1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SƯU tầm một bản án sơ THẨM của tòa án LIÊN QUAN đến VIỆC THAY đổi mức bồi THƯỜNG THIỆT hại NGOÀI hợp mà THEO QUAN điểm của NHÓM các PHÁN QUYẾT đưa RA TRONG bản án đó CHƯA PHÙ hợp

13 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 37,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SƯU TẦM MỘT BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THAY ĐỔI MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP MÀ THEO QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM CÁC PHÁN QUYẾT ĐƯA RA TRONG BẢN ÁN ĐÓ CHƯA PHÙ HỢP. MỞ ĐẦU 3 NỘI DUNG 3 Câu 1: Tóm tắt vụ án 3 Câu 2: Những điểm chưa phù hợp trong bản án sơ thẩm: 4 Câu 3: Quan điểm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành: 7 Câu 4: Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành: 10 KẾT LUẬN 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 1

SƯU TẦM MỘT BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THAY ĐỔI MỨC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP MÀ THEO QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM CÁC PHÁN QUYẾT ĐƯA

RA TRONG BẢN ÁN ĐÓ CHƯA PHÙ HỢP.

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

Câu 1: Tóm tắt vụ án 3

Câu 2: Những điểm chưa phù hợp trong bản án sơ thẩm: 4

Câu 3: Quan điểm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành: 7

Câu 4: Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành: 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong luật dân

sự Theo quy định tại Điều 275 BLDS năm 2015 thì một trong những căn cứ làm

phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện "gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật" và tương

ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XX, Phần thứ ba Bộ luật dân sự

(BLDS) "trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" Sự kiện gây thiệt hại do

hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trong trường hợp này trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại Nhà làm luật trong trường

hợp này đã đồng nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với "nghĩa vụ

phát sinh do hành vi trái pháp luật" Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ

dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tái sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Trong đề tài lần này, nhóm sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bằng 1 bản án cụ thể

NỘI DUNG

Câu 1: Tóm tắt vụ án

Theo nội dung bản án số: 72/2018/DS-ST ngày 20/06/2018 “V/v Bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng” được xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau: Vào

khoảng 20 giờ 30 phút tối ngày 16/11/2017 chị Trần Thị Đ điều khiển xe biển số 69C1–370.97 chở cháu là Trần Văn M lưu thông trên Quốc lộ 1A hướng từ Bạc Liêu

về Cà mau Khi đến đoạn đường thuộc khóm 7, phường 6, thành phố Cà Mau, chị Đ điều khiển xe lấn qua lề bên trái theo chiều đi của mình và va chạm với xe mang biển

số 69C-033.52 do anh Huỳnh Văn A điều khiển đang đi chiều ngược lại Anh A khai mình có cho xe phanh lại nhưng không kịp nên sự cố đáng tiếc đã xảy ra Tai nạn xảy

ra làm chị Đ tử vong tại chỗ, cháu M bị thương nặng và hai xe bị hư hỏng nặng Anh Nguyễn Thanh C - chồng chị Đ khởi kiện anh Lê Văn R là chủ xe và anh Huỳnh Văn

A là tài xế lái xe phải liên đới bồi thường cho anh số tiền 225.600.000 đồng trong đó

Trang 4

tiền mai táng phí là 80.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 130.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng đối với Nguyễn Thanh H là con của chị Đ và anh là 650.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi

Qua xác minh điều tra, xe ô tô biển số 69C-033.52 được xác định là do anh R làm chủ Tuy nhiên vào thời điểm tai nạn xảy ra, anh đang đi công tác dài ngày và không có mặt ở hiện trường Trước đó anh đã giao xe cho anh A quản lý hộ trong thời gian vắng mặt và anh A có thể sử dụng xe vì A và R là chỗ thân thiết lâu năm Vào ngày 16/11/2017, anh A đã sử dụng xe để đi chở hàng từ Cái Đôi Vàm lên Tắc Vân

