sinhđược hình thành trong dạy học môn Sinh học, kết quả tôi thu được như sau:
1 Về phía giáo viên:
Qua việc dự giờ và tham khảo giáo án của các đồng nghiệp trong và ngoài trường vềviệc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lựccủa người học tôi nhận thấy: Thực tế trong những năm qua, việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành công bước đầu Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học Tuy nhiên, hiệu quả của việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, năng lực tự học của học sinh còn nhiều hạn chế
Trang 8Phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học môn Sinh học nói riêng vẫn đang nặng về truyền thụ tri thức một chiều, chưa chú ý nhiều đến việc rèn luyện tính tích cực trong hoạt động nhận thức, tính độc lập, sáng tạo cũng như khả năng vận dụng những kiến thức đó trong đời sống thực tiễn Phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là giáo viên đóng vai trò chính trong việc truyền thụ tri thức cho học sinh, chủ yếu nặng về thuyết trình, thông báo dẫn đến học sinh tiếp thu tri thức một cách thụ động Các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh cũng như việc rèn luyện phương pháp tự học ít được chú trọng Phương pháp dạy học nói trên đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập của học sinh Nhìn chung việc học của các em còn mang tính thời vụ, nặng về đối phó với các kì thi, mong sớm đỗ đạt để có bằng cấp mà ít chú ý đến việc phát triển năng lực của bản thân Trước áp lực của kì thi THPT Quốc gia, một số trường đầu tư rất nhiều thời gian công sức vào cho học sinh ôn tập, tập trung luyện thi để đối phó với thi cử mong đạt được kết quả cao đang diễn ra phổ biến Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học theo đinh hướng phát triển năng lực người học là tất yếu nhằm khắc phục những hạn chế của
phương pháp dạy học hiện nay, góp phần vào đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
Về đổi mới trong kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học trường THPT Trường Chinh đã có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn còn một số hạn chếsau:
- Việc kiểm tra, đánh giá vẫn chỉ chú trọng đến đánh giá kết quả cuối kỳ học mà chưa chú trọng đến việc đánh giá thường xuyên trong quá trình học
- Quá trình đánh giá và kết quả đánh giá hoàn toàn là do giáo viên, chưa có sự kết hợp giữa đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh
- Câu hỏi trong các đề kiểm tra còn nặng về kiểm tra ghi nhớ, tái hiện kiến thức, học thuộc máy móc, chưa có nhiều câu hỏi theo hướng mở, gắn với thực tế cuộc sống, các câu hỏi đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn của học sinh
2 Về phía học sinh:
Quan sát các tiết dạy của đồng nghiệp trong và ngoài trường khi đi dự giờ, tôi nhậnthấy:
- Không khí học tập không sôi nổi, các em chỉ thụ động ngồi nghe, ghi chép, không
tự tin khi vận dụng các kiến thức đã học
- Trong các hoạt động nhóm giáo viên tổ chức chỉ có một vài cá nhân tham gia tíchcực
- Các em ít có cơ hội được đề xuất ý kiến của mình Chỉ trả lời khi giáo viên đặt câuhỏi
- Các câu hỏi liên quan đến các hiện tượng thực tiễn, cần sự vận dung kiến thức đãhọc thì phần lớn các em con rất lúng túng
Thực trạng trên cho thấy trong quá trình học, các em còn tiếp thu kiến thức một cáchthụ động, chưa tích cực trong các hoạt động học tập Vì thế đa số kiến thức các em có đượcđều mang tính chất học thuộc mà không hiểu bản chất nên khi vận dụng kiến thức để giảiquyết các tình huống trong thực tiễn thì kết quả không cao
Đối với học sinh hai lớp thực nghiệm, trước khi áp dụng đề tài tôi đã tiến hành khảosát bằng một đề kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực với các câu hỏi liên quan đếnnăng lực vận dụng, giải quyết các vấn đề của thực tiễn thì phần lớn các em đạt số điểm rấtthấp Chỉ một vài học sinh khá giỏi có thể làm được Cụ thể ở 2 lớp thực nghiệm là 11 A1(37 HS), 11A7(35 HS), kết quả thu được như sau:
2 < điểm ≤ 5 5< điểm ≤6,5 6,5 < điểm ≤8 điểm > 8
Trang 9Thực trạng trên chính là cơ sở thực tiễn, giúp tôi mạnh dạn nghiên cứu vận dụng các
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học trong chủ đề: Sinh sản
ở động vật.
