Trong tình hình hiện nay, khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước hết sức phức tạp, chịu sự tác động củanhiều yếu tố khác nhau thì các quy luật
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 3
1.1 Kinh tế thị trường và quy luật kinh tế thị trường 3
1.2 Hoạt động văn hóa 10
Quản lý Nhà nước về văn hóa 12
Chương 2.THỰC TRẠNG QUY LUẬT KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA 15
2.1 Tác động tích cực 15
2.2 Tác động tiêu cực 19
Chương 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VĂN HÓA TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY 23
3.1 Kiên trì tư tưởng xây dựng nền "văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" trong xu thế đa dạng hóa hình thái văn hóa 23
3.2 Tăng cường tầm kiểm soát vĩ mô của Nhà nước về lĩnh vực văn hóa và chuyển biến phương thức quản lý văn hóa 24
KẾT LUẬN 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 2đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu, giữ vai trò chỉ dẫn và chi phối cáchoạt động tư tưởng, lý luận và thực tiễn, được toàn Đảng toàn dân hết sức quantâm
Trong tình hình hiện nay, khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang diễn
ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước hết sức phức tạp, chịu sự tác động củanhiều yếu tố khác nhau thì các quy luật của kinh tế thị trường cũng chi phối tớitoàn bộ các ngành, lĩnh vực khác nhau, trong đó có văn hóa
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài “Phân tích quy luật kinh tế thị trường và tác động tới quản lý hoạt động văn hóa và công tác quản lý Nhà nước về văn hóa hiện nay” làm tiểu luận kết thúc môn học.
Trang 3NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Kinh tế thị trường và quy luật kinh tế thị trường
1.1.1.Kinh tế thị trường
Lịch sử của xã hội loài người trước hết là lịch sử của sự phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng làquá trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất Trong đó kinh tế thịtrường ra đời và tồn tại dựa trên yêu cầu tất yếu của lịch sử Bất kỳ xã hội nàomuốn tồn tại và phát triển cần phải có một tổ chức kinh tế - xã hội, đó là kinh tế
tự nhiên và kinh tế hàng hóa Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đầu tiên của
xã hội loài người, trong đó sản phẩm được sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu cánhân của người sản xuất trong một đơn vị kinh tế nhất định, người sản xuấtquyết định về số lượng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của mình, gắn vớiđiều kiện tự nhiên và phong tục tập quán cổ truyền, trình độ phân công lao động,công cụ lao động, phương thức tổ chức sản xuất còn rất thấp và giản đơn, sảnxuất mang tính tự cấp, tự túc, khép kín từng vùng, địa phương, lãnh thổ Nềnkinh tế tự nhiên chủ yếu tồn tại trong xã hội như công xã nguyên thủy, chiếmhữu nô lệ, phong kiến
Kinh tế hàng hóa ra đời từ kinh tế tự nhiên, kế tiếp của kinh tế tự nhiêntrên cơ sở phát triển của phân công lao động xã hội và tách biệt về kinh tế củanhững người sản xuất Kinh tế hàng hóa là hình thức kinh tế trong đó con ngườisản xuất sản phẩm không phải là để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình, mà lànhằm trao đổi buôn bán trên thị trường Vì vậy số lượng và chủng loại sản phẩmđều do người mua quyết định, việc phân phối sản phẩm được thực hiện thôngqua quan hệ trao đổi (mua bán) trên thị trường Kinh tế hàng hóa ra đời rất sớmvào thời kì tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, tồn tại trong nhiều phươngthức sản xuất mà hình thức đầu tiên của nó là kinh tế hàng hóa giản đơn Đó là
Trang 4kiểu sản xuất do những người nông dân, thợ thủ công tiến hành trên cơ sở tư hữunhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của chính bản thân người sản xuất, họtrực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau trên thị trường Khi quan hệ hàng hóa - tiền
tệ phát triển mạnh, đặc biệt là trong thời kỳ tan rã phương thức sản xuất phongkiến và quá độ sang chủ nghĩa tư bản kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thànhkinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa
Kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa là hình thức sản xuất hàng hóa caonhất, phổ biến nhất trong lịch sử dựa trên sự tách rời tư liệu sản xuất với sức laođộng Đặc điểm của nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa là dựa trên cơ sở chế
độ sử hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làmthuê Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trải qua hai giai đoạn: kinh tế thị trường tự do(cổ điển) và kinh tế thị trường hỗn hợp (hiện đại) Như vậy, sự ra đời và pháttriển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thànhkinh tế hàng hóa phát triển hay còn gọi là kinh tế thị trường một cách triệt để.Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa
tư bản Kinh tế thị trường phát triển cao dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và chế độ
xã hội chủ nghĩa Nhưng nền kinh tế thị trường trong xã hội xã hội chủ nghĩakhác hẳn với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tiêu chí nói lên sự khác biệtgiữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa chủ yếu là mục tiêucông bằng và tiến bộ xã hội Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tếthị trường lớn có quan hệ giữa người lao động làm thuê và người thuê lao động,
do đó dẫn đến tình trạng bất công, còn kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là nềnkinh tế trong đó phải thực hiện và đảm bảo được công bằng xã hội
Thực tế hiện nay trên thế giới chưa có nền kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa một cách hoàn chỉnh do chưa thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội.Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: sản xuấthàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nềnvăn mình nhân loại, tồn tại khách quan và cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ
Trang 5nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng Thực tiễn xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay cho thấy kinh tế thị trường không phải làđặc trưng riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà ngược lại nó đã có ở nhiều chế độ
xã hội khác nhau trong lịch sử Sự ra đời kinh tế tư bản chủ nghĩa chỉ đẩy kinh tếthị trường lên một giai đoạn phát triển cao hơn về chất, về cả quy mô, tính chất,mức độ bao quát của nó
Tiếp tục xu hướng tất yếu đó, nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội nói chung
và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng là một sự phát triển mang tínhphủ định biện chứng đối với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, từ đấy ra đờinền kinh tế thị trường mới về chất Nếu trong chế độ tư bản, kinh tế thị trườngđặt dưới sự quản lý của Nhà nước tư sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp tư sản,thì trong chủ nghĩa xã hội nền kinh tế thị trường nằm dưới sự quản lý của nhànước vô sản nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêugiải phóng con người, vì con người
Như vậy, kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao nhất của kinh tếhàng hóa, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đềuthông qua thị trường Kinh tế thị trường chỉ có thể được xác lập và phát triểntrên cơ sở đảm bảo những điều kiện sau: Thứ nhất, phải tồn tại nền kinh tế hànghóa Việc đẩy mạnh phân công lao động xã hội và đa dạng hóa các hình thức sởhữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm được coi là điều kiện tiên quyết
để phát triển kinh tế thị trường.Thứ hai, phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế, tự dosản xuất, tự do kinh doanh Đây là điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình giảiphóng sức lao động và điều hòa lợi ích giữa người mua và người bán, đồng thờigiúp cho thị trường tuân theo các quy luật kinh tế trong sản xuất và lưu thônghàng hóa.Thứ ba, nền kinh tế phải đạt đến một tình độ phát triển nhất định đượcthể hiện ở sự phát triển các ngành kinh tế thuộc hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vậtchất kĩ thuật cùng với hệ thống tiền tệ, phương tiện để lưu thông hàng hóa.Trong lịch sử thế giới, kinh tế thị trường xuất hiện như một tất yếu gắn với sự
Trang 6tồn tại của mọi quốc gia, là con đường dẫn đến giàu có, văn minh Thực tế, nềnkinh tế thị trường trên thế giới cho chúng ta thấy, các nước khác nhau có trình
độ kinh tế, kết cấu xã hội, phong tục tập quán và truyền thống không giống nhaunên cùng một mô hình kinh tế thị trường nhưng các thể chế kinh tế sẽ khác nhau.Chẳng hạn: ở Mỹ là kinh tế thị trường tự do, Công hòa Liên bang Đức là kinh tếthị trường xã hội, kinh tế thị trường kiểu Thụy Điển, ở Nhật kinh tế thị trườngcộng đồng, kinh tế thị trường chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc, kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Như vậy, không có mộtnền kinh tế thị trường nào là bản sao của nền kinh tế thị trường khác, mỗi nướccần phải tìm ra cho mình một thể chế kinh tế thị trường thích hợp, một cách thứcriêng để can thiệp vào thị trường, định hướng nền kinh tế đến mục tiêu mongmuốn, trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường
Tóm lại: kinh tế thị trường được coi là một kiểu tổ chức kinh tế
-xã hội, trong đó sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường, quan hệ kinh tế giữa người sản xuất và người tiêu thụ sản phẩm đều biểu hiện qua thị trường, qua việc mua bán sản phẩm với nhau.