-Cà Mau và đã gây ra tai nạn như trên Sau tai nạn anh A cùng anh R đã hỗ trợ gia đình anh C số tiền lần lượt là 5.000.000 đồng và 7.000.000 đồng, việc giao tiền giữa hai bên không có giấy tờ, và hiện nay anh A và anh R cũng không có yêu cầu gì với

số tiền trên Từ các chứng cứ được cơ quan điều tra cung cấp thì lỗi là do chị Đ chạy

xe lấn qua phần đường của chiều ngược lại nên dẫn tới tai nạn, do đó anh R không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh C

Xét thấy qua thể hiện tại biên bản hiện trường và các chứng cứ có tại hồ sợ vụ

án, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh C về việc buộc anh R và anh A liên đới bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm số tiền là 225.600.000 đồng, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của anh Lê Văn R tiếp tục hỗ trợ cho anh Nguyễn Thanh C số tiền 10.000.000 đồng và anh R phải chịu mức án phí 500.000 đồng

Câu 2: Những điểm chưa phù hợp trong bản án sơ thẩm:

- Điểm chưa hợp lý thứ nhất :

“[3]Về trách nhiệm phải chịu thiệt hại xảy ra, xét thấy qua thể hiện tại Biên bản

hiện trường và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện tai nạn xảy ra là do bà Trần Thị Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69C1 – 370.97 lấn qua phần đường bên trái theo chiều đi của mình va quẹt với xe ô tô Biển số 69C – 033.52 do anh Huỳnh Văn

A điều khiển đi chiều ngược lại gây tai nạn giao thông, lỗi hoàn toàn là do phía chị

Trần Thị Đ Tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Người gây thiệt hại không

Trang 5

phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do

sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại ” Vì vậy hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C về việc buộc anh R và anh A liên đới bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm số tiền là 225.600.000 đồng”

Tại nhận định [3] của Tòa án, phần lỗi được xác định là hoàn toàn do phía chị Đ

gây ra Tuy nhiên, dựa vào lời khai của anh A, thời điểm xảy ra tai nạn là vào buổi tối Trong tình huống này, điều kiện ánh sáng không đảm bảo cùng với việc anh A đã phanh nhưng không kịp thể hiện anh A đang đi với tốc độ cao nên việc tòa nhận định tất cả phần lỗi thuộc về chị Đ là chưa hợp lý vì lỗi một phần cũng do anh A Khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong điều kiện thiếu ánh sáng, cụ thể vào buổi tối và ban đêm thì người điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải đi với tốc độ an toàn để tránh được những tình huống phát sinh xảy ra trong giao thông đường bộ Việc anh A đi với tốc độ nhanh dẫn đến việc khó có thể xử lí tình huống bất ngờ Nội dung bản án cho thấy anh A đã phanh nhưng không kịp thể hiện được việc xử lý tình huống của anh A ở trong vụ án là chưa hợp lý nên anh A cũng có lỗi trong vụ án Cùng với hạ tầng giao thông đường bộ hiện nay ở Việt Nam hầu như là

hệ thống hỗn hợp, người điều khiển xe máy thường có tâm lý vượt lấn làn do nóng vội hoặc lý do khách quan khác nên đòi hỏi người điều khiển ô tô phải quan sát, phán đoán tình huống để lựa chọn cho mình cách xử lý hợp lý trong mọi tình huống Việc anh A đi ở làn đường ngược chiều thì đã có thể thấy được việc chị Đ đang có dấu hiệu vượt lấn làn từ xa nên phải chọn cách giảm tốc độ để tránh được tình huống đáng tiếc xảy ra, nhưng thực tế trong vụ án đã có tình huống đáng tiếc xảy ra nên lỗi của A cũng một phần là do không quan sát để phán đoán đúng tình huống

Vậy nên việc tòa nhận định tất cả phần lỗi thuộc về chị Đ là chưa hợp lý vì những phân tích nêu trên đã thể hiện một phần lỗi thuộc về anh A