II.3 GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP.
1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
- Nghiên cứu nội dụng chương trình sinh học 11 để xây dựng các nội dung của chủ
đề : Sinh sản ở động vật.
- Nghiên cứu, vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế các hoạt động dạy học phù hợp nhằm định hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 10-
trường THPT Trường Chinh trong dạy học chủ đề: Sinh sản ở động vật.
2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
2.1 Quy trình xây dựng chủ đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học trong bộ môn Sinh học
a Bước 1: Xác định vấn đề cần giải quyết trong chủ đề dạy học.
Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa của môn học, tổ/nhóm chuyên môn xác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện một số bài/tiết hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một chuyên đề dạy học đơn môn Tùy nội dung kiến thức, điều kiện thực tế của nhà trường, địa phương; năng lực của giáo viên và học sinh, có thể xác định một trong các mức độ sau:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện vàxác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thiết, giải pháp và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình và cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến của giáo viên khi kết thúc
Ví dụ: Theo sách giáo khoa Sinh học 11, nội dung các bài 44, 45, 46, 47 đề cập đến
sinh sản ở động vật vì vậy ta có thể xây dựng các bài học này thành chủ đề: Sinh sản ở động vật để học sinh có cái nhìn khái quát và logic về quá trình sinh sản ở các loài động vật,
sự phù hợp giữa các hình thức sinh sản với cấu tạo cơ thể và môi trường sống của động vật, giúp chúng có thể tồn tại và phát triển Dạy học theo chủ đề này cũng giúp học sinh dễ dàngphân biệt sinh sản vô tính và hữu tính, thụ tinh trong thụ tinh ngoài, đẻ con và đẻ trứng., đồng thời học sinh cũng biết được quá trình sinh sản ở động vật chịu sử kiểm soát của các yếu tố trong và ngoài cơ thể, và từ các hiểu biết về sinh sản ở động vật học sinh có thể đề
Trang 10xuất các biện phát điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người Mặt khác,
nếu tổ chức dạy học nội dung các bài học thành chủ đề: Sinh sản ở động vật thì sẽ có nhiều
cơ hội phát huy tính tích cực trong nhận thức và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập bộ môn Sinh học
b Bước 2: Xây dựng nội dung chủ đề bài học:
Căn cứ vào tiến trình của phương pháp dạy học tích cực được sử dụng để tổ chức hoạt động học cho học sinh, từ tình huống xuất phát đã xây dựng, dự kiến các nhiệm vụ họctập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của học sinh, từ đó xác định các
c Bước 3: Xác định mục tiêu bài học:
-Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, từ đó xác định các năng lực và phầm chất có thể hình thành cho học sinh trong chủ đề sẽ xây dựng
d Bước 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu: Gồm 4 mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận
dụng thấp, vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học
đ Bước 5: Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử
dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện tập theo chủ đề đã xây dựng
Ví dụ: Đối chủ đề: “Sinh sản ở động vật ” việc kiểm tra, đánh giá như sau:
- Đánh giá bằng nhận xét: Thông qua quan sát, trao đổi và các sản phẩm học tập của học sinh, giáo viên có thể nhận xét, đánh giá được sự tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong học tập
- Đánh giá tính tích cực, tự lực của học sinh: Mức độ hăng hái tham gia phát biểu ý kiến của học sinh; Thái độ lắng nghe của học sinh khi giáo viên gợi ý, hướng dẫn; Mức độ hăng hái thảo luận nhóm của học sinh để giải quyết nhiệm vụ học tập; Khả năng tập trung,
tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập của mỗi cá nhân; Sự tiến bộ về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của học sinh sau mỗi tiết học, thể hiện từ chỗ giáo viên phải gợi ý từng bước để học sinh trả lời câu hỏi đến việc giáo viên chỉ đưa các nhiệm vụ hỗ trợ khi thực sự cần thiết;Khả năng ghi nhớ những điều đã học để có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữriêng và vận dụng được những kiến thức vào thực tiễn; Sự tự tin của học sinh khi trình bày, bảo vệ kết quả hoạt động của nhóm trước lớp một cách chặt chẽ, thuyết phục
-Đánh giá kết quả học tập của học sinh: Căn cứ vào mức độ yêu cầu của câu hỏi, bài tập được mô tả trong bảng ma trận, giáo viên có thể xây dựng các câu hỏi, bài tập tương ứng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
e Bước 6: Thiết kế tiến trình dạy học: Tiến trình dạy học theo định hướng phát triển năng
lực học sinh gồm 5 hoạt động cơ bản sau:
Chủ đề gồm các bài trong chương IV, phần bốn: Sinh học cơ thể - Sinh học 11- THPT:
- Bài 44: Sinh sản vô tính ở động vật
- Bài 45: Sinh sản hữu tính ở động vật
Trang 11- Bài 46: Cơ chế diều hòa sinh sản.
