Trong thực tế rất nhiều doanh nghiệp hiện nay tuy hiểu rõ vấn đề đạo đức kinh doanh, nắm vững các yếu tố cấu thành đạo đức kinh doanh nhưng vì mục đích lợi nhuận hay vì mục đích riêng củ
Trang 1Mở bài
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cạnh trạnh gay gắt hiện nay Các doanh nghiệp cần phải nỗ lức, cạnh tranh và phát huy tính sáng tạo để đưa doanh nghiệp của mình tồn tại và phát triển Vấn đề đạo đức kinh doanh trong kinh doanh ảnh hưởng thế nào với doanh nghiệp Trong thực tế rất nhiều doanh nghiệp hiện nay tuy hiểu rõ vấn đề đạo đức kinh doanh, nắm vững các yếu
tố cấu thành đạo đức kinh doanh nhưng vì mục đích lợi nhuận hay vì mục đích riêng của doanh nghiệp nên vấn đề đạo đức kinh doanh không được coi trọng Các doanh nghiệp không hiểu rằng đạo đức kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Từ thực tế các nhà kinh tế đã chứng minh rằng lợi nhuận doanh nghiệp gắn liền với đạo đức doanh nghiệp, mức lợi nhuận của doanh nghiệp tỉ lệ thuận với mức tăng đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, khi không hiểu rõ và thực hiện đứng và hơn nữa chuẩn mực đạo đức kinh doanh của các doạnh nghiệp khó có thể đi đến con đường thành công trong tương lại
Đạo đức kinh doanh chính là yếu tố quan trọng góp phần sự tin tưởng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Tăng sự tin tưởng, lòng trung thành của nhân viên Điều chỉnh hành vi của doanh nhân, nâng cao hình ảnh và lợi nhuận doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp muốn thành công bền vững cần nâng cao đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp của mình và chúng em sẽ chọn tìm hiểu về đề
tài: “Tìm hiểu và phân tích một trường hợp vi phạm đạo đức kinh doanh của một Doanh nghiệp và cụ thể ở đây là trường hợp của Asanzo”.
Trang 2Phần 1: Cơ sở lý thuyết về đạo đức kinh doanh
1 Khái niệm:
- Đạo đức:
+ Đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong mối quan hệ với người khác, với xã hội - Chuẩn mực đạo đức: độ lượng, chính trực, khiêm tốn, dũng cảm, tín, thiện,…
- Đạo đức kinh doanh:
+ Đạo đức kinh doanh là một khái niệm mới được hình thành các đây ba bốn chục năm Nhà nghiên cứu đạo đức kinh doanh Norman Bowie là người đầu tiên đưa ra khái niệm này trong một hội nghị khoa học vào năm 1974 Kể từ đó , đạo đức kinh doanh trở thành một chủ đề phổ biến trong giới kinh doanh, các tổ chức , người lao động, người tiêu dùng và từ đó đạo đức kinh doanh được lan truyền rộng rãi trên toàn thế giới
+ Xuất phát từ thực tiễn kinh doanh
+ Ở phương tây đạo đức kinh doanh xuất phát từ những tín điều trong tôn giáo: sự trung thực, sự chia sẻ,…
+ Những năm 70s trở thành vấn đề được nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến hối
lộ, quảng cáo lừa gạt, an toàn sản phẩm…
+ Những năm 90s thể chế hóa đạo đức kinh doanh; DN phải có trách nhiệm với những việc làm của mình
Khái niệm: Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh
+ Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh doanh
+ Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp có tính đặc thù của hoạt động kinh doanh
- Đối tượng điều chỉnh của đạo đức kinh doanh là các chủ thể kinh doanh Theo nghĩa rộng thì đó là tất cả những ai là chủ thể của các quan hệ và hành vi kinh doanh:
Trang 3+ Doanh nhân:
Đạo đức kinh doanh điều chỉnh hành vi đạo đức của tất cả các thành viên trong các tổ chức kinh doanh (hộ gia đình, công ty, xí nghiệp, tập đoàn) như Ban giám đốc, các thành viên Hội đồng quản trị, công nhân viên chức
Sự điều chỉnh này chủ yếu thông qua công tác lãnh đạo, quản lí trong mỗi tổ chức đó Đạo đức kinh doanh được gọi là đạo đức nghề nghiệp của họ
+ Khách hàng
Khi là người mua hàng thì hành động của họ đều xuất phát từ lợi ích kinh tế của bản thân, đều có tâm lí muốn mua rẻ và được phục vụ chu đáo
Tâm lí này không khác tâm lí thích "mua rẻ, bán đắt" của giới doanh nhân, do vậy cũng cần phải có sự định hướng của đạo đức kinh doanh để tránh tình trạng khách hàng lợi dụng vị thế "thượng đế" để xâm phạm danh dự, nhân phẩm của doanh nhân, làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức
+ Các chủ thể khác có liên quan
Tất các cả chủ thể khác có liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh như: chính phủ, cơ quan tổ chức, cộng đồng, …