Căn cứ vào nhận định [3], Tòa án đã ra quyết định “Không chấp nhận toàn bộ

yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh C về việc yêu cầu anh Lê Văn R và anh Huỳnh Văn A bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm với số tiền 225.600.000 đồng” Tuy nhiên, nhóm không đồng tình với phán quyết này của Tòa án Mặc dù chị

Trang 6

Đ đã có một phần lỗi lớn trong việc không chấp hành đúng quy định của Luật Giao

thông đường bộ, cụ thể tại Điều 9 Luật giao thông đường bộ 2008 về những quy tắc

chung khi tham gia giao thông đường bộ, nhưng anh A cũng có một phần lỗi như

nhóm đã phân tích ở trên nên anh A cũng có trách nhiệm bồi thường về phần lỗi của mình Vì vậy, phán quyết này của Tòa án là phán quyết không phù hợp

- Điểm chưa hợp lý thứ hai :

“Tại bản tự khai và lời trình bày của bị đơn là anh Lê Văn R trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện: Anh thừa nhận xe ô tô biển số 69C -033.52 là do anh làm chủ Trước thời điểm tai nạn xảy ra, anh đang có chuyến công tác trong 3 tuần tại TP.HCM nên anh có giao xe cho anh Huỳnh Văn A quản lý và sử dụng Vào thời điểm xảy ra tai nạn, anh A đã điều khiển xe đi từ Cái Đôi Vàm lên Tắc Vân - Cà Mau Khi tai nạn xảy ra, anh không có mặt tại hiện trường nhưng theo các chứng cứ có tại hồ sơ và cơ quan điều tra, giao thông cung cấp thì do chị Trần Thị Đ chạy xe lấn qua phần đường bên trái theo chiều đi của mình nên mới xảy ra tai nạn Vì vậy, anh không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh C Tuy nhiên, trước đây anh có hỗ trợ cho anh C và gia đình 7.000.000 đồng, việc giao tiền chỉ giao trực tiếp không có làm giấy tờ gì Nay anh không có yêu cầu gì đối với số tiền trên”

Xét về yêu cầu khởi kiện của anh C là chồng của chị Đ yêu cầu anh R là chủ xe

và anh A là người điều khiển xe của anh R tại thời điểm xảy ra tai nạn có trách nhiệm liên đới bồi thường là chưa hợp lý Theo lời khai của anh R, trước đó do anh R phải

đi công tác dài ngày nên có nhờ anh A giữ xe hộ do không có điều kiện quản lý và anh A có thể sử dụng do hai người có mối quan hệ thân thiết với nhau từ trước Vì vậy trong thời gian anh R đi công tác thì đã giao cho A quyền quản lý và sử dụng chiếc xe Anh R và anh A có thể nói là đã thực hiện một giao dịch dân sự, nội dung là việc anh R giao cho anh A việc quản lý và cho phép sử dụng chiếc xe ô tô trong thời

gian anh R đi công tác Từ đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 188 và Điều 191

BLDS 2015 thì anh A lúc này đã có quyền chiếm hữu và quyền sử dụng đối với chiếc

xe ô tô - tài sản có chủ sở hữu là anh R

Vì vậy, khi xảy ra tai nạn, người chiếm hữu và sử dụng thực tế là anh A nên khi anh C yêu cầu anh R phải có trách nhiệm liên đới bồi thường là không hợp lý vì

Trang 7

anh R không có lỗi và hành vi giao xe cho A quản lý và sử dụng không trái đạo đức

xã hội, không vi phạm điều cấm của luật thì không thể yêu cầu R có trách nhiệm bồi thường Vì vậy, quan điểm của nhóm là tòa không chấp nhận yêu cầu là chưa hợp lý

mà nên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện là trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh ở anh A

Câu 3: Quan điểm về việc giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành:

Theo quan điểm của nhóm, kết hợp với những căn cứ tại Câu 2 của bài tập này,

nhóm đưa ra quan điểm giải quyết tranh chấp như sau: Chấp nhận một phần yêu cầu

khởi kiện của anh C.