- Bài 47: Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người
2 Mạch kiến thức của chủ đề.
Chủ đề : Sinh sản ở động vật gồm các nội dung sau:
1 Sinh sản vô tính ở đông vật
3 Cơ chế điều hòa sinh sản
3.1 Cơ chế diều hòa sinh tinh và sinh trứng
3.2 Ảnh hưởng của thần kinh và môi trường đến quá trình sinh tinh và sinh trứng
4 Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người
3 Thời lượng
- Số tiết học trên lớp: 4 tiết, thời điểm dạy chủ đề học kỳ II- Lớp 11.
- Kế hoạch thực hiện chủ đề như sau:
Thời gian Nội dung thực hiện
Tiết 1 Tìm hiểu các hình thức sinh sản ở động vật
Tiết 2 Tìm hiểu quá trình sinh sản hữu tính và ứng dụng sinh sản vô tính
Tiết 3 Tìm hiểu các cơ chế điều hòa sinh sản
Tiết 4 Tìm hiểu các biện pháp điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở
- Liệt kê được các hình thức sinh sản vô tính ở động vật
- Nêu được các giai đoạn của sinh sản hữu tính
- Nêu được ưu điểm của đẻ trứng so với đẻ con, ưu điểm của thụ tinh trong so với thụ tinh ngoài
-Nêu được các ứng dụng của sinh sản vô tính ở động vật trong thực tiễn
- Trình bày được cơ chế điều hòa sinh tinh và sinh trứng băng hoocmon, thần kinh và thể dịch
- Nêu được các biện pháp điều khiển sinh sản ở động vật và các biện pháp giúp sinh đẻ có
kế hoạch ở người
- Hiểu được ưu, nhược điểm của sinh sản vô tính và hữu tính
- Phân tích được chiều hướng tiến hóa trong sinh sản của động vật
- Vận dụng kiến thức giải thích các vấn đề thực tiễn như : cơ sở khoa học của nuối mô sống,nhân bản vô tính, điều khiến sinh sản của vật nuôi, sinh đẻ có kế hoạch
* Về kỹ năng.
- Phát triển kĩ năng quan sát tìm tòi phát hiện kiến thức: Quan sát tranh, mẫu vật
Trang 12- Phát triển kĩ năng so sánh thông qua việc so sánh sinh sản vô tính và hữu tính, thụ tinh trong và tụ tinh ngoài.
- Phát triển kĩ năng phân tích tổng hợp thông qua việc phân tích các ưu điểm và nhược điểmcủa các hình thức sinh sản, thụ tinh, đẻ trứng và đẻ con
- Phát triển kĩ năng làm việc nhóm, tìm kiếm và phân tích tài liệu
* Về thái độ.
- Giáo dục cho học sinh thế giới quan khoa học sự thích nghi của các hình thức sinh sản củađộng với với điều kiện thay đổi của môi trường Cơ sở khoa học của nuôi mô sống và nhân bản vô tính,
- Giáo dục cho học sinh những kiến thức về giưới tính, giúp các em biết tự bảo vệ mình và bạn bè
* Định hướng phát triển năng lực trong chủ đề.
a Nhóm năng lực chung
STT Năng lực Các kỹ năng thành phần
1 Năng lực hợp tác Hợp tác cùng thảo luận nhiệm vụ của nhóm
2 Năng lực giải quyết
tình huống Vận dụng kiến thức giải quyết các tình huống do giáo viên đưa ra.