Ở nước ta trong những năm qua nhờ chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế đã có những thay đổi căn bản và có những bước khởi sắc rõ rệt Điều đó khẳng định mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng vừa phù hợp với xu thế phát triển của thế giới vừa phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn
1.1.2.Quy luật kinh tế thị trường
Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá ở đâu
có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị
Trang 7Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quyluật kinh tế khác, các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giátrị mà thôi
Quy luật giá trị quy.ết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tínhiệu nhạy bén nhất của cơ chế thị trường
Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiếnhành trên cơ sở của việc hao phí lao động xã hội cần thiết: Trong sản xuất nó đòihỏi người sản xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệtxuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
Trong lĩnh vực sản xuất :Đối với việc sản xuất một thứ hàng hóa riêngbiệt thì yêu cầu của quy luật giá trị được biểu hiện ở chỗ: hàng hoá của ngườisản xuất muốn bán được trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận thì lượnggiá trị của một hàng hoá cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cầnthiết Đối với một loại hàng hoá thì yêu cầu quy luật giá trị thể hiện là tổng giátrị của hàng hóa phải phù hợp với nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội
Trong lĩnh vực trao đổi : Việc trao đổi phải tiến hành theo nguyên tắcngang giá Quy luật giá trị biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua sự vậnđộng của giá cả xung quanh giá trị Giá cả phụ thuộc vào giá trị, giá trị là cơ sởcủa giá cả, những hàng hoá có hao phí lao động lớn thì giá trị của nó lớn dẫn đếngiá cả cao và ngược lại Đối với mỗi hàng hoá thì giá cả hàng hoá có thể bằnghoặc nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị nhưng đối với toàn bộ hàng hóa của xã hội thìchúng ta luôn luôn có tổng giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị
Tác dụng của quy luật giá trị: quy luật giá trị tự phát điều tiết việc sảnxuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện quagiá cả trên thị trường
Trang 8Quy luật cung cầu
Cung phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hoá được sản xuất và đưa rathị trường để thực hiện (để bán) cung do sản xuất quyết định, nó không đồngnhất với sản xuất
Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã hội Do
đó, cầu không đồng nhất với tiêu dùng, vì nó không phải là nhu cầu tự nhiên,nhu cầu bất kì theo nguyện vọng tiêu dùng chủ quan của con người, mà phụthuộc vào khả năng thanh toán
Cung - Cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫnnhau trên thị trường, ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung - cầu tồn tại
và hoạt động một cách khách quan Cung - cầu tác động lẫn nhau:
Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu Cầu xác định khốilượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hoá những hàng hoá nào đượctiêu thụ thì mới được tái sản xuất Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầuthông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quycách và giá cả của nó
Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Đây là
sự tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau
Quy luật cung - cầu tác động khách quan và rất quan trọng Nếu nhậnthức được chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinhdoanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội Nhà nước có thểvận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tếnhư: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêudùng Để tác động vào các hoạt động kinh tế theo quy luật cung - cầu, duy trìnhững tỷ lệ cân đối cung - cầu một cách lành mạnh và hợp lý
Trang 9Quy luật canh tranh
Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm người, giữa ngườimua và người bán hay giữa người sản xuất và người tiêu dùng Hai nhóm nàytác động lẫn nhau với tư cách là một thể thống nhất, một hợp lực ở đây cá nhânchỉ tác động với tư cách là một bộ phận, một lực lượng xã hội, là một nguyên tửcủa một khối Chính dưới hình thái đó mà cạnh tranh đã vạch rõ cái tính chất xãhội của sản xuất và tiêu dùng