Trước hết, nhóm chỉ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thanh C về việc yêu cầu anh Huỳnh Văn A bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm với số tiền 225.000.000 VNĐ, không đồng ý với việc yêu cầu anh Lê Văn R liên đới bồi thường Nhưng tại tòa anh C thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bồi thường 80.000.000VNĐ và không yêu cầu gì thêm nên nhóm sẽ chỉ giải quyết trên số tiền anh C yêu cầu bồi thường tại tòa là 80.000.000VNĐ

Về việc yêu cầu bồi thường của anh Lê Thanh C chỉ có căn cứ đối với anh

Huỳnh Văn A do A đã có hành vi xâm phạm tính mạng của chị Đ và theo Điều 584

BLDS 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại có quy định “Người

nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” thì anh A lúc này

đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Đ Nhưng do va chạm giao thông với anh A thì chị Đ đã tử vong tại chỗ nên việc nhận bồi thường thiệt hại sẽ chuyển sang cho anh C là chồng chị Đ và cũng là nguyên đơn trong vụ án

Xét thấy về trách nhiệm bồi thường trong vụ án này, cả hai bên đều có lỗi khi

để xảy ra tai nạn thương tâm với hậu quả chết người Cụ thể, lỗi của chị Đ là điều khiển xe lấn qua phần đường bên trái đi ngược chiều, sau đó va chạm với anh A điều

Trang 8

khiển xe đi với chiều ngược lại, nhưng qua căn cứ có trong lời khai và được nhóm phân tích ở câu 2 thì lỗi một phần cũng do anh A Lỗi của anh được thể hiện là thiếu phán đoán, quan sát trong hoàn cảnh thiếu ánh sáng, đi với tốc độ cao dẫn tới không thể xử lý tình huống kịp thời mặc dù đã có động thái là phanh oto Do vậy, chị Đ và anh A, mỗi người sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt về phần lỗi của mình

Qua nội dung vụ án và lỗi của từng người có thể thấy, việc để phát sinh ra tai nạn thương tâm do lỗi của chị Đ đã có hành vi vi phạm luật giao thông trước, sau đó mới phát sinh ra lỗi của A, vậy nên có thể xác định trách nhiệm bồi thường của chị Đ phải nhiều hơn anh A Cụ thể, chị Đ sẽ phải chịu 60% về mức yêu cầu bồi thường thiệt hại, anh A sẽ chịu 40% còn lại Cơ sở để nhóm có căn cứ bồi thường bắt nguồn

từ lỗi của chị Đ, mặc dù lỗi chị Đ nhiều hơn anh A nhưng phần hơn này là không đáng kể nên việc lấy một người trên mức 50%, một người dưới 50% là có cơ sở Do vậy, số tiền mà chị Đ phải chịu là 80.000.000 x 60%= 48.000.000VND, anh A phải chịu là 32.000.000VND

Về việc chủ xe là anh Lê Văn R có trách nhiệm liên đới bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của Lê Thanh C theo quan điểm của nhóm là không có căn cứ Tại thời điểm xảy ra tai nạn, anh R đã giao xe cho anh A quản lý và sử dụng, vậy nên việc phát sinh ra tai nạn hoàn toàn nằm ngoài khả năng của R Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cũng giống như một loại nghĩa vụ, bên gây thiệt hại có

nghĩa vụ bồi thường cho bên bị thiệt hại Theo Điều 275 BLDS 2015 về căn cứ phát

sinh nghĩa vụ :

“Điều 275 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

1 Hợp đồng.

2 Hành vi pháp lý đơn phương.

3 Thực hiện công việc không có ủy quyền.

4 Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

5 Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

6 Căn cứ khác do pháp luật quy định.”

Trang 9

Theo vụ án, thì căn cứ phát sinh nghĩa vụ sẽ thuộc khoản 5 điều này, nghĩa gây

ra thiệt hại và do hành vi trái pháp luật gây ra Để chứng minh được anh R có nghĩa

vụ liên đới bồi thường thì phải có căn cứ để nói anh R gây thiệt hại do hành vi trái luật của mình gây ra Trước hết, về hành vi gây thiệt hại thực tế thì chắc chắn không

có căn cứ vì lúc xảy ra tai nạn thì anh A là người trực tiếp điều khiển phương giao thông gây ra tai nạn, không phải anh R Vì anh R đã giao xe cho anh A như lập luận