3 Năng lực sử dụng
ngôn ngữ
- Phát triển ngôn ngữ nói thông qua: Thuyết trình sản phẩm phiếu học tập
-Phát triển ngôn ngữ viết thông qua : Phiếu học tập
4 Năng lực tự học Nghiên cứu SGK, kênh hình, Video đế khái quát kiến thức
b Năng lực chuyên biệt
STT Năng lực Các kỹ năng
1 Năng lực xử lý
thông tin Thông qua thông tin về kênh hình, kênh chữ để xác định nội dung kiến thức liên quan đến các hình thức sinh sản vô tính, các
bước trong quá trình sinh sản hữu tính ở động vât., cơ chế điều hòa sinh trứng, sinh tinh., Các biện pháp tránh thai ở người
bố mẹ có nhiều đặc điểm giống nhau hơn cá thế khác bố mẹ, nhưng vẫn có rất nhiều điểm khác nhau Vì sao phụ nữ dùng viêntránh thai có thể mang thai ngoài ý muốn, tác hại của sinh đẻ không kế hoạch Đặc biệt là nạo phá thai
3 Năng lực tư duy Phát triển tư duy phân tích so sánh thông qua việc so sánh ưu
nhược điểm của sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính, ưu nhược điểm của hình thức đẻ trứng đẻ con, thụ tinh trong và thụ tinh ngoài
2 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Trang 132 Nẩy chồi Một phần cơ thể phát triển hơn các vùng lân cận, tạo
thành cơ thể mới Cơ thể con có thể sống bám trên
cơ thể mẹ hoặc tách ra độc lập
Ruột khoang, bọt biển
3 Phân mảnh Cơ thể mẹ tách thành nhiều phần nhỏ, mỗi phần phát
triển thành một cơ thể mới
Giun dẹp, bọt biển
4 Trinh Sinh - Giao tử cái không qua thụ tinh phát triển thành cơ
thể đơn bội (n)
- Thường xen kẽ với SS hữu tính
Ong, kiến, rệp, mối.Một số loài cá, bò sát, lưỡng cư
Phiếu học tập số 2: Tìm hiểu quá trình sinh sản hữu tính ở
Qúa trình tạo giao tử
Quá trình thụ tinh
Qúa trình phát triển phôi
Đáp án phiếu học tập số 2
Qúa trình tạo giao tử - 1 tế bào sinh dục cái tạo 1 trứng
- 1 tế bào sinh dục đực tạo 4 tinh trùng
Quá trình thụ tinh Tinh trùng và trứng có thể gặp nhau trong cơ thể con cái (thụ tinh
trong- vd ở gà, người ) hoặc ngoài môi trường ( thụ tinh
ngoài-vd ở ếch nhái)Qúa trình phát triển phôi Phôi có thể phát triển trong trứng nhờ vào noãn hoàng (đẻ trứng)
hoặc phát triển trong cơ thể người mẹ nhờ chất dinh dưỡng qua
nhau thai (đẻ con)
Phiếu học tập số 3: Tìm hiểu ưu- nhược điểm của sinh sản hữu tính và vô tính:
Đọc thông tin sau:
1 Cá thể sống độc lập, đơn lẻ vẫn có thể tạo ra con cháu Vì vậy, có lợi trong trường hợp mật độ quần thể thấp.
2 Không có lợi trong trường hợp mật độ quần thể thấp.
3 Tạo ra các cá thể thích nghi tốt với môi trường sống ổn định, ít biến động, nhờ vậy quần thể phát triển nhanh.
4 Tạo ra các cá thể mới đa dạng về mặt di truyền, vì vậy động vật thích nghi và phát triển tốt trong điều kiện sống thay đổi.
5 Tạo ra thế hệ con cháu giống nhau về mặt di truyền, vì vậy khi điều kiện sống thay đổi, có thể dẫn đến hàng loạt cá thể bị chết.
Trang 146 Tạo ra số lượng lớn con cháu giống nhau trong một thời gian ngắn.