2 Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh:
Hoạt động kinh doanh gắn liền với lợi ích kinh tế, nền đạo đức kinh doanh cũng có những đặc trưng riêng của nó Chẳng hạn, tính trung thực, coi trọng hiệu quả kinh tế luôn là yêu cầu hàng đầu đặt ra với giới kinh doanh, thì đối với người khác đôi khi lại là những biểu hiện không tốt Khi đánh giá đạo đức kinh doanh, người ta thường dựa vào các nguyên tắc và chuẩn mực về:
a Tính trung thực
Dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh, nhất quán nói và làm Trung thực trong chấp hành luật pháp của nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm; thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục, trung thực trong giao tiếp với bạn hàng và người tiêu dùng; không làm hàng giả, khuyến mãi giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nổi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp, trung thực ngay với bản thân, không hối lộ, tham ô,
Trang 4b Tôn trọng con người
Với những người cộng sự và dưới quyền: tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiền năng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác
+ Đối với khác hàng: tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng
+ Đối với đối thủ cạnh tranh: tôn trọng lợi ích của đối thủ
c Gắn lợi ích của DN với lợi ích của KH và xã hội
Luôn gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của xã hội
Tích cực góp phần giải quyết những vấn đề chung của xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển
d Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt.
3 Vai trò
- Đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết hợp với pháp luật điều chỉnh các hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực đạo đức xã hội Không một pháp luật nào, dù là hoàn thiện đến đâu đi chăng nữa có thể là chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinh doanh Nó không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc khuyến khích mọi người làm việc thiện, tác động vào lương tâm của doanh nhân Bởi vì phạm vi tác động của đạo đức rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần, trong khi pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi liên quan đến chế độ nhà nước, chế độ xã hội, Mặt khác, pháp luật càng đầy đủ, chặt chẽ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, càng hạn chế sự kiếm lời phi pháp
Sự tồn vong của một doanh nghiệp không chỉ cung ứng, nó còn phụ thuộc chủ yếu vào phong cách kinh doanh của doanh nghiệp Hành vi kinh doanh thể hiện
tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trưc tiếp đến sự thành bại của tổ chức Trong chiều hướng ấy, đạo đức kinh doanh trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp
- Góp phần làm tăng chất lượng hoạt động của doanh nghiệp.
Phần thưởng của một công ty có quan tâm đến đạo đức bao gồm hiệu quả trong các hoạt động ngày càng cao, sự tận tâm của các nhân viên, chất lượng sản phẩm được cải thiện, đưa ra những quyết định đúng đắn hơn, sự trung thành của khách hàng và lợi ích kinh tế lớn hơn Các tổ chức phát triển được một môi trường trung
Trang 5thực và công bằng sẽ gây dựng được nguồn lực đáng quý có thể mở rộng cách cửa dẫn đến thành công
- Góp phần vào làm tăng sự cam kết và tận tâm của nhân viên với công việc.
Sự tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc các nhân viên tin tưởng rằng tương lai của họ gắn liền với tương lai của doanh nghiệp và chính vì thế họ sẵn sàng hi sinh cá nhân vì tổ chức của mình Doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến nhân viên bao nhiêu thì nhân viên tận tâm với doanh nghiệp bầy nhiêu
- Làm cho khách hàng hài lòng.
Các nghiên cứu của các quốc gia cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hành vi có đạo đức và sự hài lòng của khách hàng Các hành vi vô đạo đức có thể làm giảm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẽ chuyển sang mua hàng ở các thương hiệu khác, ngược lại hành vi đạo đức có thể lôi cuốn khách hàng đến với sản phẩm của công ty Các khách hàng thích mua sản phẩm của công ty có danh tiếng tốt, quan tâm đến khách hàng và xã hội Khách hàng nói rằng sẽ ưu tiên những thương hiệu nào làm điều thiện nếu giá cả và chất lượng các thương hiệu
là như nhau
- Tạo ra lợi nhuận bền vững cho doanh nghiệp.