Bên canh tranh yếu hơn cả cũng đồng thời là cái bên mà ở đó mỗi cánhân đều hoạt động một cách độc lập với đông đảo những người cạnh tranh vớimình và thường thường là trực tiếp chống lại những người đó Chính vì sự phụthuộc lẫn nhau giữa một người cạnh tranh cá biệt với những người khác lại càngthêm rõ ràng Trái lại bên mạnh hơn bao giờ cũng đương đầu với đối phương với
tư cách là một chỉnh thể ít nhiều thống nhất
Người mua làm cho giá thị trường càng thấp, càng tốt Mỗi người chỉquan tâm đến đồng nghiệp trong chừng mực thấy đi với họ có lợi hơn việcchống lại họ
Khi một bên yếu hơn bên kia thì hành động chung sẽ chấm dứt, mỗingười sẽ tự lực xoay sở lấy Nếu một bên chiếm ưu thế thì mỗi người bên đó đều
sẽ được lợi, tất cả diễn ra như là họ cùng nhau thực hiện độc quyền chung vậy
Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá Cạnh tranh cótác dụng san bằng các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường
và giá cả sản xuất đều hình thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa cácngành
Tóm lại: Trong cơ chế thị trường, quy luật cạnh tranh như một công cụ,phương tiện gây áp lực cực mạnh thực hiện yêu cầu của quy luật giá trị, cạnhtranh trong một cơ chế vận động chứ không phải cạnh tranh nói chung
Trang 10Quy luật lưu thông tiền tệ :
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền cần cho lưuthông Lượng tiền cần cho lưu thông chính bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hoávới tốc độ lưu thông tư bản
Trong thực tế: lượng tiền cần cho lưu thông bằng tỷ số giữa tổng giá cảhàng hóa trừ đi tổng tiền khấu trừ, trừ đi tổng giá cả bán chịu cộng với tổng tiềnthanh toán với tốc độ lưu thông tư bản
Quy luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau:
Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hànghoá quyết định
Tiền đại diện cho người mua, hàng đại diện cho người bán Lưu thôngtiền tệ có quan hệ chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ
Kinh tế hàng hoá trên một ý nghĩa nhất định có thể gọi là kinh tế tiền tệ,quyết định cơ chế lưu thông tiền tệ
Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế xuất nhậpkhẩu, cơ chế quản lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng
Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động,san bằng thì quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng vàtiền
Ngoài ra còn một số loại quy luật khác như: quy luật tỷ suất lợi nhuận có
xu hướng giảm, quy luật khủng hoảng kinh tế , quy luật tâm lý… cũng ảnhhưởng đến cơ chế thị trường
1.2 Hoạt động văn hóa
Hoạt động văn hóa là quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xãhội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiêu dùng những giá trịtinh thần nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của
Trang 11con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con ngườitrong xã hội Hoạt động văn hóa là một hệ thống các hoạt động như nghệ thuật,kiến trúc, hội họa… đó là các quá trình sáng tạo của con người Các hoạt độngsáng tạo ấy hình thành nên hệ thống các giá trị, thị hiếu là những yếu tố xác địnhđặc tính riêng của mỗi dân tộc Khác hẳn so với các hoạt động kinh tế, chính trị,
xã hội, HĐVH mang một màu sắc rất riêng, sự khác biệt đó được thể hiện quacác đặc điểm như: - Hoạt động văn hóa là hoạt động tinh thần tức là hoạt động
có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm của mọi người, vì thế đây cũng làmột vấn đề tương đối nhạy cảm - Sản phẩm của HĐVH là các giá trị tinh thần
mà các cá nhân hay cộng đồng sáng tạo ra thỏa mãn nhu cầu tinh thần thiết yếucủa con người - Các nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm của hoạt động văn hóakhông chỉ ở dạng vật thể mà còn ở dạng phi vật thể (như kiến thức, quan điểm,
tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ, kinh nghiệm…)
Trong quá trình sáng tạo con người đã sử dụng các “nguyên liệu” này đểtạo ra sản phẩm phục vụ cho chính mình và toàn xã hội Giống như các sảnphẩm thông thường khác, sản phẩm của hoạt động văn hóa cũng có giá trị, giátrị sử dụng, giá trị trao đổi, song sản phẩm này còn có các giá trị khác như: Giátrị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị văn hóa, nói cách khác là những giá trị chínhtrị xã hội Một nét đặc thù nữa làm nên sự khác biệt giữa HĐVH và các hoạtđộng xã hội khác đó chính là đặc thù của sự sáng tạo, những giá trị văn hóa tinhthần từ những tác phẩm văn hóa, khuôn mẫu văn hóa đến những chương trìnhvăn hóa Sự sáng tạo giá trị văn hóa là một quá trình sản xuất tinh thần đặc biệt,không tuân thủ hoàn toàn máy móc theo quy trình công nghệ sản xuất nhữngdạng sản phẩm vật chất Quy trình sản xuất những giá trị văn hóa có khi chỉ domột cá nhân thực hiện, có khi do cả một tập thể thực hiện