Từ thông trên hãy ghi lại các ưu điểm và hạn chế của sinh sản vô tính vào bảng sau:
Vô Tính
Hữu tính
Đáp án phiếu học tập số 3 Hình thức
sinh sản
Vô Tính + Cá thể sống độc lập, đơn lẻ vẫn có thể tạo ra
con cháu Vì vậy, có lợi trong trường hợp mật
độ quần thể thấp
+ Tạo ra các cá thể thích nghi tốt với môi trường sống ổn định, ít biến động, nhờ vậy quần thể phát triển nhanh
+ Tạo ra số lượng lớn con cháu giống nhau trong một thời gian ngắn
+ Tạo ra thế hệ con cháu giống nhau về mặt di truyền, vì vậy khi điều kiện sống thay đổi, có thể dẫn đến hàng loạt cá thể bị chết
Hữu tính + Tạo ra các cá thể mới đa dạng về mặt di
truyền, vì vậy động vật thích nghi và phát triển tốt trong điều kiện sống thay đổi
+ Không có lợi trong trường hợp mật độ quần thể thấp
Phiếu học tập số 4 : Tìm hiểu về cừu DOLLY
Dolly là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài của Viện Roslin dưới sự tài trợ của
Chính phủ Anh Việc tạo ra Dolly sử dụng công nghệ chuyển nhân tế bào soma, trong đó
Trang 15nhân tế bào từ một tế bào trưởng thành (lấy từ một con cừu cái giống cừu Dorset Phần Lan Finnish Dorset) được chuyển sang một tế bào trứng đang phát triển đã bị lấy mất nhân- lấy
-từ một con cừu cái giống Blackface) Tế bào lai sau đó được kích thích phân chia bằng phương pháp sốc điện và phát triển sang dạng phôi bào rồi được cấy vào tử cung của một con cừu thứ ba Sau khi được sinh ra, Dolly giống hệt mẹ Finnish Dorset
Cừu Dolly đã từng sống như những con cừu cái bình thường, 2 lần đẻ con Nhưng hiện tượng láo hóa sớm đã được phát hiện ở Dolly Đầu năm 2012 Dolly bị mắc chứng viêm khớp, sau đó là viêm phổi nặng (Những bệnh gặp ở những con cừu già ) Ngày 14/ 03/ 2003Dolly đi vào giấc nhủ vĩnh viến Vậy là tuổi thọ của Dolly chưa đầy 7 năm, trong khi nhữngcon cừu bình thường có thể sống 11- 12 năm Sự ra đi của cưu Dolly chắc chắn sẽ mở ra những hướng đi mới cho việc nhân bản vô tính ở động vật
Hãy đọc thông tin và trả lời các câu hỏi sau:
1 Cừu Dolly được sinh ra nhờ phương thức sinh sản nào?
2 Vẽ quy trình tạo cừu Dolly
3 Cừu Dolly có mấy bà mẹ? Vì sao Dolly giống hệt bà mẹ cho nhân tế bào xoma?
4 Hãy phân tích vì sao các quốc gia cấm nhân bản vô tính ở người?
5 Hãy dự đoán ứng dụng nhân bản vô tính ở động vật trong kỉ nguyên mới?
Phiếu học tập số 5: Tìm hiểu cơ chế điều hòa sinh tinh và sinh trứng.
LH Tuyến yên Kích thích tế bào kẽ tiết ra Testosteron Làm trứng chín, rụng và tạo thể vàng.Testosteron
Tinh hoàn Kích thích phát triển ống sinh
tinh và sản sinh tinh trùngƠstrogen và
Prôgesteron Thể vàng Làm niêm mạc tử cung phát triển dày lên
Trang 16Phiếu học tập số 6: Tìm hiểu một số biện pháp điều khiển sinh sản ở động vật.