Theo một nghiên cứu tiến hành với 500 tập đoàn lớn nhất ở Mỹ thì những doanh nghiệp cam kết thực hiện các hành vi đạo đức và chú trọng đến việc tuân thủ những quy định đạo đức nghề nghiệp thường đạt được những thành công lớn về mặt tài chính Hai giáo sư John Kotter và James Heskett ờ Trường Đào tạo quản
lý kinh doanh thuộc Harvard, tác giả cuốn sách "Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích", đã phân tích những kết quả khác nhau ở các công ty với những truyền thống đạo đức khác nhau Công trình nghiên cứu của họ cho thấy, trong vòng 11 năm, những công ty đạo đức cao đã nâng được thu nhập của mình lên tới 62,8%
- Góp phần làm tăng uy tín của thương hiệu quốc gia
Các thể chế xã hội, đặc biệt là cá thể chế thúc đẩy tính trung thực, là yếu tố vô cùng quan trọng để phát triển sự phồn vinh về kinh tế của một xã hội Các nước phát triển ngày càng trở nên giàu có hơn vì có một hệ thống các thể chế, bao gồm đạo đức kinh doanh, để khuyến khích năng suất Trong khi đó, tại các nước đang phát triển, cơ hội phát triển kinh tế và xã hội bị hạn chế bởi độc quyền, tham nhũng, hạn chế tiến bộ cá nhân cũng nhưng phúc lợi xã hội Trong môi trường toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, đạo đức kinh doanh góp phần đảm bảo cho thương hiệu của doanh nghiệp, sự phát triển lớn mạnh của doanh nghiệp sẽ làm tăng uy tín của thương hiệu quốc gia
Trang 6- Những doanh nghiệp và tổ chức có đạo đức kinh doanh tốt là cơ sở để khách
hàng và đối tác tin tường và tín nhiệm
Đạo đức kinh doanh là yếu tố nền tảng tạo nên sự tin câ ̣y của đối tác, khách hàng
và người tiêu dùng đối với doanh nghiê ̣p Đạo đức kinh doanh chính là cơ sở để xây dựng lòng tin, sự gắn kết và trung thành của đô ̣i ngũ cán bô ̣ công nhân viên trong doanh nghiê ̣p, bảo đảm từ lãnh đạo đến toàn thể cán bô ̣ công nhân viên trong doanh nghiê ̣p có những ứng xử đúng chuẩn mực đạo đức, qua đó không ngừng nâng cao hình ảnh, uy tín và thương hiê ̣u của doanh nghiê ̣p Sự tồn vong, phát triển cũng như lợi nhuâ ̣n của doanh nghiê ̣p chính là do người tiêu dùng quyết định, do đó doanh nghiê ̣p muốn đạt được tỷ suất lợi nhuâ ̣n cao và thành công bền vững thì phải xây dựng được nền tảng đạo đức kinh doanh cho doanh nghiê ̣p mình
Phần 2: Đạo đức kinh doanh của một doanh nghiệp
(cụ thể là Asanzo)
Trang 71 Thực trạng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam
Đạo đức kinh doanh là một vấn đề mới ở Việt Nam Các vấn đề như đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp… mới chỉ nổi lên kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới và tham gia vào quá trình quốc tế hóa
và toàn cầu hóa vào năm 1991 Trước đó, trong thời kinh tế kế hoạch tập trung, những vấn đề này chưa bao giờ được nhắc tới
Trong thời kỳ bao cấp, mọi hoạt động kinh doanh đều do Nhà nước chỉ đạo, vì thế những hành vi có đạo đức được coi là những hành vi tuân thủ lệnh cấp trên
Do khan hiếm hầu hết hàng hóa tiêu dùng, để mua được đã là rất khó, nên không ai có thể phàn nàn về chất lượng hàng hóa
Vì cầu vượt quá cung, chất lượng phục vụ trong mạng lưới cung cấp vô cùng thấp nhưng ít người dám than phiền
Hầu hết lao động đều làm việc cho nhà nước, nơi mà kỷ luật và chế độ lương thưởng đều thống nhất và đơn giản Tìm được việc làm trong cơ quan Nhà nước
là rất khó khăn nên không có chuyện đình công hay mâu thuẫn lao động
Mọi hoạt động trong xã hội đều phải tuân thủ quy định của Nhà nước nên những phạm trù trên là không cần thiết
Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam tham gia quốc tế hóa, có nhiều phạm trù mới được xuất hiện như: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, đình công, thị trường chứng khoán… và vì thế khái niệm đạo đức kinh doanh trở nên phổ biến hơn trong xã hội
Qua kết quả phân tích các số liệu điều và những tài liệu thu thập qua sách báo, chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau về thực trạng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam
2 Nhận thức của người Việt Nam về đạo đức kinh doanh
Cho đến nay, có rất ít sách chuyên môn về đạo đức kinh doanh được xuất bản ở Việt Nam, và hầu hết là được dịch từ sách của Mỹ
Do áp lực của tiến trình toàn cầu hóa, các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam đề cập khá nhiều đến vấn đề này nhưng lại không đưa ra được một khái niệm chuẩn mực nào
Mặc dù thường được nghe về đạo đức kinh doanh nhưng cách hiểu của người dân, của các doanh nghiệp về vấn đề này còn khá mơ hồ Chính sự hiểu biết mơ hồ này về đao đức kinh doanh đã dẫn đến những thiếu hụt trong thực thi của doanh nghiệp
Trang 83 Trách nhiệm của doanh nghiệp với xã hội (corporate social responsibility -
CSR)
3.1 Khái niệm Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp
- Cam kết của DN đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của
XH
- Trách nhiệm XH là nghĩa vụ mà một DN phải thực hiện đối với XH Có trách nhiệm với XH là tăng đến mức tối đa các tác động tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với XH
3.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
+ Nghĩa vụ kinh tế: DN phải sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ XH cần, thoã mãn các nhà đầu tư, phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, phát hiện tài nguyên mới
- Đối với người lao động: tạo công ăn việc làm, thù lao xứng đáng, cơ hội phát triển nghề nghiệp, chuyên môn, môi trường làm việc
- Đối với người tiêu dùng: cung cấp hàng hoá, dịch vụ an toàn, chất lượng, thông tin về sản phẩm, định giá, hệ thống phân phối, bán hàng, cạnh tranh
- Đối với chủ SH: bảo tồn, phát triển các giá trị và tài sản được uỷ thác
+ Nghĩa vụ pháp lý: thực hiện đầy đủ quy định về pháp luât, điều tiết cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, an toàn bình đẳng, khuyến khích phát hiện sai trái
+ Nghĩa vụ đạo đức: là những hành vi và hoạt động mà XH mong đợi ở DN nhưng không được quy định trong hệ thống pháp luật, không được thể chế hoá thành luật Khía cạnh đạo đức thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong sứ mệnh và chiến lược của công ty + Nghĩa vụ nhân văn: là những hành vi và hoạt động thể hiện mong muốn đóng góp cho cộng đồng và XH
4 Công ty Asanzo
4.1 Giới thiệu
+ Asanzo là thương hiệu sản xuất những dòng sản phẩm điện máy, điện tử hàng đầu tại thị trường Việt nam, trụ sở đặt tại KCN Vĩnh Lộc (Bình Chánh – HCM)
Trang 9+ Những dòng Tivi Led do Asanzo sản xuất mang hình ảnh trung thực, mẫu mã đẹp, và cái quan trọng nhất là giá rẻ hơn những dòng tivi khác trên thị trường mà chất lượng có thể nói như nhau
+ Mới xuất hiện không lâu trên thị trường điện máy điện tử, Asanzo đang bước đầu xây dựng thương hiệu sản xuất Tivi và những dòng sản phẩm điện gia dụng giá rẻ, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu đi nước ngoài
+ Tivi Asanzo tuy thương hiệu mới trên thị trường, những đã gây được tiếng vang nhất định bởi chính sách giá bán “rẻ không ngờ” Nhiều người còn phải thốt lên:
“sao rẻ thế” Sản phẩm được người tiêu dùng đón nhận ưu ái bởi giá thành vừa phải và chất lượng tốt
+Với chính sách bảo hành 24 tháng, Tivi Asanzo sẽ là “bạn đồng hành” của mọi gia đình Việt