Hơn nữa, kết quả hoạt động sáng tạo văn hóa còn tùy thuộc đáng kể vàotài năng, năng khiếu của người sáng tạo và khó mà lượng giá được Giá trị sửdụng hay hiệu quả tác động của sản phẩm văn hóa sáng tạo cũng khó có thể
Trang 12đánh giá và lượng hóa được trong thời gian và không gian Chỉ có thể biết rằng,
sự sáng tạo giá trị văn hóa là một quá trình sản xuất tinh thần đặc biệt, hiệu quảtác động của nó theo cấp số nhân về tinh thần và nó cũng mang giá trị vật chất ởmức độ nào đó Hoạt động văn hóa là một hoạt động đa dạng và phức tạp Sự đadạng phức tạp đó nó được thể hiện dưới những lĩnh vực văn hóa cụ thể Cóngười cho rằng, HĐVH như là công cụ, phương tiện để giáo dục tư tưởng, chínhtrị xã hội cho con người Có người nhấn mạnh khía cạnh văn hóa đáp ứng nhucầu hoạt động vui chơi giải trí của con người Có người quan niệm HĐVH nhưmột sự góp phần, trang trí thêm cho cuộc sống Có người quan niệm HĐVH là
“cờ đèn kèn trống”… Tất cả những nhận thức này mới nhìn chúng ta cứ tưởngmỗi người có một lý đúng riêng, nhưng thực tế thì HĐVH nó bao gồm tất cảnhững yếu tố, thuộc tính đó Sự đa dạng, phức tạp còn được thể hiện trong chínhbản thân hoạt động văn hóa Tuy lĩnh vực ngành văn hóa không lớn lắm nhưnglại rất nhiều loại hình hoạt động, đa dạng, đa dòng cả về khía cạnh sắc tộc vàkhía cạnh tâm linh, nhiều tầng, nhiều thành phần văn hóa và nhiều xu thế khácnhau Nó vừa ở trạng thái động vừa ở trạng thái tĩnh, vừa sôi động, vừa trầmlắng, tâm tư, vừa trông thấy vừa không trông thấy - như một nhà khoa học đãtừng nói: Văn hóa là cái còn đọng lại sau khi quên đi những cái khác Bên cạnh
đó, HĐVH không chỉ dừng lại ở hoạt động văn học nghệ thuật hay kiến trúc,một dạng nào đó phải làm ra sản phẩm… mà nó còn là mọi hoạt động trongphạm vi, nếp sống, lối sống, đạo đức xã hội Trong thời đại ngày nay đòi hỏi conngười có chất lượng cao về trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, đạo đức, lối sống, bảnlĩnh, đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cao, đa dạng phong phú về tinhthần, tình cảm nhiều hơn so với trước đây Cái chính yếu của HĐVH là nhữnghoạt động nhằm xây dựng tinh thần, tình cảm cho con người
1.3.Quản lý Nhà nước về văn hóa
Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục có tổ chức, có chủđích của nhà nước bằng hệ thống pháp luật vào bộ máy của mình, nhằm phát
Trang 13triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnhvực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị vănhóa truyền thống Việt Nam, tiếp thu tin hoa văn hóa nhân loại, Xây dựng nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sốngvật chất và tin thần của người dân Đó là sự tác động của Nhà nước đối với vănhóa thông qua việc tổ chức điều kiện mọi hoạt động của văn hóa nhằm điềuchỉnh, hoàn thiện và phát triển nó trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy Nhà nước trong lĩnh vựchành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt nam Hay nóicách khác, quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý các hoạt động văn hóa baogồm các mảng cơ bản sau: quản lý nhà nước đối với văn hóa nghệ thuật; quản lýnhà nước đối với văn hóa, quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa Đó là côngviệc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện,kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnhvực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội của từng địaphương nói riêng và cả nước nói chung
Bản chất của quản lý nhà nước về văn hóa là khẳng định quyền lực củaNhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa nhằm khơi dậy, hướngdẫn và tổ chức các hoạt động văn hóa, tập hợp và phát huy các nguồn lực nhằmthúc đẩy sự sáng tạo, sản xuất, trao đổi và hưởng thụ các giá trị văn hóa Quản lýnhà nước về văn hóa phải khuyến khích khuynh hướng phát triển văn hóa lànhmạnh, tạo thế chủ đạo cho khuynh hướng theo đường lối của Đảng và Nhà nước
ta hiện nay Để làm được điều đó, nhà nước cần xây dựng một cơ chế quản lývăn hóa chặt chẽ về nguyên tắc nhưng lại không gò bó, đảm bảo quyền tự do,dân chủ cho Nhân dân
Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước tronglĩnh vực hành pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam.Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý các hoạt động văn