Biện pháp điều khiển sinh sản ở động vật Tác dụng
Biện pháp làm
thay đổi số con 1 Sử dụng hoocmon
2 Thay đổi môi trường
3 Nuôi cấy phôi
4 Thụ tinh nhân tạo
1 Sử dụng hoocmon Kích thích trứng chín hàng loạt, rụng nhiều trứng Sử
dụng trứng để thụ tinh nhân tạo
2 Thay đổi môi trường Tăng số trứng/ngày
3 Nuôi cấy phôi -Tăng nhanh số lượng các động vật quý hiếm (động
vật đơn thai)
- Giải quyết được các vấn đề sinh sản ở một số phụ nữ
vô sinh
4 Thụ tinh nhân tạo - Tăng hiệu quả thụ tinh
- Sử dụng hiệu quả các con đực tốt
+ Bước 1: Giáo viên thành lập 4 nhóm học tập trong lớp
Nhóm 1: Tìm hiểu về cách thức sinh sản của trùng biến hình, thủy tức và hoàn thành dòng
1, 2 của phiếu học tập số 1
Nhóm 2: Tìm hiểu quá trình sinh sản ở giun dẹp, ong, kiến, mối và hoàn thành dòng 3, 4
của phiếu học tập số 1
Nhóm 3: Tìm hiểu quá trình sinh sản ở gà và hoàn thành phiếu học tập số 2
Nhóm 4: Tìm hiểu quá trình sinh sản ở ếch nhái và hoàn thành phiếu học tập số 2
Các nhóm được thành lập ở hai lớp thực nghiệm chọn theo 2 cách sau:
+ Lớp 11A1: Các nhóm được thành lập theo tổ Mỗi tổ là một nhóm
+ Lớp 11A7: Các nhóm được thành lập bằng cách bốc thăm.(Gồm 4 loại thăm in hình các đối tượng động vật, những học sinh bôc loại thăm giống nhau ở chung 1 nhóm)
Trang 17+ Bước 2: Các nhóm sau khi được thành lập sẽ tự bầu trưởng nhóm, thư kí, tự lên kế hoạch nghiên cứu tìm hiểu nội dung, tổ chức thực hiện dựa vào các tài liệu như: sgk, mạng
Internet, tư vấn của giáo viên
+ Bước 3: Ngoài việc cùng tìm hiểu các nội dung liên quan đến nhiệm vụ của nhóm mình, các nhóm cũng thảo luận để đưa ra các câu hỏi cho các nhóm khác hoặc giáo viên của mình.+ Bước 4: Giáo viên hướng dẫn, kiểm tra tiến độ làm việc của các nhóm qua facebook,
email…Bài báo cáo sẽ được trình bày dưới dạng power point hoặc tranh ảnh trên giấy A0
* Chuẩn bị của học sinh
- Bút lông, nam châm
- Bài báo cáo kết quả hoạt động của các nhóm kèm hình ảnh liên quan được trình bày dưới dạng power point hoặc trên giấy A0
Bước 4: Mô tả các mức độ nhận thức và định hướng năng lực được hình thành theo chủ đề
1 Bảng ma trận kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực:
ở động vật
- Nêu được các hình thức sinh sản vô tính ở động vật
- Nêu được ý nghĩa của việc cấy ghép mô
- Mô tả được quy trình nhân bản vô tính cừu Dolly
- Giải thích được vì sao trinh sản là hình thức sinh sản vô tính đặc biệt
- Phân biệt sinh sản vô tính ở động vật và phân biệt chúng với hình thức tái sinh các bộ phận của
cơ thể
- Trình bày được ưu điểm, hạn chế của sinh sản vô tính và ý nghĩa của việc nuôi mô sống vànhân bản vô tính
- Lấy được ví dụ về nuôi mô sống
- Giải thích được vì sao cừu Dolly có 3
bà mẹ
- Giải thích được vì sao cừu Dolly có tuổi thọ thấp
- Giải thíchđược vì sao lại cấm nhânbản vô tính ởngười
- Dự đoán được triển vọng của kĩ thuật nuôi
mô sống và nhân bản vô tính trong tương lai
- Trình bày được
ưu điểm và hạn chế của sinh sản hữu tính
- Phân biệt được sinh sản
vô tính và hữu tính ở động vật
- Chứng minh được sinh sản hữu tính là phương thức sinh sản tiến hóa hơn vô tính
- Phân biệt được hai hìnhthức thụ tinh
- Giải thích được vì sao thụ tinh trong tiến hóa hơn thụ tinh ngoài
-Giải thích được vì sao
đẻ con tiến hóa hơn đẻ trứng
- Phân biệt được các hìnhthức sinh sản vô tính ở
Giải thích được một
số đặc điểm thích nghi của động vật với mỗi hình thức thụ tinh như: Cá, ếch đẻ nhiều trứng trong mùa sinh sản, công đực múa, khoe
mẽ bộ lông thu hút
sự chú ý của con cái