đã nói ở câu 2 Do vậy, để phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới thì chỉ còn trường hợp anh R là người gián tiếp gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật Hành vi trái pháp luật gây thiệt hại gián tiếp của anh R có thể là hành vi giao xe trái với luật,

cụ thể là giao xe cho người khác mượn nhưng phải thuộc các trường hợp sau đây thì mới được coi là trái luật :

- Thứ nhất, giao xe cho người không đủ độ tuổi quy định theo Điều 60 Luật

Giao thông đường bộ 2008.

- Thứ hai, giao xe cho người không có giấy phép lái xe (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng) hoặc chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng

- Thứ ba, giao xe cho người không đủ sức khỏe theo quy định tại Phụ lục số 1

ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT

Khi có người được giao xe, điều khiển xe thuộc 1 trong 3 trường hợp trên mà gây ra thiệt hại thì chủ xe phải liên đới chịu trách nhiệm Nhưng trong vụ án, qua các bằng chứng, chứng cứ có tại tòa không đề cập đến anh A là người thuộc 1 trong 3 trường hợp trên, vậy nên không có căn cứ để khẳng định việc giao xe của anh R là trái luật, do đó cũng không có căn cứ để kết luận rằng anh R có lỗi gián tiếp trong việc gây ra tai nạn đối với chị Đ, từ đó cũng không phát sinh nghĩa vụ bồi thường

thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 275 BLDS 2015 Anh R không có trách nhiệm bồi

thường nhưng đã tự nguyện cùng với anh A bồi thường tổng số tiền 22.000.000 VNĐ nên về phần bồi thường này A và R tự thỏa thuận

Trang 10

Kết luận lại, theo quan điểm của nhóm, chấp chận một phần yêu cầu khởi kiện

của Lê Thanh C và A có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh C là 32.000.000VNĐ, anh Lê Văn R không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, vậy nên không phải liên đới bồi thường với anh Huỳnh Văn A

Câu 4: Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành:

Trên thực tế luôn tồn tại một quy luật khách quan của thực tiễn cho thấy rằng: khi một người nào đó gây ra thiệt hại (dù vô tình hay cố ý) thì phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mình gây ra đối với người bị thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ là quy tắc đạo đức mà đã được pháp điển hóa, ghi nhận thành một chế

định quan trọng trong BLDS năm 2015 theo khoản 1 Điều 584: “Người nào có hành

vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp

Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Đây là một hình thức trách nhiệm

dân sự được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lập ra nhằm mục đích buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại

1 Theo pháp luật hiện hành, cụ thể là Điều 585 BLDS 2015 quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, tại khoản 4 nêu rằng: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi

trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra” Áp dụng với trường hợp tại nội dung bản án, thiệt hại về tính mạng của chị Đ và

thiệt hại về sức khỏe của cháu M một phần lớn là do lỗi của bản thân chị Đ gây ra, đồng thời cũng có một phần lỗi của anh A (theo lập luận ở phần 2) Như vậy, theo luật thì chị Đ không được anh A bồi thường ở phần thiệt hại mà hành vi lấn làn của mình gây ra Nhưng vấn đề là làm thế nào, căn cứ vào đâu để xác định được mức độ lỗi của chị Đ so với mức độ lỗi của anh A, rồi từ đó xác định mức độ thiệt hại để đưa

ra mức bồi thường phù hợp mà anh A cần phải chịu trách nhiệm Đó là một vấn đề bất cập bởi hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn việc xác định mức độ lỗi trong trường hợp thiệt hại xảy ra do cả hai bên Do vậy, nhóm kiến nghị cần có một văn bản pháp luật cụ thể với nội dung: hướng dẫn việc xác định mức độ lỗi trong trường

Ngày đăng: 20/03/2022, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w