+ Hiện tại chúng tôi đang cung cấp các sản phẩm tivi mang thương hiệu Asanzo tại Hà Nội với chất lượng cao và giá cả hấp dẫn cùng với đó là chế độ chăm sóc khách hàng, hậu mãi cực tốt
4.2 Thực trạng đạo đức kinh doanh
Bộ Tài chính xác định Asanzo có 4 vi phạm gồm vi phạm liên quan đến xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu (giả mạo nhãn hiệu), vi phạm liên quan đến cáo buộc "lừa dối người tiêu dùng", vi phạm liên quan đến xuất xứ hàng hóa, hành vi vi phạm về trốn thuế
- Dấu hiệu vi phạm "lừa dối người tiêu dùng":
+Quy trình lắp ráp một số sản phẩm của Asanzo không đúng như quảng cáo Đơn
vị này có 12 dãy bàn dài 30 m, rộng 1,4 m (diện tích 45 m2), mỗi bàn để vừa một tivi 50 inch, 1 phòng kiểm tra bảng mạch với 8 máy tính và 8 người làm việc Việc lắp ráp được thực hiện thủ công bằng cách bắt vít, không lắp cấu hình chính Dãy bàn này vừa lắp tivi, vừa lắp điều hòa nhiệt độ
+ Theo ghi nhận của hải quan, lắp 1 tivi cần 12 người và 30 phụ trợ với thời gian
30 phút Sau khi lắp xong được đóng vào các bao bì mang nhãn hiệu Asanzo có kèm logo, in ngôn ngữ tiếng Việt, mã số vạch Việt Nam sau đó bán cho 19 công
ty khác để đưa ra thị trường nội địa
+ "Đối chiếu với các video quảng cáo trên truyền thông có hình ảnh dây chuyền lắp ráp tivi bằng các thiết bị hiện đại với thực tế tại cơ sản xuất của Asanzo không đúng như quảng cáo", Phó tổng cục trưởng Hải quan nói và cho biết thêm, việc sử
Trang 10dụng cụm từ "Đỉnh cao công nghệ Nhật Bản" trên một số sản phẩm cũng không đúng với thực tế
- Dấu hiệu vi phạm giả mạo nhãn hiệu
+ Hiện tại, Asanzo chưa thanh toán dịch vụ như trong hợp đồng đã ký kết với công ty Sharp Roxy Hong Kong ngày 24/1/2017 do chưa xin được xác nhận của
Bộ Khoa học & Công nghệ về việc chuyển giao công nghệ
+ Tham dự cuộc họp, đại diện Bộ Khoa học & Công nghệ cho biết, đã có công văn trả lời Asanzo, theo hợp đồng chưa có nội dung thể hiện chuyển giao công nghệ nên chưa thể cấp giấy chứng nhận
- Dấu hiệu vi phạm về xuất xứ hàng hóa
+ "Hiện chưa có một quy định cụ thể để điều chỉnh quy định hàng hoá lưu thông trong nước tỷ lệ nội địa thế nào
+ Bộ Công Thương đang rất thận trọng trong việc xây dựng dự thảo xuất xứ hàng hóa trong nước nên khó để kết luận
+ Bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm xác nhận chứng từ thương mại Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) cũng cho biết chưa thể trả lời Asanzo có gian lận xuất xứ hàng hóa tiêu thụ tại Việt Nam hay không Lý do
là Việt Nam chưa có quy định cụ thể
+ Bộ Tài chính cho rằng, Asanzo đã vi phạm về gia công chế biến đơn giản; hàng hoá không có xuất xứ Việt Nam khi xuất khẩu Cơ quan chức năng đã kiểm tra 3
tờ khai của Công ty cổ phần đầu tư Công nghệ điện tử Asanzo xuất khẩu 661 tivi Asanzo các loại và các bộ phận đi kèm như khung treo, điều khiển cho khách hàng tại Nhật, trên tờ khai xuất xứ Việt Nam
+ Theo số liệu kiểm tra, xác minh của quản lý thị trường, tỷ lệ nguyên vật liệu chính, chi phí giá thành chiếm 98-99%, giá trị gia tăng tạo ra sau lắp ráp quá thấp chỉ chiếm 1-2% Do đó, Hải quan cho rằng, mặt hàng tivi xuất khẩu mang nhãn hiệu Asanzo chỉ thực hiện lắp ráp đơn giản Các bộ phận để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh không đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam theo quy định tại Nghị định
31 và có dấu hiệu giả mạo xuất xứ hàng xuất khẩu
+ Đại diện VCCI cung cấp thêm thông tin rằng chưa tiếp nhận hồ sơ khai báo tư nhân của tập đoàn Asanzo, nghĩa là doanh nghiệp này chưa đến VCCI để đăng
ký Do đó, đơn vị này chưa có thông tin và VCCI chưa cấp C/O cho Asanzo xuất hàng đi nước ngoài